Friends forever

Tiếng Việt

Nimm dir Zeit für deine Freunde, ansonsten nimmt die Zeit dir deine Freunde.

Ich bin hier zur Schule gegangen und habe deutsche Schulfreunde. Aber man trifft sich vielleicht zum 10-, 20-, 25-jährigen Jubiläum, redet über die Politik oder über das Wetter, trinkt ein Glas Bier zusammen (ich eher Cola, da ich keinen Alkohol vertrage) und verabschiedet sich. Keine tiefe Bindungen.

Die Schulbildung in Vietnam ist etwas anders. Man bleibt – wenn nicht dazwischen kommt – von der ersten Klasse bis zum Abitur mit denselben Mitschülern und Mitschülerinnen zusammen. Auf dieser Weise entstehen Freundschaften, die über Jahre andauern, weil man die gleichen Erinnerungen hat: strenge Lehrer oder Lehrerin, alberne Mitschüler, Prüfungsängste oder einfach den Flammenbaum (phượng vĩ) auf dem Schulhof, der mit seinen roten Blüten die Sommerferien ankündigte.

Nach 1975 trennten sich unsere Wege. Die meistens sind geflüchtet und leben jetzt in Amerika, Canada, Europa oder Australien. Einige blieben in Vietnam. Viele haben bei der Flucht ihr Leben verloren.
Mit Internet, Email, Facebook wurden die Kontakte nach und nach wieder hergestellt, alte Freundschaften wiederbelebt, verblasste Erinnerungen wachgerüttelt. Herzklopfen beim ersten Wiedersehen nach so vielen Jahren: wie sieht meine Freundin jetzt aus, würdet sie mich wieder erkennen? Viele Menschen treten in dein Leben ein, aber nur ein paar besondere Menschen hinterlassen auch Spuren in deinem Herzen und verursachen Herzklopfen. Das sind die Friends-Forever.

Ich bin kurzsichtig, daher finde ich diesen Spruch besonders passend: Freunde sind wie Kontaktlinsen – Wenn man sie verliert, findet man sie nie wieder, darum pflege deine Freundschaft. Ich werde diesen Rat befolgen, das bedeutet ich werde öfter verreisen müssen, denn die meistens meiner Freunde leben ja im Ausland!!!

Tự vệ à la „Trăm-Quan-Tiền-Sáu-Cô“

Lần cuối tôi đến San Francisco là cách đây 10 năm. Lúc đó tá túc nhà ông anh chồng ở Alameda. Nay ổng dọn về Phoenix nên chúng tôi phải thuê khách sạn tại SOMA (South of Market, gần Downtown), hoàn toàn không biết khu này ra sao, có an ninh hay không.
Khách sạn Minna nằm ngay trung tâm thành phố, với giá 85 đô-la một đêm, tương đối rẻ do tôi chộp được khuyến mãi này trước đó hơn 6 tháng. Tuy phải xài chung phòng tắm và nhà vệ sinh nhưng rất sạch sẽ, còn khá hơn nhiều nhà trọ Ba-Sao-Trở-Lên. Chúng tôi đi chơi cả ngày, chỉ tối về ngủ, đâu cần mướn khách sạn xịn mà giá đậu xe một ngày hơn 50 đô-la ?
Chính ra ở thành phố „Trăm-Quan-Tiên-Sáu-Cô“ (cents francs six … mademoiselles) này không cần có xe hơi. Chỉ tổ tốn tiền đậu xe mà kiếm chỗ đậu cũng mỏi mòn con mắt, nhất là buổi tối mà phải đọc bảng lưu thông, toàn chữ là chữ, chữ màu đỏ, màu xanh lục, màu xanh lam, thứ mấy từ mấy giờ tới mấy giờ cấm đậu vì cản trở xe quét đường, lúc nào được đậu, đậu tối đa bao nhiêu tiếng v.v. Đọc bảng giá để trả tiền đậu xe cũng đòi hỏi trí thông minh tối thiểu vì ở Mỹ tiếng Đức là một ngôn ngữ không hiện hữu và đồng hồ đậu xe không có mục „Xin vui lòng chọn ngôn ngữ bạn muốn xử dụng“.

Chúng tôi lưu lại San Francisco 3 ngày và phải giải một bài toán khó: Để-Xe-Mướn-Ở-Đâu-Đây-Hở-Trời ? Cạnh Civic Center có nhà đậu xe ngầm với giá 29 đô-la một ngày. Rẻ mạt rồi. Sau nhiều ngày vật lộn với những con số chúng tôi „chỉ“ tốn tổng cộng 62 đô-la tiền đậu xe.

Với vé 1 ngày (21 đô-la một người) chúng tôi dùng phương tiện giao thông công cộng thăm viếng gần hết các danh lam thắng cảnh của thành phố „dốc ngược“:

Xe cáp dây nổi tiếng thế giới:

Con đường uốn vòng „Lombard Street“ lạ lẫm, dễ thương với những giàn bông giấy, bông tú cầu đủ màu:

Leo đốc đường Lombard

Phố Tàu to nhất phương Tây:

Đường Union, Fillmore với cửa tiệm be bé, xinh xinh:

Buổi tối chạy ra khu Ghirardelli Square rực rỡ đèn hoa nhưng chỉ đứng ngoài ngó vô vì giờ đó mà vào thưởng thức ly kem „ngồi“ (tức là không cầm que kem vừa đứng vừa liếm kem), giá „trên trời“ thì … phí tiền quá !

Ăn đồ Ý, làm tươi ngay tại chỗ, rẻ mà lại ngon:

The Italian Homemade Company Restaurant, 1919 Union St, San Francisco

Chiếc xe hơi mướn đã đưa tôi đến những điểm không thể không xem qua của San Francisco:

Fisherman’s Wharf: ồn ào nhộp nhịp. Ăn ở tiệm Joe’s Crab Shack, không đắt lắm, chỉ tội mấy cô bồi bàn hơi chậm chạp và hình như bị bệnh lẫn cấp một.

Tiếc là không đi thăm nhà tù Alcatraz được vì vé đã bán sạch cho tới tận tháng sau rồi. Thôi đành tự an ủi là tiết kiệm 140 đô-la.

Và đương nhiên lái xe chạy đến ngắm biểu tượng của San francisco: cầu Golden Gate. Phải đi tham quan lúc sáng sớm mới mong kiếm được chỗ đậu xe.

Dừng chân ở Cliff-House nhâm nhi ly cà phê 4,50 đô-la, rẻ chán để được ngắm Thái Bình Dương vỗ sóng trắng xóa lên bãi cát vàng êm đềm, chợt một thoáng thấy lòng bình yên lạ.

Trở lại chuyện khách sạn Minna nằm ở phía nam đường Market Street, gần Civic Center, sát phía bắc khu Tenderloin. Ngay cả ban ngày cũng thấy nhiều người vô gia cư và người mắc bệnh tâm thần vừa đi vừa lẩm bẩm hay la lối um xùm ngoài đường. Phản ứng tự nhiên là chúng tôi bước thật nhanh, đi dính chùm với nhau và cố gắng né xa họ.
Từng ngày qua tôi quen dần với những hình ảnh không mấy đẹp của thành phố này, bớt cảm thấy sợ hãi và nghiệm ra một cách phòng thân mới: không cần bình xịt hơi cay bỏ túi hay súng dí điện, chỉ cần giả bộ như mình là người điên điên dại dại, lầu bầu hay la hét rùm beng ngoài đường là thiên hạ tự động tránh xa ba thước.
Một cách tự vệ tuyệt vời à la „Trăm-Quan-Tiền-Sáu-Cô“. Phi vũ khí. Còn có hiệu nghiệm hay không thì tôi không biết vì chưa có dịp làm thử. Tôi chỉ là du khách.

Selbstverteidigung à la San Francisco

Tiếng Việt

Wir waren vor genau 10 Jahren in San Francisco. Damals haben wir bei unserem Schwager in Alameda übernachtet, der inzwischen nach Phoenix umgezogen ist. So sind wir dieses Mal gezwungen. nach einer Unterkunft in San Franciso zu suchen, und zwar in SOMA (South of Market, nähe Downtown), ohne zu ahnen, was uns dort erwartete.

