Hôm nay, vô tình xuống tầng hầm (bên Đức đa số nhà thường có tầng ở dưới tầng trệt gọi là „Keller“, thường là nơi để hệ thống lò sưởi, máy giặt, những két nước, đồ khô, đồ hộp, hoặc các thứ đồ dùng ít xài đến) thấy mấy cái va-li đóng bụi nằm xếp xó, tự dưng thèm „lê va-li“, không phải „les valises“ tiếng Pháp mà là … kéo va-li chạy xềnh xệch ở phi trường để kịp bắt chuyến bay sắp cất cánh.
Bấm ngón tay thì thấy đại dịch Vũ Hán đã trói chân tôi hơn hai năm nay rồi.
Chợt nhớ bài Paradise của Meduza:
Oh, my, my, my
There’s a thousand miles between you and I
Oh, my, my, my (my, my, my)
Just a thousand miles between me and paradise
We’re all scared to fly, still we try
Learn to be brave, see the other side
Won’t you lead me there? Have no fear
Close your eyes, find paradise
Ôi, hỡi ôi,
Thiên đường ngàn dặm cách xa
Em đưa tay với ngỡ là thiên thu
Sợ gì mà chẳng phiêu lưu
Thiên đường ngàn dặm, phù du cuộc đời
Trong bài Paradise, ban tam ca Meduza đã thành công khi lồng một giai điệu gợi lên sự khao khát tìm thấy thiên đường xa diệu vợi:
Have no fear
Close your eyes, find paradise
Đừng sợ hãi
Hãy khép mắt lại, tìm thiên đường ước mơ
Meduza để thính giả tự chọn định nghĩa cho thiên đường của mình, nó có thể là một người, một địa điểm, hoặc chỉ là một ý tưởng tuyệt đẹp về một điều gì đó. Vì vậy, ai cũng có thể cảm nhận được giai điệu của bài hát với nội dung sâu sắc nhưng dùng từ đơn giản, vần điệu nhịp nhàng.
Ai cũng ước mơ tìm thấy thiên đường của mình. Tôi cũng vậy, nên tôi đã nghêu ngao hát bài Paradise suốt ngày chủ nhật hôm nay. Và tôi đã tìm thấy thiên đường của mình:
When the dark has gone, the morning’s won
We’re gonna feel something different
It will set you free, if you just tell me
Every secret, I’ll listen
Kategorie: Sonstiges
C’était mon rêve, c’était Gérard
Người Việt có một thú tiêu khiển rất … Á châu là … hát Karaoke mỗi khi có hội họp bạn bè.
Mùa dịch, hết nước này ra lệnh giới nghiêm, nước kia „nội bất xuất, ngoại bất nhập“, nước nọ hò hét yêu cầu chích ngừa chống cúm v.v. Tức là chấm dứt luôn màn Party ăn uống, chè chén, ca hát.
Không tụ tập được thì ta hát ở nhà một mình rồi thảy lên „phơi“ (Facebook) cho bạn bè thưởng thức. Cũng có cái hay là chỉ có „Ngón-Cái-Giơ-Lên“ (like) chứ không có những „Ánh-Mắt-Kém-Thiện-Cảm“ ra vẻ dè bỉu, chê bai.
Trong những bài hát „ca ra là ô kê“ đó có bài „Sonia“ của Patrick Duvet do một người bạn từ thủ đô ánh sáng mới thảy lên „phơi“, còn ướt át, chưa khô, một trong những bài hát tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.
Hồi đó thích Sonia vì điệu nhạc nhịp nhàng, dễ hát theo. Bây giờ sang đây, thấm thía thế nào là „le vent froid de sa steppe natale“ (gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em), nghe đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi mỗi lần hè đến lại gào lên „Nóng quá!“, mới thấy lời tự tình của Patrick Duvet thật là đẹp.
Elle était venue comme une étoile
Pareille à celle des nuits de mai
Le vent froid de sa steppe natale
La suivait comme une mère
Une mère
C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Était-ce un songe que j’ai inventé
Pour un été?
C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Son cœur de cendres a brûlé mes doigts
Encore j’en tremble
Elle n’avait pu se faire à l’idée
Que mon pays fait parfois l’été
Au doux soleil des mille ciels bleus
Je devais lui allumer
Un grand feu
Em đã đến như một vì sao sáng
Của những đêm tháng Năm
Gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em
Quyện bước chân như vòng tay người mẹ
Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Em có phải là giấc mơ anh hằng ao ước
Cho một mùa hè oi bức
Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Trái tim tro tàn của em làm cháy bỏng ngón tay anh
Làm run rẩy tình anh
Có lẽ em không hề tưởng tượng được
Rằng quê hương anh có cả mùa hạ
Trong ánh nắng dịu dàng của trời hè xanh ngát
Anh đã đốt cho em ngọn lửa tình nồng cháy
Nữ ca sĩ Dalida có trình diễn bài này, nhưng đổi thành „Illia“ là tên dành cho con trai.
Tôi cũng bắt chước Dalida, ném bông hồng „bis, bis“ (nữa đi, nữa đi) lên sân „phơi“ nhờ người bạn „đổi hệ“ cho bài hát mà tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.
Con rùa biển xanh
Nghe lời thầy Menne, thầy dạy tiểu học của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi, khuyên nên tập cho trẻ con có thói quen đọc sách, tôi đã mua cho nó quyển truyện đầu tiên „Momo“, tác giả là Michael Ende, kể về một cô bé lôi thôi, lếch thếch, sống ở ngoại ô một thành phố lớn, giữa những đống gạch đổ nát của một hí trường. Cô bé chả có gì cả ngoài những gì mình tìm thấy, nhặt được hoặc người ta bố thí cho, nhưng cô lại sở hữu mội tài năng phi thường: Cô lắng nghe mọi người và cho họ thời gian.
Một ngày nọ, trong thành phố dần dần xuất hiện bóng dáng những người đàn ông trông thật lịch lãm với gương mặt vô cảm trên làn da màu xám tro, đội mũ phớt màu xám tro, mặc áo vét màu xám tro, bước xuống từ những chiếc xe hơi đắt tiền cũng màu xám tro. Họ tự giới thiệu là đại lý của ngân hàng tiết kiệm có kỳ hạn. Họ tính toán cho mọi người biết có thể tiết kiệm được bao nhiêu thời gian nếu loại bỏ những hoạt động được cho là vô ích ra khỏi cuộc sống của mình. Tiết kiệm thời gian là sẽ kiếm được lãi suất cao.
Mọi người đua nhau tiết kiệm thời gian: Họ làm việc nhanh hơn, gấp gáp hơn và không cho phép mình nghỉ ngơi hay vui chơi. Ngay cả trong thời gian rảnh rỗi, họ cũng không tìm thấy sự bình yên. Nhưng mặc dù háo hức tiết kiệm thời gian, họ ngày càng có ít thì giờ hơn. Bởi vì trên thực tế, các ông mặc áo màu xám tro đang lừa đảo và đánh cắp thời gian quí giá của con người. Momo là kẻ duy nhất có thể ngăn chặn ý đồ đen tối của những tên ăn trộm thì giờ ấy.
Đương nhiên lúc bấy giờ đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi chưa đủ i-tờ để đọc quyển truyện dày khoảng 300 trang đó nên tối nào tôi cũng ráng nhướng mắt lên đọc cho nó nghe dù sức lực đã tàn sau một ngày làm việc mệt mỏi. Hơn nữa, nó chỉ thích nghe tôi đọc thôi, lý do tại sao thì xin xem „Đại bàng“ (nhấn vào đây để xem), một truyện ngắn dạng âm thanh (audiobook), đăng trên YouTube Channel „Góc Nhỏ Hạnh Phúc“ (nhấn vào đây để xem).
Nay thì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đã có thể tự mua sách về đọc. Tôi chỉ còn đóng vai người dọn vệ sinh, tức là có nhiệm vụ đem những quyển nó đã đọc xong về tặng lại thư viện thành phố hay xếp vào tủ làm kiểng. Một trong những quyển để làm kiểng này là „Das Café am Rande der Welt“ (Original: The Why Café) của John Strelecky, một câu chuyện triết lý về ý nghĩa của cuộc sống, trong đó có đoạn cô bồi bàn Casey kể về việc cô đã gặp một con rùa biển với những đốm màu xanh lục khi đi lặn nổi trong kỳ nghỉ mát tại Hạ-Uy-Di.
Tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận ra rằng mình không thể bơi nhanh như chú rùa ấy, mặc dù trông nó di chuyển khá chậm. Thỉnh thoảng nó dùng chân làm chèo quạt quạt vài cái rồi lại thả mình trôi theo dòng nước. Tôi được trang bị với hai chân vịt to để trợ lực đẩy mỗi khi tôi muốn tiến về phía trước. Tôi cũng không bị áo phao hay bất cứ thứ gì làm giảm vận tốc bơi của mình. Vậy mà con rùa biển cứ ngày càng cách xa tôi hơn, cho dù tôi có cố gắng đến thế nào đi nữa. Sau chừng mười phút nó chỉ còn là một đốm nhỏ. Kiệt sức, thất vọng và xấu hổ vì thua kém một chú rùa, tôi quay ngược trở vào bờ.
Ngày hôm sau tôi bơi ra chỗ cũ với hi vọng lại nhìn thấy những con rùa biển xanh đẹp mắt. Tôi kiên nhẫn đứng chờ dưới nước khoảng 30 phút thì thấy một đàn cá nhỏ màu vàng chấm đen ùa đến. Và một chú rùa. Tôi quan sát nó bơi quanh quẩn ở một cụm san hô gần bờ. Lúc nó rời khu vực ấy, quay ngược trở về biển khơi, tôi cũng sải theo nó. Tôi lại ngạc nhiên lần nữa khi thấy mình không thể theo kịp nó và ngừng thôi không đạp xoành xoạch hai cái chân vịt nữa. Tôi thả mình theo dòng nước cuốn, mắt không rời chú rùa. Ngay chính lúc đó, con rùa biển xanh đã cho tôi một bài học quan trọng trong đời.