Das Minna-Hotel liegt relativ zentral und für ca. 85 US-Dollar die Nacht ein Superangebot, das wir vor mehr als 6 Monate zufällig entdeckt haben. Zwar musste man den Waschraum und die Toilette auf dem Gang mit anderen Hotelgästen teilen, dafür waren sie tip top, sogar sauberer als in manchen Mehr-Als-Zwei-Sternen-Hotels. Wir waren den ganzen Tag nur unterwegs, wozu überteuerte Unterkunft mit Parkgebühr von mindestens 50 USD am Tag?

Übrigens ist man in San Francisco ohne Auto am besten aufgehoben. Nicht nur wegen den Parkgebühren. Es war nervenberaubend, eine Lücke zum Abstellen seines Vehikels zu finden, besonders über Nacht, da man die Schilder genau lesen musste, um zu wissen, wann der Turnus für Strassenreinigung ist, ab wann es kostenpflichtig ist, und wie lange man seinen Wagen dort stehen lassen darf. Auch das Bezahlen an der Parkuhr erfortderte eine Mindesquote an Intelligenz und Menschensverstand. Deutsch ist in Amerika eine völlig unbekannte Sprache und an den Automaten gibt es partout keine Menüauswahl für die Ländersprache.

Wir waren 3 Nächte dort, d.h. wohin mit dem Mietwagen? Am Civic Center kostete es 29 USD am Tag, billiger gab es nicht. Wir haben mit Not und Mühe geschafft, für 3 Tage  insgesamt „nur“ 62 USD für das Parken auszugeben. Mit dem Day-Pass (21 USD pro Nase) haben wir an einem vollen Tag die Sehenswürdigkeiten von San Francisco abgeklappert:

Die weltberühmte „Cable Cars“:

Die weltberühmte Serpentine „Lombard Street“:

Lombard Street, walking uphill

Das größte Chinatown in der Westlichen Welt:

Die „Street Shops“ ( Union, Fillmore):

Am spät Abend ein Blitzbesuch bei Ghirardelli Square. Das Eis war uns zu teuer, um sich dort am Tisch zu verweilen. Unsere Tochter konnte zum Eis jedoch nicht Nein sagen.

Und vieles mehr, was das Essen betraf.

The Italian Homemade Company Restaurant, 1919 Union St, San Francisco

Alles andere waren Car-Tour All-Inclusive.

Fisherman’s Wharf: kunterbuntes Leben. Essen bei Joe’s Crab Shack war nicht überteuert und lecker, nur die Bedienung etwas langsam und vergeßlich.

Pier 39

Alcatraz musste leider ausfallen. Die Tour war ein Monat im voraus ausgebucht. Einziger Trost: 140 Dollars gespart.

Und natürlich das Wahrzeichen der Stadt: Die Golden Gate Brücke am früh Morgen wegen Parkmöglichkeit, versteht sich.
Anchließend Kaffee-Pause bei Cliff-House, eigentlich nur wegen der Aussicht, denn die Speisekarte war alles anderes als günstig.

Aussicht vom Cliff-House Bistro

Ach ja. Zurück zum Minna-Hotel. Das Hotel liegt etwas südlich der Market Street, in der Nähe des Civic Center, wo sich der Stadtteil Tenderloin nördlich davon befindet. Auch tagsüber sahen wir in der nähen Umgebung nicht nur Homeless Menschen, sondern geistig gestörten Obdachlosen, die ziellos und murmelnd oder schreiend durch die Strassen liefen. Wir machten immer einen großen Bogen, blieben dicht beieinander und gingen im Eilschritt. Nach und nach gewöhnten wir uns an dieses Stadtbild und endeckten eine neue Art der Selbtverteidigung: kein Pfefferspray oder Elektroschocker, es reicht anscheinend, wenn man so tut als ob man ein Irrer ist, vor sich hin Unsinn murmelt oder schreit um sich herum. So bleiben die anderen einfach mindesten fünf Meter von einem Weg. Zumindest taten wir so. Fünf Meter weg bleiben, meine ich.
Viva die Selbstverteidigung à la San Francisco. Waffenlos. Ob sie erfolgreich ist konnten wir leider nicht verifizieren. Wir waren nur als Touristen da.

 

Ein Tag in Köln

Meine Freundin aus Amerika teilte mir per Email mit, dass sie bei ihrer Europareise einen Abstecher nach Köln plante.
Köln hat einen Dom, der weltbekannt ist.
Köln hat eine Biersorte, die Kölsch heißt.
Köln hat einen Fluss, der Rhein.
Köln hat die Hollenzollernbrücke, die voll mit Liebesschlössern geschmückt ist (die Schlüsseln wurden in den Rhein geworfen).

Was macht man nun, wenn alle diese Sehenswertes abgeklappert sind?

Köln hat ein kleines Museum, „Johann Maria Farina gegenüber dem Jülichs-Platz“, welches sich eigentlich auf der Straße Obenmarspforten 21 gegenüber dem „Gülichplat“ befindet, aber die Rheinischen sprechen das „G“ wie „J“ aus. Dort wurde das älteste Parfüm der Welt geboren. Zu der Zeit war man gewohnt, den Müll auf die Straße oder einfach in den Fluss zu werfen. Köln war eine Handelsstadt, gut besiedelt und entsprechend stank es auch nach allen möglichen Gerüchen. Als der italienische Perfümeur Giovanni Farina das „Eau admirable“ kreierte, suchte er nach einen Duft, der ihn „an einen italienischen Frühlingsmorgen nach dem Regen“ erinnerte. Offiziere der französischen Armee, die nach dem Ende des Polnischen Thronfolgekriegs (1733-1738) aus dem Rheinland in ihre Heimat zurückkehrten, schufen der Ware einen Markt in Frankreich. Aus dieser Zeit datiert auch die Bezeichnung als „Eau de Cologne“.

Farina Eau de Cologne duftete besonders sanft und frisch, war preiswerter als Eau de Parfum (12-20% Parfüm-Öl). Napoleon sollte täglich umgerechnet rund 2.000 Euro Eau de Cologne verbraucht haben, er sträubte es beim Reiten in seinen Stiefeln. Es gab viele Fälschungen, sogar den Namen Farina wurde missbraucht, da es damals kein Markenschutz gab, wie z.B. das „Kölnisches Wasser 4711“ von Wilhelm Mülhens. Erst nach fast einem Jahrhundert Streitereien, gelang es der Familie Farina im Jahr 1881 ihre Marke zurückzuholen.

Im 18. und 19. Jahrhundert dominierte „Eau de Cologne“ den Parfum-Markt in Europa. „Eau de Cologne“ wurde zu einem Namen für eine eigene Duftklasse mit Parfümölgehalt von 2-5%. Eine der bekanntesten Kundin von Farina Eau de Cologne war Prinzessin Diana.

Der Besuch des Hauses Farina, jetzt als Museum, kostete nur 5€, mit Führung über die Herkunft von Eau de Cologne und kleinen Geschichten am Rande, wie z.B. dass Giovanni Farina ein exellenter Perfümeur war. Er konnte alle Dufte mit nur einmal Riechen merken, ohne ihre Zusammensetzung, deren Ingredients und Mengenangabe notieren zu müssen. Somit konnte das Geheimnis der Mixtur von „Eau de Cologne“ bewahrt werden.

Am Ende der Führung bekam der Gast als Erinnerungsgeschenk eine Mini-Flakon mit 6ml „Original Farina Eau de Cologne“ im Wert von 8€, also 3€ Gewinn nach Abzug des Eintrittpreises, und meine Miniatursammlung wurde zugleich erweitert.

Wir rundeten den Abend mit einem Besuch der bürgerlichen Gaststätte „Gaffel am Dom“ direkt vor dem Bahnhofsplatz.

Von der ganzen Geschichte war nur Giovanni italienisch, sonst nichts.