Lúc tôi ngừng đạp chân vịt và thả mình trôi lững lờ, tôi chợt khám phá ra rằng con rùa đã điều chỉnh các động tác của nó sao cho phù hợp với chuyển động của dòng nước. Khi bị một cơn sóng vỗ vô bờ đập vào mặt nó, nó sẽ tự thả mình trôi theo và chỉ quạt chèo vừa đủ để giữ vị trí của mình. Và khi làn sóng chảy ngược ra biển, nó lấy hết sức chèo thật nhanh, tận dụng sự chuyển động của nước theo hướng có lợi cho mình. Con rùa không bao giờ chiến đấu với sóng biển, mà dùng sức đẩy của sóng để tiến xa hơn.
Tôi không thể theo kịp con rùa biển xanh vì tôi cứ cố gắng đập liên tục hai cái chân vịt xòe to, bất kể nguồn nước chảy theo hướng nào. Thoạt đầu thì điều ấy không gây trở ngại gì và tôi có thể bơi song song với chú rùa để ngắm những đốm xanh lục trên mình nó được sắp xếp ngoạn mục không theo một bản mẫu nào. Thỉnh thoảng tôi còn phải bơi chậm lại nữa. Nhưng dần dần tôi cảm thấy càng ngày càng vất vả hơn khi cố sức chống chọi với những con sóng kéo ngược tôi trở vào bờ. Và vì vậy tôi không còn đủ sức để tận dụng đợt sóng xuôi ra hướng biển khơi nữa. Những cơn sóng liên tục ào vào bờ rồi lại cuộn ra khơi cứ tiếp nối như thế không ngừng, và tôi càng ngày càng đuối sức, không thể bơi nhanh như trước nữa. Con rùa biển xanh thì khác, nó điều chỉnh chuyển động của mình để thích nghi với sóng biển một cách tối ưu và vì thế đã bỏ xa tôi.
Tôi ngẫm ra rằng con rùa, à quên, con rùa biển với những đốm xanh lục, đã dạy cho tôi một bài học: Nếu ta không tập trung vào những việc ta muốn, ta có thể lãng phí năng lượng của mình vào rất nhiều thứ khác. Khi có cơ hội để làm những gì ta muốn, ta không còn sức lực hoặc thời gian để làm điều đó nữa.
Tôi có một danh sách ghi những điều tôi dự định sẽ làm khi bước vào tuổi hưu trí.
Gấp sách lại, bỏ kính lão xuống, tôi lấy cái danh sách đó ra và gạch bỏ điều đầu tiên trên đó. Tôi sẽ bắt đầu thực hiện điều ấy vào … ngày mai.
Vô gia cư ở Los Angeles
Ngày xửa ngày xưa, có hai người bạn đang ngồi trên băng ghế công cộng trước một bãi đậu xe lớn ở Los Angeles. Họ làm gì ở đó nhỉ?
Đã có nhiều bài viết về sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới. Đối với tôi, sự khác biệt chủ yếu là: Các bà vợ đi mua sắm và các đấng lang quân ngồi lang … bang trên băng ghế công cộng, đâu đó ở gần cửa tiệm. Một trong những đấng lang quân ngồi lang bang đâu đó ở gần cửa tiệm là tôi, người kia là chồng của bạn vợ tôi.
Chúng tôi làm gì ở đó? Đàn ông thường không thích ngồi lê đôi mách, nói văn hoa là tán gẫu, nên chúng tôi đã làm cái mà đàn ông luôn chiếm giải quán quân: Không phải đậu xe đâu nhé, mà là ngồi quan sát thiên hạ de xe tới lui rồi cười khoái chí khi thấy họ vất vả mới lùi được xe vào đúng chỗ đậu. Băng ghế nơi chúng tôi chọn thật là lý tưởng cho cái việc không công rồi nghề này.
Tôi không nhớ chúng tôi đã ngồi ở đó bao lâu, bởi vì, giống như phụ nữ chẳng bao giờ coi đồng hồ trong khi mua sắm, chúng tôi cũng quên mất thời gian đóng vai khán giả vô tình thả hồn trên băng ghế công cộng trước một bãi đậu xe lớn. Bỗng – không thể nhớ là lúc nào vì thiên hạ đậu xe lại hay dời xe đi cũng không theo một chu kỳ nào nhất định cả – một phụ nữ từ trong cửa tiệm bước ra, lỉnh kỉnh với nhiều túi hàng và trên tay cầm một chiếc áo sơ mi đàn ông sặc sỡ, loại áo chim cò kiểu Hạ-Uy-Di. Bà ta tiến thẳng về phía chúng tôi, dáng dấp trông có vẻ đe dọa, nhưng vì có hai người nên chúng tôi không lấy làm sợ hãi lắm. Khoảng cách cứ ngắn dần một cách nhanh cấp kỳ, và khi chỉ còn cách chừng vài thước, người phụ nữ bắt đầu lầm bầm nói điều chi đó. Tôi không thể nhớ đó là ngôn ngữ gì, nhưng có thể là tiếng Anh, vì cứ khoảng ba chữ thì tôi hiểu được một. Anh bạn ngồi cạnh tôi sinh ra ở Việt Nam nhưng sống ở Mỹ hơn 30 năm cũng cảm thấy như vậy, điều đó khiến tôi bình tĩnh hơn một chút khi nghĩ đến khả năng tiếng Anh của mình. Một lúc sau, người phụ nữ vẫn tiếp tục liến thoắng với cái tiếng mà tôi chỉ Ba-Hiểu-Được-Một kia và dúi chiếc áo sơ mi chim cò vào tay tôi. Sau đó, bà ta quay mặt bỏ đi trong im lặng, không líu lo như trước nữa.
Chúng tôi ngồi đực mặt ra đấy, ngỡ ngàng, bối rối, vì chúng tôi nghĩ do sự xáo trộn này chúng tôi có thể bỏ sót một chi tiết nào đó trong những màn ly kỳ đang diễn ra tại bãi đậu xe. Sau khi hoàn hồn trở lại từ cú sốc ấy, chúng tôi kiểm tra lại món quà rõ ràng không phải dành cho người Việt Nam có chiều cao từ 1,70m đến 1,80m, mà là dành cho những người từ 1,95m đến 1,96m, tức là dành cho tôi. Vì vậy, chiếc áo sơ mi chim cò nhanh chóng được liệt vào thuộc quyền sở hữu của tôi.
Tôi đã thu thập được bài học gì qua câu chuyện này? Rất đơn giản: Lần sau, khi cần quần áo mới, tôi sẽ phải suy nghĩ kỹ về cái lợi và hại giữa việc đi mua sắm với vợ và việc ngồi trên một băng ghế công cộng quan sát cảnh thiên hạ đậu xe để rồi được tặng một chiếc áo sơ mi chim cò trong một hoàn cảnh thật là kỳ quái.
Lựa chọn thứ hai chắc chắn rẻ tiền và dễ dàng hơn nhiều.
Homeless in Los Angeles
Es saßen einmal zwei Freunde auf einer Parkbank vor einem großen Parkplatz in LA. Warum waren sie dort?
Es wurde schon viel über die Unterschiede zwischen Frauen und Männer geschrieben. Für mich ist der Hauptunterschied: die Ehefrauen gehen shoppen und die Ehemänner sitzen auf einer Parkbank in der Nähe des Geschäftes. Stimmt, einer von den obengenannten Freunden, war ich, der andere war der Ehemann der Freundin meiner Frau.
Was taten wir da? Miteinander quatschen ist nicht so’n Ding zwischen Männern, also machten wir das, was Männer am Besten können: Nein, nicht Autos einparken, sondern anderen beim Parken zusehen und uns darüber lustig machen. Aus diesem Grund war der von uns ausgewählte Platz ideal.
Ich weiß nicht mehr wie lange wir dort saßen, weil genauso wie Frauen beim Shoppen das Zeitgefühl verlieren, vergaßen wir auch auf unserer Zuschauertribüne die Zeit. Auf jeden Fall kam irgendwann, während des Zusehens vom „Einparken zusehen und kommentieren“, eine Frau aus einem Geschäft. Sie war mit mehreren Einkaufstüten und einem Art Hawaiihemd in der Hand bewaffnet und kam direkt auf uns zu. Sie wirkte zwar bedrohlich, aber weil wir zu zweit waren, hatten wir keine außergewöhnliche Angst. Aus mehreren Metern, deren Anzahl sich rapide verringerte, fing die Frau etwas zu sagen. Ich weiß nicht mehr in welcher Sprache sie redete, aber es könnte Englisch gewesen sein, denn ich verstand etwa jedes dritte Wort. Mein Sitznachbar, der zwar in Vietnam geboren war, aber seit mehr als 30 Jahren in den USA lebte, erging es genauso, was mich einwenig hinsichtlich meiner Englischkenntnisse beruhigte.
Nach kurzer Zeit stand die Dame noch immer etwas sagen vor uns und gab uns das erwähnte Hawaiihemd. Anschließend drehte sie sich um und ging, diesmal schweigend, wieder weg.
Da saßen wir beide nun. Verwirrt, weil wir ahnten, dass wir auf dem Parkplatz durch diese Störung wahrscheinlich etwas verpasst haben. Nach diesem anfänglichen Schock prüften wir nun diese Gabe, dass eindeutig nicht für Vietnamesen zwischen 1,70m und 1,80m Körperlänge gemacht worden ist, sondern eher für Leute zwischen 1,95m und 1,96m, also eher für mich. Aufgrund dieser Fakten ging das Hawaiihemd in meinem Besitz über.
Welches Lernziel habe ich durch dieses Erlebnis erreicht? Ganz einfach: Beim nächsten Mal, wenn ich Kleidung brauche, werde ich genau zu überlegen, welche Vor- und Nachteile es hat, mit meiner Frau shoppen zu gehen oder auf einer Parkbank einen Parkplatz zu beobachten und dabei ein Hemd auf skurrile Weise erhalten.
Die zweite Möglichkeit ist auf jeden Fall günstiger und müheloser.