Eau de Cologne

Nhỏ bạn ở Mẽo đi du lịch châu Âu, „meo“ nói sẽ ghé Köln chơi một ngày.
Köln nổi tiếng với nhà thờ Dom.
Köln có bia Kölsch.
Köln có dòng sông Rhein chảy ngang.
Köln có con cầu Hollenzollernbrücke nặng trĩu ổ khóa của những cặp tình nhân khắc tên „hai đứa với quả tim chì“ (chìa khóa thì đã ném xuống sông Rhein hết rồi).

lovelocks
Sau đó biết đi đâu nhỉ ?
Köln có một bảo tàng nhỏ „Johann Maria Farina gegenüber dem Jülichs-Platz“, thật ra là nằm ở đường Obenmarspforten 21, đối diện Gülichplatz, nhưng người vùng này phát âm chữ „G“ nghe như „J“.
Đây là nơi sản xuất nước hoa xưa nhất thế giới và cũng là nơi Giovanni Farina khai sinh „Eau de Cologne“. Thời bấy giờ cái gì thảy ra đường hay xuống sông được là thiên hạ hất ra liền, Köln lại là thành phố giao thương nên đường xá ngột ngạt, bốc mùi hôi hám. Giovanni Farina khi pha chế „Eau admidrable“ (nước trân quý) mang ý tưởng tìm kiếm một mùi thơm đem lại cho ông cảm giác hít thở không khí buổi sáng mùa xuân sau cơn mưa trên quê hương đất Ý. Các sĩ quan Pháp đóng quân vùng sông Rhein trở về sau cuộc chiến tranh giành ngôi báu ở Ba Lan (1733–1738) đã không quên đem những chai nước hoa này về làm quà cho vợ hiền, người yêu và mang đến cho nó cái tên gọi „Eau de Cologne“ – Nước của Cologne.

Nước hoa của Farina đặc biệt được ưa chuộng bởi có mùi thơm nhẹ nhàng, tươi mát, lại không quá đắt như Eau de Parfum (hàm lượng tinh dầu 12-20%). Napoleon một ngày xài tính ra khoảng 2.000 Euro cho Eau de Cologne vì vị vua này xức nước hoa cả vào giầy ống lúc cưỡi ngựa. Có rất nhiều nước hoa giả lấy tên Eau de Cologne hoặc xử dụng luôn thương hiệu Farina như „Kölnisches Wasser 4711“ của Wilhelm Mülhens. Mãi đến sau gần 1 thế kỷ tranh chấp, năm 1881 Farina mới giành lại được thương hiệu của mình.

Do vào thế kỷ 18, 19 Eau de Cologne chiếm thượng đẳng thị trường dầu thơm ở châu Âu nên „Eau de Cologne“ đã trở thành một tên gọi cho nước hoa có hàm lượng tinh dầu 2-5%. Một trong số khách hàng nổi tiếng của Farina Eau de Cologne là Công nương Diana.

Thăm căn nhà Farina, nay là bảo tàng viện, chỉ 5€, có hướng dẫn viên giới thiệu lịch sử Eau de Cologne với những mẩu chuyện bên lề chẳng hạn như Giovanni Farina chỉ cần hửi qua 1 lần là nhớ như in mùi dầu thơm nào, với hàm lượng tinh dầu nào, pha chế ra sao v.v., không cần ghi vào sổ và vì như vậy công thức Eau de Cologne chính hiệu không hề bị đánh cắp. Lúc ra về khách được tặng chai dầu thơm 6ml trị giá 8€. Không những lời 3€ mà bộ sưu tầm nước hoa tí hon (hình blog ở trên) lại có thêm thành viên mới.

Tối dẫn nhau đi ăn đồ Đức chính hiệu ở quán „Gaffel am Dom“ ngay nhà ga xe lửa nữa là … hết Ý. Ý viết hoa.

Tìm hiểu tiếng Việt, chữ Việt của chúng ta

Đa số người Việt sống lưu vong ở nước ngoài như … tôi thường ôm ấp hoài bão „bảo tồn văn hóa“ dù chẳng biết thế hệ con, cháu nội ngoại, chắt chút chít chũm chĩm với những cái tên lạ lẫm như Otto, Friedrich, Jutta, Anja v.v. chúng nó còn nói tiếng Việt, biết phong tục tập quán Việt Nam hay không nữa? Ôm mà không ấp thì không ra trứng, ra trứng rồi mà không biết cách „marketing“ thì trứng sẽ thối, bị đáp vào thùng rác không thương tiếc.

Hôm nọ sang thăm thằng bạn học cũ, tá túc trong phòng làm việc của nó với một tủ sách to đùng, tối ngủ chỉ sợ đổ ập đè vào người. Lạ giường, tẩn mẩn bên kệ sách thấy có quyển „Tôi tập viết tiếng Việt“ của ông Nguyễn Hiến Lê. Tôi gọi „ông“ có nghĩa là gọi theo vai vế chứ không phải „ông“ là đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba vì ông là bạn của ông ngoại, cùng học trường Bưởi, thường đến nhà chơi mạt chược với ngoại. Tôi nhớ ông có dáng gầy gầy, da ngăm, lưng hơi khom và có khuôn mặt xương xương giống ngoại. Hình như mấy ông bạn của ngoại ai nhìn cũng mài mại giống ngoại, có lẽ do cùng xuất thân từ miền quê hương đất bắc mà trong trí óc non nớt của tôi ngày ấy nó xa lắc xa lơ tôi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Trong quyển này ông phân tích những sai lầm khi hành văn tiếng Việt mà ngay cả nhiều nhà văn nổi tiếng cũng mắc phải. Ông viết rất dễ hiểu, không sáo ngữ, khiêm tốn mà thuyết phục, thật không hổ danh (trích Wiki) „là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế,…“

Ông Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912, tức là thế hệ … 1x, 2x. Thế hệ 5x, 6x như chúng tôi coi như … lỡ một mùa xuân rồi vì đã thành „ba rọi“, tiếng Tây tiếng U thì vừa đủ để kiếm cơm, tiếng Việt thì vừa đủ để … mắng con. Nhưng may quá còn thế hệ 3x, 4x ở giữa như mẹ tôi, lâu lâu xổ một câu ngạn ngữ để dạy cháu ngoại, mặc nó có hiểu hay không hoặc sau đó nghe nó kết luận một câu xanh lè, trống không: „Bên Đức khác mà bà !!!“.

Thế hệ „giữa“ còn có cậu Mười của thằng bạn tôi, cậu Tiền Vĩnh Lạc. Cậu không dáng gầy gầy, không lưng khom, không da ngăm, cũng không đến từ miền quê hương đất bắc mà trong trí óc non nớt của tôi ngày ấy nó xa lắc xa lơ tôi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Cậu biên soạn cuốn Tìm hiểu tiếng Việt, chữ Việt của chúng ta, con cháu ráp lại đánh máy và hiệu đính, gần 2 năm nay bây giờ đã hoàn tất. Thằng bạn kể:
„… Xưa tính là làm 2 cuốn Thượng và Hạ mỏng, hoặc 1 cuốn thiệt dày như tài liệu sách giáo khoa giảng dạy tiếng Việt. Nhưng mấy chị em bàn kỹ với nhau, cắt xén rất nhiều và rút gọn lại  thành 1 cuốn, 290 trang, thay vì 2 cuốn mỗi cuốn 200 trang, cho đỡ tiền in. Sau này nếu có dư tiền thì sẽ ra cuốn thứ hai. Cuốn này chủ yếu dạy tất cả văn phạm, cách dùng từ chính xác, cách phân biệt các loại từ để không bao giờ viết sai chính tả, một ít văn vần thôi, tóm lại tất cả những gì về giảng dạy văn phạm tiếng và chữ quốc ngữ đều nằm trong này.
Ấn loát ở Việt Nam thì rẻ, nhưng sẽ bị tự ý sửa nội dung không hỏi ý kiến tác giả, mà sách giáo khoa cho thế hệ mai sau nếu in sai một ly là đi một dặm, cho nên chỉ in ở Úc và Mỹ với số lượng cũng rất khiêm tốn …“

Sách tặng, không bán. Hình bìa do thằng bạn Don „Ăng-Lê“ thiết kế. Dự tính ngày lên khuôn là khoảng đầu tháng 6, trong 2 tuần sẽ in xong. Không biết sẽ có tái bản hay không. Nếu đủ thời gian thì năm sau cũng vào tháng 6 sẽ ra thêm 1 cuốn giáo dục nữa. Từ bây giờ tới đầu tháng 6 nhờ các bạn hỏi dùm, nếu có ai muốn đặt làm của hồi môn cho con gái, quà sinh nhật cho con trai, gối đầu giường cho cháu nội ngoại, hay thực tiễn hơn nữa là làm tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho các lớp Việt ngữ thì vui lòng liên lạc với Hồng, aka (as known as) Aza Lee, nếu đặt kha khá thì giá thành của mỗi cuốn có thể xuống, rẻ hơn một bữa ăn tối với thịt bò áp chảo tại tiệm Steakhouse Á-Căn-Đình Maredo.

Cám ơn các bạn trước.
************************************************************************************************************
Bài blog này đề ngày 11.05.2017 mà không hiểu sao nó bị chìm đâu mất, hôm nay vô tình lục lọi tìm một đề tài cũ mới thấy bài vẫn đang nằm chờ được nở hoa.
Thôi thì xin tạ lỗi cùng các bạn.
Sách dưới dạng pdf hiện được đăng ở đây.

Ba Tàu và Câu-Tiễn-Kiếm

Theo gia phả, 13 đời trước bên ngoại tôi là người Tàu. Nhiều người cho rằng phải kêu là „người Hoa“ vì „Tàu“ nghe không được lịch sự. Một bạn học cũ, Lê Anh Dũng, đã bỏ công tìm tòi và giải thích cặn kẽ cái gốc gác „ba Tàu“ của tôi. Tôi mạn phép đăng lại những gì Don – tên „Ăng-Lê“ của hắn – đã chịu khó sưu tầm để „giải đáp thắc mắc“ cho đứa bạn không hiểu sao cứ thích ăn Điểm-Sấm (chú thích: tôi cũng thích ăn phở nhưng hủ tiếu mới là món khoái khẩu nhất của tôi).

„Ba Tàu còn có một giai thoại có thật, được kể từ miệng của mấy người bạn gốc Hoa của ba tui mà rất it ai biết tới, kể cả những bậc học giả Việt Nam lão thành.
Khi những người dân các tỉnh Quảng, Phúc và Chiết không chấp nhận nhà Mãn Thanh, một số vùng lên khởi nghĩa, bị quân Thanh càn quét chạy ra biển, theo dân tị nạn chiến tranh, ùn ùn trốn sang Việt Nam. Khi họ đến cửa ải và các cảng Hội An, Hải Phòng, lính của mình hỏi họ là ai, từ đâu tới, thì họ bảo rằng họ là „bô đào dân“, có nghĩa là chạy trốn, đào vong trốn quân triều đình nhà Thanh, tức là người tị nạn, mà âm tiếng Quảng, tiếng Tiều khi nói lên nghe là „Pô Tàu“, quan quân mình nghe ra thành „ba Tàu“. Từ đó người Tàu bị chết tên là „ba Tàu“. Dân „bô đào“ tị nạn đi sang Việt Nam bằng đường bộ ồ ạt nhiều gấp chục ngàn lần dân đến bằng thuyền. Nhưng trên mạng cứ giải nghĩa dân Tàu đến Việt Nam bằng 3 chiếc tàu gọi là ba Tàu, thiệt là bậy hết sức.
Tóm lại, „ba Tàu“ là 3 sắc dân Quảng, Tiều và Chệt (Chiết), đồng thời còn phát xuất từ chữ „bô đào“, tức là dân đi tị nạn. Ba sắc dân này sợ hai nhà Trịnh-Nguyễn đuổi họ về Tàu, cho nên khi hai chúa Nguyễn Phúc Tần và Chúa Sãi  Nguyễn Phúc Nguyên mở mang bờ cõi phía nam Thuận Hóa, họ xung phong đi liền.  Đa số dân Quảng và Chệt dừng lại ở Saigon-Chợ Lớn, một số nhỏ theo đại đa số dân Tiều vào tận Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, Hà Tiên. Vì thế từ Long An, Tân Thuận trở về miền Tây toàn là dân Việt gốc Tiều. Rồi họ bỏ cách ăn mặc và chải tóc kiểu nhà Thanh, búi tóc như người Nam, mặc áo bà ba, áo dài, học nói tiếng Việt và học làm mắm.  Họ tự bỏ quốc tánh của họ, quên đi dĩ vãng bô đào, xưng là „Duyệt-Làm-Dành“ (Việt-Nam-Nhân) và sống hòa mình với người Việt, nhưng người Việt mình vẫn cứ gọi họ là … „ba Tàu“.

„ba Tàu“ đời thứ 17

Thật ra người Việt cổ sinh sống gần miền Nam nước Tàu ngày nay, xưa là vùng Lĩnh Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) và một phần của Lĩnh Tây, tức là Vân Nam và Quảng Tây, gồm các tộc Mân Việt, Uông Việt, Bách Việt, Lạc Việt. Vùng đất rộng lớn này một bên là núi Ngũ Lĩnh, một bên là biển, cho nên mới có huyền sử 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Ba miền đất lớn phía nam núi Ngũ Lĩnh là đất Quảng, bây giờ là Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây. Đất Mân bây giờ là Phúc Kiến, Triều Châu và Chiết Giang.
Bộ Lạc đầu tiên có chính sử, có chủ quân là vua Thuần Nghiêu, chính là bộ lạc Tào. Đất họ ở là đất Tào. Dân tộc Tàu là Tào dân  – Tào mánh, Tào mán, Tào mín theo âm đọc tiếng Quảng Đông và Tiều.  Mình gọi họ là Tàu bắt đầu từ đó.  Đổi lại dân Tàu gọi chung các tộc Việt sống phía Nam núi Ngũ Lĩnh là Nam Mân (đất Mân phía Nam núi Ngũ Lĩnh, nơi dân Mân Việt ở đông nhất), Mân dân (Mần mánh, Mần mán, Mần mín) hay gọi là Nam dân (Nàm mánh, Nàm mán, Nàm mín theo âm tiếng Quảng và Tiều).  Sau nàu bị hai bà Trưng đánh bại năm 40 mới ghét dân Việt quá đọc trại thành Nam Man.
Các nước Sở, Việt, Ngô thời Xuân Thu xưa lắc toàn là những vùng đất của các chủng Việt mà hai chủng lớn nhất là Thái-Mường (Tais, Tây Âu) và Việt (yue, yueh), như Bách Việt, Bộc Việt, Điền Việt, ở rải rác phía Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh, tức là vùng Mân Nam, đảo Đài Loan, Hải Nam và miền bắc của Việt Nam bây giờ. Ngôn ngữ của dân Việt mình và dân Thái có gốc Việt cổ, cũng là tiếng Sở-Việt-Ngô ngày xưa. Tiếng Quảng và tiếng Tiều nghe khá giống với tiếng Việt, khác xa tiếng Phổ thông (Mandarin). Dân Việt cổ sinh sống từ phía nam sông Dương Tử xuống đến miền bắc Việt Nam và phía đông đến tận biển Đông Hải. Nếu không bị các nhà Tần, Hán lấn chiếm thì đất nước của dân Việt lên đến tận sông Dương Tử.