Dối lòng
Sáng nay, con bạn tôi gởi một bài thơ mà giả thuyết tác giả là người Thổ Nhĩ Kỳ có xác xuất cao nhất, dù khá nhiều người quả quyết là của Shakespeare hay Bob Marley:
You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.
You say that you love the wind,
But you close your windows when wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too.
Trong những bài dịch tôi thích nhất bài dịch theo phong cách Hồ Xuân Hương:
Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa
Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!
(không rõ tác giả)
Dịch Vũ Hán làm nhiều người bị „cấm túc“
Bần cùng sinh đạo tặc
Cầm chân … há miệng kêu
Không đi đâu được thì ta ở nhà dọn dẹp, lau chùi, giặt giũ, làm việc gà què ăn quẩn cối xay, hay nếu sợ lao động sẽ mòn „bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa“ thì ta làm … thơ, phong cách … Nguyên Sa với Áo lụa Hà Đông, Tháng sáu trời mưa, hay mượn „gió đông“
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
trong Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ.
Dối lòng
Anh bảo nhớ suốt đời mưa tháng sáu
Nắng Sài Gòn mơn áo lụa Hà Đông
Sao ẩn mình khi trời giận nổi giông
Sao che dù, đeo kính, nép bóng râm?
Gió có lạnh anh cầm tay em chặt
Sao ô cửa anh cài tránh đông phong?
Nên em sợ lời anh nói mặn nồng
Biết xa nhau anh có nhớ em không?
À, tôi có diễm phúc sở hữu học bạ của một học sinh trường Chu Văn An Sài Gòn, có ghi tên giáo sư dạy triết là Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.
Tôi không chỉ yêu thơ của Nguyên Sa, tôi cũng rất thích môn Triết-học (Philosophy) nữa.
Hồi ký của Ngoại
Vào cuối đời, ông ngoại tôi có viết hồi ký về cuộc đời của Ngoại, và mẹ tôi đã đem nó theo trong hành trang đi đoàn tụ gia đình ở Đức vào ngày 23 tháng 11 năm 1983. Tôi có đọc qua một lần, rồi quên khuấy đi mất vì mãi lo chạy đua với cơm, áo, gạo, tiền. Nay, con cái đã trưởng thành, thêm vào đó, kỹ nghệ tân tiến giúp ta có thể tự xuất bản sách mà không phải lo ngay ngáy là chi phí in ấn ứng ra liệu có thu về hòa vốn hay không, tôi chợt nghĩ đến việc ghi chép, hiệu đính lại hồi ký của Ngoại, vì nó được đánh máy trên giấy pelure mỏng, đã vàng úa theo thời gian, không biết còn giữ được bao lâu nữa.
Công việc lúc đầu đơn giản chỉ là dùng bàn phím để gõ nội dung vào sách. Tôi làm cho xong, không cảm thấy hứng thú lắm. Càng ngày, do phải truy cứu thêm về địa danh, hình ảnh, phong tục, sự kiện lịch sử v.v. mà Ngoại đề cập đến trong hồi ký, tôi càng bị cuốn hút vào cái „miền bắc xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi“ của một trăm năm trước. Do chưa một lần đặt chân ra đất Bắc, nên với tôi, „Hà Nội ba sáu phố phường“ thật là cổ kính, mê hoặc qua những bức ảnh đã ố màu:
Rủ nhau chơi khắp Long thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
Từ hình ảnh ông đồ với cái tráp hoặc ruột tượng, trường Bưởi ở ven hồ Tây, trường nữ sinh ở phố Hàng Cót, tóc móng lừa, trà Ninh Thái …, tôi làm quen dần với đường Jules-Ferry, rue de Takou, rue du Riz, rue du Papier, le Vieux Théâtre (hí viện đầu tiên của Hà Nội), mỉm cười với bài thơ tứ tuyệt ngộ nghĩnh viết bằng Pháp ngữ của nam sinh „thứ ba học trò“ trường Bưởi:
Bonjour mademoiselle Brequel,
Permettez-moi de faire l’appel.
S’il manque quelqu’un, Lequel?
Bonjour mademoiselle Brequel.
Trong bản hiệu đính lại, tôi giữ cách dùng từ của Ngoại, chỉ viết thêm trong ngoặc nếu khó hiểu hoặc do phát âm của từng miền mà cách viết khác đi. Tôi cũng thêm phần Phụ Lục là những tiểu tiết bên lề có đôi chút liên quan đến những địa danh, phong tục v.v., được đề cập đến trong hồi ký của Ngoại.
Tôi thỉnh thoảng hay làm thơ, từ lục bát tả chị … hàng xóm:
Chị Hiền ở cạnh nhà tôi
Mắt đen lay láy, đôi môi luôn cười
Hàm răng trắng nõn thật tươi
Bàn tay xinh xắn như mười nàng tiên
đến thất ngôn tứ tuyệt mơ về một „người tình không chân dung“:
Ai gọi thu về xua nắng hạ
Cho phượng vỹ buồn khóc tuổi hoa
Con đường lá me không xanh nữa
Tình anh thôi cũng bớt mặn mà
Nhưng tôi chỉ làm được một bài duy nhất về Mẹ:
Mẹ là ánh sáng mặt trời
Soi đường con bước, dạy lời con thưa
Mẹ là hạt nước cơn mưa
Nuôi con khôn lớn sớm trưa chẳng hà
Mẹ là muôn vạn nụ hoa
Cho con hương thắm mặn mà tuổi xuân
Quyển sách này là món quà mà tôi muốn gởi tặng Mẹ, người đã dành cả tuổi xuân để nuôi nấng, dạy dỗ hai chị em tôi nên người.