Năm 1965, trong một cuộc khai quật khảo cổ tại Hồ Bắc –  là địa bàn nước Việt ngày xưa trước khi bị Sở diệt – người ta đào được cây kiếm của Việt Vương Câu Tiễn, đúc bằng đồng điếu, có hoa văn và các đường chạm kỷ hà giống như hoa văn ở các thạp đồng Đông Sơn. Câu-Tiễn-Kiếm khắc chữ Việt cổ mà chính những nhà học giả nổi tiếng của Tàu cũng vò đầu bứt tai không giải mã nổi (chú thích: lúc đọc tới khúc này tôi hình tượng đến cảnh ông A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ – Alexandre de Rhodes – ngồi ngơ ngẩn thẩn thờ không giải mã được chữ Việt bèn tìm cách chuyển đổi sang tiếng Latin quen thuộc với ông hơn).

Trở lại „Câu-Tiễn-Kiếm“. Người Tàu phía bắc như các nước Tần, Tề, Trịnh, Ngụy, Yên, Hàn, Lỗ, Tấn đâu có đồng đâu mà làm kiếm, toàn là kiếm thép, và cũng không có kỹ thuật làm đồ đồng như dân Việt. Nếu có chạm trổ thì đường nét cong cong, uốn lượn chứ không thẳng như kiếm Câu-Tiễn. Sử Tàu cũng có nhắc đến 2 cây kiếm Thư Hùng của vợ chồng Can Tương – Mạc Tà dâng lên cho vua Ngô Hạp Lư, mà Kim Dung có nhắc tới trong cuốn Việt-Nữ-Kiếm. Sách viết là 2 cây kiếm rèn bằng sắt, nhưng sau này người ta bảo là ngộ nhận, vì vùng Chiết giang – Nam Lĩnh không có mỏ sắt, chỉ có các mỏ đồng thau, thế thì 2 cây này cũng như cây của Câu Tiễn phải là cùng làm bằng đồng điếu, tức là mỏ kim loại ở địa phương. Tiếc rằng 3 cây kiếm này giờ nằm ở bên Tàu thì thuộc quyền sở hữu của nó, nếu không thì mình đã có niềm tự hào là tổ tiên dân Việt có nghề làm kiếm tinh vi.

Câu-Tiễn-Kiếm

Xưa có câu „Tề dân phục thương ngọc, Sở chúng ý tạp y“, có nghĩa là „dân Tề đeo ngọc xanh, dân Sở mặc áo ráp nối vá víu“. Nhiều người diễn giải là ý nói người Sở không giàu có như người Tề. Thực sự „tạp y“ – còn có nghĩa là „bách kết y“ – là áo ráp lại từ những miếng nhỏ.
Khu vực các nước Trung thổ như Tề, Tấn, Trịnh có sông Hoàng Hà chảy ngang qua, hai bên bờ và dưới đáy sông người ta tìm được „jade nephrite“ là một loại ngọc quý mà mình thường gọi là cẩm thạch, đá trang sức. Có 2 loại đá khác cũng quý hiếm nhưng thua nephrite là agate, tức mã não màu đỏ (Kỳ-Thạch) và turquoise, tức Lục-Tùng-Thạch màu xanh (khôi thạch). Mình hay nói một người nào có tính tình „kỳ khôi“ tức là tên này „hành sự“ quái gỡ, bất bình thường, nhưng thực sự „KỲ KHÔI“ là tiếng Hán-Việt, tên gọi chung cho 2 loại đá quý này.

Cẩm thạch được dùng làm đồ trang sức và đặc biệt là làm áo quan với những miếng ngọc hình chữ nhật kết với nhau bằng tơ lụa, bọc kín xác chết, vì Cẩm-Thạch được cho là bảo quản xác chết không bị hư thối, hồn được yên tĩnh về nơi cõi lành. Vào thời cổ xưa, dân Tàu, Ấn, dân Lưỡng-Hà-Địa và người da đỏ Inca ở Peru chỉ đeo lẩn quẩn 3 thứ đá này, họa may là có thêm jadeite và opal. Đeo ngọc là cách trang sức của dân Tàu Trung thổ, mà có được ngọc xanh lại càng quý, tức là một kiểu khoe của, ta đây là … đại gia.

Áo quan bằng ngọc thạch

Dân Thái-Lan, Mường, các dân thiểu số ở Việt Nam như Tày, Nùng, Miêu, Ê-Đê v.v. mặc áo đủ màu sắc lòe loẹt, cổ, ngực, tay, vai ráp bằng nhiều thứ vải, hoa văn, chỉ nổi, đăng ten thêu thùa lung tung, đầu kết lông chim, kết khăn đội. Nhưng không phải tại họ thiếu vải, mà chỉ là thời trang „hippy“ của dân Sở ngày xưa. Có nhóm mặc váy dài như dân Lào và Thái Lan. Cũng có nhóm mặc váy ngắn ngang đầu gối như H’Mông, Ê-Đê để dễ dàng đi lại trên vùng rừng núi.  Dân Sở, Việt ở đất Kinh và Dương, du nhập cách ăn mặc của người Trung thổ, nhưng áo dài tay rộng, mặc nhiều lớp vì ở miền lạnh hơn. Còn trang phục của dân Tây Nguyên thì cũng giống dân Văn Lang tức là đóng khố. Tóm lại từ trang phục của dân các nước Sở, Việt, Ngô và khu vực Mân Nam (tức Lĩnh Nam) mà các chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc) có phong cách trang phục như vậy. Ngay cả áo tứ thân cũng là tạp y, nhiều mảnh ráp lại. Hoa văn và các hình trang trí của dân Thượng, Thái, Tây Nguyên giống y hệt hoa văn trên cây kiếm Câu Tiễn và các thạp đồng Đông Sơn – Hòa bình, đa số là những đường thẳng chéo qua chéo lại. Còn hoa văn và hình trang trí của Tàu thì cong, dợn sóng mềm mại như mây, hoa, lá chứ không có các đường thẳng kỷ hà.

Y phục người H’Mông

Sở dĩ các tộc Thái, Việt ăn mặc màu mè lòe loẹt vì bị ảnh hưởng của thiên nhiên, cây trái, hoa quả đủ màu sắc, thi nhau nở quanh năm. Vì không có mùa Đông nên dân bản xứ thích màu mè. Họ xâm mình và dùng màu của các hoa quả thoa lên mặt, lên người, giống như bây giờ thiên hạ trổ tattoo và xài make up … Lancôme. Rồi họ dệt vải đủ màu cho đẹp, đem màu sắc vào trang phục. Họ giỏi làm những dãy băng viền áo đủ màu. Trong lúc đó thì quần áo của người Tàu ở lưu vực sông Hoàng Hà làm bằng vải cây gai, cây bông gòn, rất đơn sơ chứ không „hoành tráng“ như phim Tàu bây giờ. Thời Xuân Thu là xa xưa lắm, bất quá là họ thêu viền cổ hay viền ống tay, nên nếu cho rằng dân Sở, Việt mặc bách kết y, tạp y, là dân nghèo ăn bận vá víu thì … bậy quá !!! 

Trước khi các nước Sở, Việt, Ngô, Hán, Tề, Tàu đánh nhau họ cũng giao lưu „fashion show“ ì xèo, bắt chước nhau ăn mặc. Nhưng quốc phục dân Thái, Việt là … technicolor, giống như theo kiểu nhà thiết kế thời trang Tây-Ban-Nha Custo Dalmau, còn dân Tề đeo ngọc xanh thì cũng giống như bây giờ người ta đeo iwatch vậy đó mà“.

Slava Zaitsev fashion show

Tôi không đeo iwatch, cũng chẳng thích cẩm thạch.
Có lẽ bên nội tôi gốc người H’Mông không biết chừng.

Mallorca in Eschweiler

Germans work hard, play hard.
Ich auch. Aber wohin im Urlaub?
Aufgrund der politischen Unruhen in Europa, in Amerika und überhaupt auf der ganzen Welt ist die Interesse der Deutschen an Reisen in die beliebten Zielen wie Türkei, Tunesien, Ägypten trotz Angebote wie „Hurghada, 7 Tage, Flug, 4* Hotel, All Inclusive 216 € p.P.“ stark gesunken. Um so teuer ist „10 Tage Siebenbürgen, Karpaten & Donaudelta“, sage und schreibe ab 1.684 €.

Eigentlich ist Tunesien mein Lieblingsurlaubsland. Dort spricht man die eleganteste Sprache der Welt, genieß französiche Cuisine und nach zweieinhalb Stunden Flug liegt das türkisblaue Meer mit weißem Sandstrand einem zu Fuße.
2015 starben bei zwei Anschlägen in Tunis und einen Hotelstrand nahe der Stadt Sousse fast 60 Urlauber.
Seit 2015 steigen die Preise für spanische Ziele.
Seit 2015 entwickelt sich Mallorca zur interstellaren Raumstation deutscher Touristen.

Ich war noch nie in Mallorca. Liegt wohl daran, dass ich Tunesien bevorzuge. Aber warum in die Ferne, wenn das Gute so nahe liegt?

Letzten Samstag waren wir am Blausteinsee. Der See entstand im Rahmen der Rekultivierung des ehemaligen Braunkohletagesbau Zukunft. Durch die Auffüllung mit Wasser im Jahre 2004 ist er heute das Naherholungsgebiet für die umliegenden Städte.

Es hat alles, was das Herz begehrt: türkisblaues Wasser, weißer Sandstrand, Wanderwege, Kinderspielplatz, Segel, Tauchen, Radeln … Im Restaurant-Lounge-Café „Seehaus 53“ gibt es Frühstücksbuffet für 8,50 €, Capuccino für 2,50 €, Kuchen und Torten für 2,90 €, Pizza für 8,00 €.
Das Wetter muss nur mitspielen. Bei strahlend blauem Himmel und leuchtender Sonne verwandelte sich der „Bluestone Lake“ zu „Mallorca in Eschweiler“.

Mallorca ở Eschweiler

Người Đức làm việc cần cù nhưng chơi thì cũng xả láng.
Tôi cũng vậy. Nhưng đi nghỉ mát ở đâu bây giờ ?
Do tình hình chính trị bất ổn ở châu Âu, ở Mỹ cũng như ở khắp mọi nơi trên thế giới, dân Đức không còn chuộng đi Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisie hay Ai Cập nữa dù hiện nay du lịch 7 ngày Hurghada, vé máy bay, khách sạn 4 sao, bao ăn uống trọn gói chỉ 216 €. Bù lại các chuyến du lịch Đông Âu như vùng Siebenbürgen (Transylvania, Lỗ-Ma-Ni) chém đứt cổ với giá 1684 €.

Thật ra tôi chỉ thích đi du lịch Tunisie, được nói ngôn ngữ thanh lịch nhất thế giới, được thưởng thức ẩm thực tuyệt vời của Pháp và sau hai tiếng rưỡi ngồi máy bay đã thấy những bãi cát trắng mịn ôm lấy biển trong veo, xanh ngắt.
Năm 2015, gần 60 du khách thiệt mạng trong hai vụ khủng bố tại thủ đô Tunis và khu gần thị trấn Sousse. Kể từ đó giá đi nghỉ mát ở Tây-Ban-Nha tăng vọt. Mallorca trở thành „Interstellar“, trạm vũ trụ cho những chuyến du lịch của người đến từ hành tinh … Đức quốc.

Tôi chưa bao giờ viếng thăm Mallorca. Có lẽ vì tôi thích Tunisie hơn, thích những con lạc đà lững thững, xoải bóng dài trên cát. Nhưng tại sao phải đi chi cho xa khi ngay bên hông cũng có ?

Thứ Bảy vừa rồi tôi thả bộ đến Blausteinsee. Vùng này xưa là khu khai thác mỏ than lộ thiên, đến năm 2004 được thiết kế lại thành nơi vui chơi giải trí cho các thị trấn lân cận với hồ nhân tạo nước xanh biếc, có lẽ vì vậy mang tên „Blausteinsee“ – hồ Lục-Tùng-Thạch. Cũng có bờ cát trắng, những con đường mòn để đi dạo, sân chơi cho con nít, tắm, lặn, chèo thuyền, chạy xe đạp … Có thể dùng điểm tâm tại quán „Seehaus 53“ với giá 8,50 €, Cappuccino 2,50 €, bánh ngọt 2,90 €, Pizza 8,00 €.

Nếu trời đẹp, nắng ấm thì chẳng khác gì „Mallorca ở Eschweiler“.

Chọn giày

Sáng thứ Hai, trên đường đi làm, tôi lại nghe radio báo tin khủng bố nổ bom tại khu xe điện ngầm ở Sankt Petersburg của Nga (mang tên tiếng Việt là Thành Bỉ Đắc), làm 11 người thiệt mạng, hơn 50 người bị thương.
Ở châu Âu, những vụ khủng bố gây tử vong ngày càng xảy ra nhiều hơn. Trong khi trước kia mục tiêu thường là những khu có tầm chính trị quan trọng như cơ quan hành chánh hay đài truyền thanh, truyền hình, tòa báo v.v. (vụ tấn công tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Paris 2 năm trước), thì sau này đa số nạn nhân là thường dân, thanh thiếu niên, trẻ em vô tội.
Các vụ khủng bố nổ bom và tự sát đều mang dấu ấn Hồi giáo.

Châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng đa số theo đạo Công giáo. Nhưng họ đã mở rộng vòng tay chấp nhận cho người không cùng tôn giáo như người Việt (đa số theo đạo Phật), người Syria đến tị nạn tại xứ sở của họ, một đất nước an lạc, tự do, dân chủ, bình đẳng.
Người Việt trước kia tị nạn chính trị, sau này tị nạn kinh tế, hai lý do chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Người Syria tị nạn chiến tranh Hồi giáo, cũng chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Vậy tại sao lại xảy ra vụ khủng bố tấn công bằng xe vận tải vào chợ Giáng Sinh ở Berlin ngày 19.12.2016 khiến 12 người mạng vong ?
Và những vụ khủng bố ở các nước khác như Anh, Bỉ, Nga, Pháp, Mỹ ?
Và tại sao đa số các vụ khủng bố thường dưới hình thức ôm bom tự sát (Selbstmordanschlag, suicide bombing) ?


Khi con người đi vào tuyệt lộ, nhất là khi phải chịu đựng đau khổ về tinh thần hay thể xác, người ta dễ dàng quyết định chọn cái chết để tự giải thoát.
Năm 2009, trong quyển sách „Tội phạm tín đồ Hồi giáo“ (Unter kriminellen Muslimen) nhà tâm lý học Nicolai Sennels phân tích sự bộc lộ cảm xúc, tức giận phát sinh từ nền văn hóa Hồi giáo. Nghiên cứu của ông được dựa trên các cuộc thảo luận, điều trị với khoảng 150 thanh niên Hồi giáo trong nhà tù dành cho thanh thiếu niên (Jugendgefängnis) ở Kopenhagen, Đan-Mạch. Tại đây, khoảng 70% tù nhân xuất thân từ gia đình theo đạo Hồi.
Theo Sennels, loạn luân (Inzucht) giữa người Hồi giáo rất phổ biến. Khoảng 70% người Pakistan, 45% người Ả-Rập và 25-30% người Thổ-Nhĩ-Kỳ có cha mẹ là bà con với nhau, thường là kết hôn với anh chị em họ. Việc này ảnh hưởng lớn đến trí thông minh, sức khỏe thể chất, tâm lý và xã hội Hồi giáo rất lớn. Trẻ em sinh ra có trí thông minh thấp, bệnh hoạn, mang dị tật hay các bệnh tâm thần. Những người này dễ dàng trở thành kẻ đánh bom tự sát. Tử đạo là một cách xứng đáng để kết thúc cuộc sống đau đớn về thể chất hay địa vị xã hội thấp, bị khinh rẻ vì tật nguyền.
Điều này giải thích phần nào hai phần ba trẻ em nhập cư ở Đức có học lực kém ở trường, đưa đến việc không tìm được việc làm tốt hay thất nghiệp dài hạn và phải sống dựa vào trợ cấp. Thêm vào đó, nhiều gia đình Hồi giáo không cho phép con cái của họ hội nhập văn hóa Tây phương với tự do ngôn luận, dân chủ, bình đẳng nam nữ, là những điều đi ngược lại văn hóa Hồi giáo.