Aza Lee
Sách xuất bản tại lulu.com:

PS: Trong hồi ký, Ngoại viết: „Tôi cũng muốn, nếu thể hiện được, sẽ tặng mấy bạn học cũ của tôi, trước hết là anh bạn nội trú nói trên mà tôi rất cảm phục tính cần cù và năng động trong lãnh vực văn học, mặc dù niên kỷ đã vượt quá xa cái mức „cổ lai hi“, sau là tặng bạn tiểu học cũ của tôi ở Phúc Yên cùng tôi còn sống đến ngày nay.“
Aza Lee mạn phép đăng tên những người Ngoại nhắc đến trong hồi ký. Nếu ai biết hậu duệ, con cháu của các vị này, xin vui lòng liên lạc với Aza Lee qua lee.aza44@yahoo.de để nhận sách tặng và giúp Aza Lee thực ước nguyện của Ngoại nói trên, dù Ngoại đã không còn nữa.
CÁC BẠN ĐÀN ANH
1- Ái (con cụ Hàng Phở)
2- Đạm (con cụ Án Nguyễn Doãn Thạc)
3- Phạm Tất Đắc (con cụ Đồ Chưng), Saigon
4- Cao Doãn Dịch (con cụ Phán Nhẫn), chết
5- Chu Xuân Giản (con cụ Thủ Nam), chết
6- Đặng Văn Minh (con cụ Đồ Túc)
7- Minh (Lưu Văn Minh?), cháu cụ Lang Hồ
8- Vũ Huân (con cụ Phán Nguyên), chết
9- Hiếu (con cụ Hội Sửu)
10- Vũ Thấp Hy (con cụ Cử An Bài), Saigon
11- Đỗ Như Ngọc (em ông Giám đốc nhà xuất bản Mai Lĩnh)
12- Bùi Thế Quang (em cụ Khoa, lục sự tòa án Đ.N.C Phúc Yên), chú thích: Đ.N.C. là viết tắt của Đệ Nhị Cấp
13- Phạm Vũ Sinh, chết
14- Tuyên (quê xã Nhuế Khúc)
15- Thụy, Vĩnh Yên
16- Vinh (con cụ Ký Đen)
CÁC BẠN CÙNG LỨA TUỔI
1- Ái (trọ phố Dinh)
2- Trần Gia Am (con cụ Hội viên Tường), chết
3- Bằng (con cụ Đồ Dực)
4- Bập (con cụ Cai bẻ ghi tàu), chết
5- Cơ (con cụ Bếp Toàn)
6- Bủng (con bà bán hàng xén)
7- Chu Xuân Chạc (con cụ Thủ Nam), chết
8- Chắn (con cụ Kèn Ngữ)
9- Vũ Tá Chiểu (con cụ Hải Nam)
10- Trần Q. Đình (con cụ Phán Trần Huệ Viễn), chết
11- Dương (con cụ Phó Tiện)
12- Giai (con Bà Văn Tháp Miếu)
13- Vũ Tá Hân (con cụ Hải Nam)
14- Trịnh Hiện (con cụ Nghĩa Lợi), chết
15- Học (con cụ Ký Ban)
16- Cao Nhật Hoàn (con cụ phán Nhẫn), chết
17- Nguyễn Thị Hồng (con cụ Phán Giới), Saigon
18- Vương Văn Hợi (con cụ Cai Ai), chết
19- Ích (con cụ Tư Hồ)
20- Bùi Như Ý (cháu Bà Giám binh VINCENTI)
21- Kính (cháu cụ chủ Bưu điện Ngoạn)
22- Kháng (con cụ Nghị Truyền Sáp Mai)
23- Lăng (con cụ Hậu Bỗ Mậu Lâm)
24- Liên (con cụ Cả Bò), chết
25- Mầu (cháu ông Thú y đương thời tỉnh Phúc Yên)
26- Minh (cháu cụ Trợ Khoan)
27- Nghĩa (con cụ Tỵ hàng cơm)
28- Phán (con cụ Cai Ba Nhàn)
29- Phưởng(cháu cụ giáo Chinh)
30- Quảng (con cụ Đề Nhung)
31- Quý (con quan huyện đương thời ở Kim Anh)
32- Trịnh Như San (con cụ Ba Khoát), chết
33- Võ Hoàng San (con Bà Xếp Cát), chết
34- Vũ Minh Tâm (cháu Bà Ba Điếc), chết
35- Tĩnh, tức Paul Menu (con bà Cẩm Béo)
36- Cao Thiện (quê huyện Văn Lâm, Hưng Yên), Saigon
37- Phạm Chí Thọ (con cụ Quản Trạch ở Nội Đông, Phúc Yên)
38- Thực (con ông Phó Tiện)
39- Trị (con cụ Nghị Truyền)
40- Đặng Đình Vân (con cụ đội Lâm nhà Đoan, quê Hải Dương)
41- Vũ Nam Việt (con cụ Phán Nguyên), Canada
Tính ra tôi đã nhớ được 57 bạn.