Cho phép loạn luân trong nền văn hóa Hồi giáo trong suốt 1.400 năm qua đã để lại thiệt hại thảm khốc đến các tố chất di truyền của họ. Ví dụ nổi tiếng nhất là Ai-Cập, triều đại huy hoàng Pharao hoàn toàn sụp đổ sau vài trăm năm. Để giữ tài sản và quyền lực, các Pharao thường kết hôn với chị em ruột hay chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Sau vài thế hệ, hậu duệ của họ không còn chiếm ưu thế về trí tuệ lẫn thể chất để tiếp tục giữ vững quyền lực cai trị. Một ví dụ lịch sử khác là vua chúa châu Âu cũng thường kết hôn trong nội tộc vì truyền thống không cho phép họ kết hôn với người không thuộc giai cấp hoàng gia. Tỷ lệ cao của giới quý tộc bị bệnh tâm thần và dị tật trong lịch sử châu Âu cho thấy những hậu quả không lành mạnh của truyền thống này.
Theo thống kê, 80% các cuộc hôn nhân tại Nubien (khu vực phía Nam Ai-Cập) có liên quan huyết thống, 67% ở Ả-Rập Saudi, 63% ở Sudan, 64% ở Jordan, 63% tại Kuwait, 60% ở Iraq, 54% ở Qatar, 54% trong khối Vương quốc Ả-Rập Thống nhất (Vereinigte Arabische Emirate), 48% ở Libya, 47% ở Mauritania, 46% ở Bahrain, 45% ở Yemen, 42% ở Lebanon, 40% ở Syria, 39% ở Tunisia, 34% ở Algeria, 33% ở Ai Cập.
Loạn luân có ảnh hưởng tiêu cực đến chủ nghĩa khủng bố nhưng được giáo chủ Mohammed cho phép. Năm 626, Mohammed, 56 tuổi, lấy Hafsah, 20 tuổi, con của Umar, làm vợ bé. Aischa, vợ chính thức (vợ thứ 3) của Mohammed, con gái của Abu Bakr, mới lên 10. Cả hai cha vợ là Umar và Abu Bakr đều xin cưới con gái út của Mohammed là Fatima nhưng Mohammed không chịu vì ông quá yêu thương Ali là em họ (con của chú ruột) nên ông đã gả Fatima cho Ali. Sau này Ali và Fatima trở nên „thánh tổ“ của giáo phái Schia. Cũng khoảng năm 626, Mohammed hợp thức hóa loạn luân trong thánk kinh Koran, ép con trai nuôi của mình là Zaid phải ly dị vợ để ông lấy Zainab, cô em họ của mình làm vợ.
Một lý do khác là với hôn nhân trong bộ tộc thì do „không gả con xa“ cha mẹ dễ quản thúc con gái tuân thủ giáo lý Sharia, nữ giới phải chịu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân. Iran theo giáo phái Schia, nổi tiếng bảo thủ và cực đoan. Luật hôn nhân của Iran công nhận chế độ đa thê. Đàn ông muốn ly dị vợ lúc nào cũng được. Thủ tục ly dị vô cùng đơn giản, người chồng chỉ cần nói với vợ ba lần: „Tôi ly dị cô !“. Sau khi được tòa cho ly dị, người chồng có quyền giữ con trai trên 6 tuổi và con gái trên 12 tuổi. Người vợ chỉ được nhận tiền của chồng trợ cấp trong 3 tháng mà thôi. Tệ hơn nữa, sau khi ly dị rồi đàn ông Hồi giáo có quyền cưới con gái mình.
Theo y học, kết hôn với người cùng huyết thống có xác xuất bị dị tật rất cao, anh chị em ruột từ 40-50% do thừa hưởng 50% di tố của cha và 50% của mẹ. Nếu chẳng may gặp nhầm di tố bị đột biến, đứa trẻ sanh ra sẽ mang dị tật như trí tuệ kém phát triển, đui mù hay bị những khiếm khuyết, bệnh tật khác. Cộng thêm sự nghèo đói, thất bại trong xã hội đưa đến việc từ thập niên 1980, các vụ khủng bố dưới hình thức ôm bom tự sát gia tăng. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng tại các trại tị nạn. Họ được hứa hẹn  lên thiên đàng hưởng lạc thú với 72 cô gái đẹp đến muôn đời hay thân nhân được trợ cấp một số tiền lớn.

Nhận thức của Sennels cũng như những tài liệu tham khảo về loạn luân cho thấy đạo Hồi và nền văn minh phương Tây với ý thức tự do, bình đẳng nam nữ không thể hòa nhập, trừ khi người theo Hồi giáo ý thức được phụ nữ cũng là người chứ không phải nô lệ. Algeria là thuộc địa của Pháp từ năm 1830. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đem lại hứng khởi cho nhân dân Algeria trong quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập. Niềm hứng khởi đó đã thúc đẩy trên 10.000 phụ nữ Algeria gia nhập hàng ngũ kháng chiến quân võ trang. Họ lợi dụng những chiếc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân để dấu vũ khí, thuốc men, lương thực tiếp tế cho quân kháng chiến. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến thành công năm 1962 thì chính quyền Algeria bị rơi vào tay của giới lãnh đạo Hồi Giáo cực đoan. Chính quyền này muốn đưa Algeria trở về thời Trung Cổ bằng cách tước đoạt mọi quyền tự do của phụ nữ. Phụ nữ Algeria ngao ngán thở dài hối tiếc thời Pháp thuộc vì dưới ách thống trị của thực dân, họ đã được hưởng rất nhiều quyền tự do và nhân phẩm của họ đã được kẻ địch tôn trọng còn hơn những kẻ lãnh đạo đồng hương của họ.
Vào năm 1980, một đảng Hồi Giáo cực đoan khác lên nắm chính quyền ở Algeria. Năm 1984, chính quyền này ban hành luật công nhận chế độ đa thê. Nhiều phụ nữ biểu tình chống lại luật này. Chính quyền quá khích ra lệnh cho cảnh sát nổ súng khiến cho 48 phụ nữ bi thiệt mạng.
Sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi Giáo cuồng tín đã làm bùng lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ hơn. Chính quyền liền ban hành luật thị uy với những hình phạt thật nghiêm khắc đối với những người xách động biểu tình: đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị thiêu sống. Bộ luật chống biểu tình này được áp dụng liền trong 10 năm, từ 1984 đến 1993, đã giết chết khoảng 7000 người!. Mặc dầu vậy, phụ nữ Algeria vẫn không nản chí, họ tiếp tục tranh đấu cho tự do một cách thật kiên cường khiến cho thế giới phải khâm phục. Ngày lịch sử 22-3-1993, một nửa triệu phụ nữ Algeria vứt bỏ áo choàng và khăn che mặt từ khắp nơi đổ về thủ đô với khẩu hiệu: „Chúng tôi không nhượng bộ“ (We will not yield!). Trước khí thế quá mạnh mẽ và can trường của nửa triệu phụ nữ, chính quyền Hồi Giáo cực đoan đã phải chùn tay không dám bắn và cuối cùng họ đã phải nhượng bộ bằng cách hủy bỏ các luật lệ bất công đối với phụ nữ (trích từ „Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay“ của Charlie Nguyễn).
Tự do tín ngưỡng là một trong những quyền cơ bản của con người. Nhưng tự do cũng có nghĩa phải tôn trọng tự do của người khác. Chưa nói đến việc „nhập gia tùy tục“. Là khách ta không thể tùy tiện thay đổi cách trưng bày của chủ nhà theo ý riêng hay, tệ hại hơn nữa, đập phá đồ đạc khi thấy nó chướng mắt mình.

„Religion is like a pair of shoes. Find one that fits for you, but don’t make me wear your shoes.”
― George Carlin ―

Tôn giáo giống như một đôi giày. Hãy tìm cho bạn đôi nào vừa ý, nhưng đừng ép tôi phải mang giày của bạn.

Here’s to the ones who dream

Thank you, Don Le, for supporting my dream.

Cuối tuần, tự nhiên nổi hứng muốn đi xem chiếu bóng. Sực nhớ phim „La La Land“ vừa nhận một đống Oscar, tôi rủ ông chồng đáng yêu nhất trên đời này mua 2 vé ở rạp Eden, xuất 17 giờ, hạng Loge, 8€ một vé, còn được khuyến mãi bớt 15% cho 2 vé đi tắm hồ nước nóng Carolus Thermen Aachen.


Xem phim ở rạp có cái thú riêng của nó, khác hẳn xem ở nhà dù Ti-Vi to hơn nửa bức tường và không mất tiền vé vào cửa. Chẳng hạn phải ăn mặc chỉnh tề, không được lâu lâu lại đứng lên đi rót ly nước, vào Facebook bấm „like“, hoặc xuống bếp tắt nồi phở đang chuẩn bị sôi trào.
Phim khá hay, màu sắc rực rỡ, cảnh quay tuyệt đẹp, diễn viên xuất sắc, xứng đáng đoạt 6 Oscar. Nội dung xoay quanh chuyện tình của Mia, làm việc tại một quán cà phê trong phim trường Warner Bros với giấc mơ trở thành minh tinh màn bạc, và Seb, một nhạc sĩ dương cầm ương gàn, ấp ủ hoài bão mở phòng trà cho loại nhạc Jazz mà chàng say mê.

lala
Mia & Sebastian trong phim „La La Land“

Tại sao tôi viết Blog về „La La Land“ ?
Trong phim có đoạn khi Mia được yêu cầu diễn xuất thử vai, cô kể lại câu chuyện về người dì sống tại Paris, người đã ủng hộ giấc mơ trở thành diễn viên của cô. Đoạn này được trình bày qua khúc ca nhạc kịch với bài „The Fools Who Dream“. Có cái gì đó làm con tim tôi rung động khi nghe Emma Stone – người thủ vai Mia – cất tiếng hát:

Here’s to the ones who dream
Foolish as they may seem
Here’s to the hearts that ache
Here’s to the mess we make

She captured a feeling
Sky with no ceiling
The sunset inside a frame

A bit of madness is key
To give us new colors to see
Who knows where it will lead us?
And that’s why they need us

Tạm dịch là

Tuyệt vời thay những kẻ biết mộng mơ
Mặc ai chê ta điên dại khù khờ
Tuyệt vời thay những trái tim rạn vỡ
Với rối ren vương mắc đến vô bờ

Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung

Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ !

Tôi cũng điên rồ như Mia.
Nhưng không phải muốn trở thành minh tinh màn bạc. Tôi muốn người Việt xử dụng đúng cái tiếng Việt hoa mỹ ngày xưa.

Đơn giản như chữ „Hội trưởng Hội người Việt“ thay vì „chủ tịch“.
Xưa có xài, nhưng xài đúng chỗ, giống tiếng Anh, chủ tịch là „xếp sòng“ (chairman), là người nắm quyền quyết định, thường là người có đa số cổ phần của một công ty.
Chủ tịch có thể được dùng cho Ủy Ban (Committee), Hội đồng quản trị (Board of director), Hội đồng giám khảo (Council of examiners). Tuy nhiên ngày xưa có rất nhiều trường hợp không xài chủ tịch như Tổng Công ty Điện Lực không có chủ tịch mà chỉ có Tổng giám đốc.
Ngày xưa có Trưởng phòng Phòng Thông Tin, Trưởng Phòng Chiêu Hồi. Trưởng phòng là chức vụ của „chủ tịch“.
Ty Cảnh Sát có Trưởng Ty Cảnh Sát, Ty Công Chánh có Trưởng Ty Công chánh, Ty Quan thuế có Trưởng Ty Quan Thuế.
Nha Lộ Vận, Nha Quan Thuế có Tổng Nha tương đương với Giám đốc, Tổng giám đốc.
Một công ty có nhiều ban ngành thì có Trưởng Ban.
Đài truyền thanh, truyền hình chỉ có giám đốc, không có „chủ tịch Đài truyền hình“ như bây giờ.
Phường Trưởng, Xã trưởng, Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng, Đô Trưởng, Quân Khu Trưởng, không có các „chủ tịch ủy ban“.
Thủ tướng đứng đầu cái mà tiếng Việt hoa mỹ đặt tên là „Nội Các“, không phải gọi là … „Hội Đồng Bộ Trưởng“.
Hội thì có hội trưởng, không có chủ tịch hội.
Tóm lại chữ „chủ tịch“ rất ít xài vì có đủ chữ để xài cho các chức vụ.

chair

Bây giờ ở nước ngoài bắt chước trong nước xài „chủ tịch Hội Người Việt“, „chủ tịch Hội Phụ Nữ“, „chủ tịch Hội Sinh Viên Đại Học Há-Vợt (Havard)“ v.v. Nghe danh từ đao to búa lớn mà hội chỉ là association (Vereinigung), club (Zusammenkunft), group (Gruppe) v.v. và chẳng có chủ tịch nào có nhiều cổ phần trong hội, vì hội là đoàn thể bất vụ lợi, làm gì có cổ phần (shares) hay được quyền quyết định tối cao mà gọi là chủ tịch ?
Tham mưu Trưởng là trưởng phòng hay trưởng ban cố vấn của quân khu, hay của quân đoàn, của sư đoàn. Bây giờ thì dùng chữ „chủ tịch hội đồng cố vấn“.
Chỉ huy trưởng là người đứng đầu trung tâm huyến luyện quân sự hay bộ chỉ huy hành quân. Thiếu tướng Đoàn văn Quảng – ba của bạn tôi, tôi rất hãnh diện về ông – từng là Chỉ huy Trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Còn bây giờ thì dùng „chủ tịch trường đào tạo quân đội nhân dân“, nghe rất lủng củng trục trặc.
Ngày xưa nhóm công tố, biện lý của tòa án thành phố có một người đứng đầu gọi là Biện Lý Trưởng, phụ tá của ông này gọi là Tham Biện, Tham Lý. Bây giờ gọi là chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban công tố. Ngày xưa chức công tố được gọi là Biện Lý, bây giờ gọi là Ủy Viên Công Tố, tại sao lại phải dài dòng như vậy ?
Còn ông „attorney general“ của ngành tư pháp của một nước thì xưa gọi là Chánh Biện, Chánh Biện Lý (attorney principal), bây giờ gọi là „chủ Tịch Hội Đồng Tư pháp Trung Ương“.
Cái gì cũng xài chủ tịch hội đồng cả thì tiếng Việt nó nghèo nàn cỡ nào ?

Có thể tôi không được diễm phúc thấy lúc tiếng Việt hồi phục phong phú như xưa, nhưng nếu tôi làm ngơ, cứ „vô tư“ bắt chước gọi „anh chủ tịch, ơi, cho em nhờ tí nào“,  thì chính tôi tự cảm thấy lòng mình không yên, có gì đó mãi khắc khoải trong tim.

My aunt used to live in Paris.
I remember, she used to come home and tell us these stories about being abroad
And I remember she told us that she jumped into the river once,
barefoot.
She smiled. ..
Leapt, without looking
And tumbled into the Seine
The water was freezing
She spent a month sneezing
But said she would do it again

Dì tôi sống ở Paris
Dì kể tôi nghe chuyện có lần dì nhảy ùm xuống sông Seine
Chân trần
Dì cười …
Nhảy đại không nhìn trước sau
Vùng vẫy trên sông Seine
Nước lạnh cắt da
Cả tháng trời dì cảm bịnh
Nhưng dì quả quyết
Dì sẽ làm chuyện điên rồ ấy lần nữa

La Seine

Tôi cũng muốn chân trần nhảy xuống sông Seine như dì của Mia.

Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung

Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới  của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ !

Bài „Fools Who Dream“ do Emma Stone trình bày