(trích từ trang 57-60)
Parler à mon père
Votre père, notre grand ami, était pour nous un homme simple, discret, généreux, plein d’esprit et d’humour, mais aussi un conteur extraordinaire et un homme très cultivé. Épris de la culture et de la langue française, amoureux de poésie en particulier, poète lui-même. Grand lecteur des poésies vietnamienne, chinoise et française, qu’il connaissait très bien, il y a puisé toute sa délicatesse, son art de vivre et son sens de l’humanité. C’était un être rare donc, que nous avons eu la chance de rencontrer et avec qui nous aimions beaucoup échanger. Un ami fidèle enfin qui plaçait l’amitié à un très haut niveau. Toute cette richesse humaine qu’il y avait en lui est le bel héritage qu’il vous laisse en partant.
Aujourd’hui, il sait ce qu’il en est de la suite du monde. Moi je l’ignore, mais je suis sûr qu’où qu’il puisse être, il sera bien reçu. Et c’est là qu’il nous attendra …
Anne et Jacques-Bernard
Datenschutzerklärung Webseite gem. DSGVO
Singapore – Niềm tin phong thủy
Tôi thường hay viết Blog về những nơi tôi đã đi qua, một phần như người ta dán hình kỷ niệm vào quyển sưu tập ảnh, phần khác để ghi lại vài chi tiết bổ ích không có trong những bài đánh giá liên quan đến du lịch trên các trang Web như TripAdvisor, Holidaycheck v.v.
Tôi đi Singapore vì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi có nguyện vọng đến thăm lại nơi nó năm ngoái cùng vài bạn học thay mặt trường Maastricht University tham gia kỳ thi đua giữa các Đại Học Kinh Tế trên toàn thế giới, nhưng không đủ thời gian để tìm hiểu nhiều hơn về đất nước được mệnh danh là „Con sư tử châu Á“ này.
Nếu bạn hỏi cụ Gồ về Singapore – theo Phạn-Ngữ „Singha“ có nghĩa là sư tử và „Pura“ có nghĩa là thành phố – thì có muôn ngàn bài viết tán dương đất nước với lịch sử lập quốc chỉ mới hơn 50 năm, từ một thành phố nhỏ nằm trong quần đảo Mã-Lai nay trở thành cường quốc với trung tâm kinh tế mang tầm vóc quốc tế.
À, nhân đây tôi xin mạn phép kể lại một chuyện bên lề trong chuyến đi chơi này. Vốn hướng dẫn viên du lịch có khi dùng chữ „người Hoa“ để nói về nhóm sắc tộc đông dân số nhất tại Singapore (hơn 76%), rồi lúc lại gọi là „người Trung“, „người Tàu“ v.v. nên đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thắc mắc. Tôi đã được một thằng bạn „đả thông kinh mạch“ rồi nên dạy lại cho nó rằng người Tàu tự nhận mình là người „Hoa“, tức là đọc tắt của nước Hoa Hạ, theo truyền thuyết là nước phong kiến đầu tiên. Thực sự trước đó, họ là các bộ tộc sống trên đất Tào, đại tộc trưởng là vua Nghiêu, dân sống ở khu vực Tào, gọi là Tào mín (Tào dân). Phía nam của Ngũ Lĩnh, là đất Mân và đất Nam, gọi chung là vùng Mân-Nam chưa khai phá, các bộ tộc sống ở đất Mân gọi là Mần mín (Mân dân), các bộ tộc sống ở đất Nam gọi là Nàm mín (Nam dân), còn chủng là chủng Yue (Việt).
Người „ba Tàu“ đúng ra là từ chữ „bô đào dân“ (Pô Tào mín) mà ra. Vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 17, khoảng 1670, lúc đó bên Trung Hoa là triều Đại Thanh. Dân Trung Hoa không chấp nhận bị dân Mãn Châu đô hộ, mới có phong trào „Phản Thanh – Phục Minh“. Nhà Thanh đem quân đi càn quét những nhóm sĩ phu kháng chiến, nhất là các nhóm Tụ Nghĩa Đường, Thiên Địa Hội, Hắc Kỳ Quân (giặc cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc), Huỳnh Kỳ Quân (giặc cờ vàng của Hoàng Sùng Anh). Bị càn quét đuổi tận giết tuyệt, dân Tàu chống nhà Thanh và sĩ phu yêu nước phải bỏ chạy sang Lào theo ngã Vân Nam-Yun Nan, sang Việt Nam theo ngã Lai Châu, Tuyên Quang và Ải Nam Quan. Ngoài ra còn một số sang Việt Nam bằng thuyền, đến Hội An và Hải Phòng. Khi họ sang Việt Nam, không biết ý tứ của triều đình nhà Lê là thân nhà Thanh hay thân nhà Minh, cứ nói mình là „bô đào dân“, „pô tào mín“ là chắc ăn nhất. Người „ba Tàu“ từ đó mà ra.
Trở lại với „Con sư tử châu Á“.
Nói đến Singapore thì không thể không nhắc đến Lý Quang Diệu (Lee Kwan Yew), một chính khách với lòng yêu nước nồng nàn. Ông là người duy nhất trong lịch sử đã khóc khi tuyên bố quốc gia được độc lập, vì vào thời điểm đó bị tách rời khỏi liên bang Malaysia có nghĩa là Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và không có tài nguyên thiên nhiên. Là người gốc Hoa (Hạ) ông đã khôn ngoan áp dụng niềm tin vào phong thủy của dân Singapore để đưa những dự án xây dựng đất nước đến thành công vượt bực, cũng như xưa kia danh tướng Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến đánh đuổi quân nhà Tống nói rằng ông được thần ban cho bốn câu thơ:
Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm-phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đánh giặc.
Các điểm tham quan du lịch của Singapore đều mang dấu ấn phong thủy như biểu tượng Singapore là con cá có đầu sư tử (còn gọi là Merlion) phun nước vào đất liền không ngừng nghỉ nhờ hệ thống bơm hiện đại, lỡ một máy bị trục trặc thì máy kia sẽ thay thế để tránh tình trạng „tiền ngưng chạy vào túi“.
Hoặc trung tâm thương mại „Suntec City“ gồm 5 cao ốc, nhìn từ trên cao trông như bàn tay trái với chiếc nhẫn vàng nằm trong lòng bàn tay là „Đài phun nước Thịnh Vượng“ (The Fountain of Wealth) làm bằng đồng với niềm tin của sự kết hợp Kim – Thủy, biểu tượng cho thắng lợi, thành công. Điều đặc biệt là thay vì phun lên cao, nước lại được phun xuống dưới và tụ vào trong với ý nghĩa của cải sẽ tụ hội về nơi này.
Khách du lịch đến Singapore hẳn ai cũng được nghe kể về huyền thoại đồng Đô-La-May-Mắn. Tương truyền, do việc kiến thiết đường tàu điện ngầm MRT (Mass Rapid Transit) gặp rất nhiều trục trặc, thủ tướng Lý Quang Diệu đã hỏi ý một thầy phong thủy và được ông ta bấm quẻ cho biết khu vực có địa chất phức tạp gây trở ngại trong việc xây dựng chính là lưng của một con rồng lớn. Mũi khoan đụng vào là nó cựa mình nên mọi thứ đều đổ bể. Để trấn yểm rồng ngủ yên, toàn dân Singapore ra đường đều phải đeo một hình bát quái trên người. Nhưng ở Singapore khá nhiều người theo Ấn độ giáo và sẽ không đời nào chấp nhận phong tục đậm màu Phật giáo này. Sau một thời gian bàn luận với nội các, Lý Quang Diệu đã cho đúc một loại tiền xu 1 Đô-La có hình bát quái, như vậy người dân từ giàu tới nghèo ai cũng mang trong mình lá bùa yểm rồng.
Tôi được khuyên nếu đến Singapore du lịch và sở hữu một đồng xu bát quái hãy giữ nó như bảo vật vì nó sẽ mang lại may mắn cho mình.
Thật tình mà nói, tôi luôn tìm cách giải thích một cách khoa học, hợp lý những lời truyền miệng của người xưa, chẳng hạn như câu „có kiêng, có lành“ nếu giải thích theo toán học về thống kê và xác xuất (Statistik, Stochastik) thì khi tránh làm việc gì, xác xuất hậu quả xấu mà việc đó có thể gây ra đương nhiên cũng sẽ thấp hơn. Phong thủy đối với tôi không phải là sự mê tín mà là cách kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và địa lý để tạo dựng một kiến trúc vừa đẹp về thẩm mỹ, vừa có lợi cho sự sinh hoạt, phát triển của con người.
Lý Quang Diệu là một thiên tài chính trị gia với một tấm lòng yêu nước tha thiết. Ông đã dùng niềm tin phong thủy để khích lệ người dân Singapore chung tay góp sức xây dựng tân quốc gia nhỏ bé, không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước, không có khả năng quốc phòng, vươn mình trở thành một cường quốc tại Đông-Nam-Á.
Có niềm tin, con người có thể vượt qua đau khổ, bệnh tật, mất mát.
Có niềm tin, con người có thể đưa đất nước từ nghèo khó, nhược tiểu, đến giàu mạnh, hùng cường, một „Con sư tử châu Á“.
Vì vậy tôi chọn tựa đề cho bài Blog này là „Singapore – Niềm tin phong thủy“.
À quên, trong chuyến đi vừa qua tôi vô tình nhận được một đồng Đô-La Singapore mới toanh và một đồng Đô-La cũ hình bát quái.
Tôi sẽ luôn mang nó trong ví của mình, với hy vọng có ngày niềm tin phong thủy cũng sẽ đem thịnh vượng đến cho quê hương tôi.









