Homeless in Los Angeles

Vietnamesische Version

Es saßen einmal zwei Freunde auf einer Parkbank vor einem großen Parkplatz in LA. Warum waren sie dort?

Es wurde schon viel über die Unterschiede zwischen Frauen und Männer geschrieben. Für mich ist der Hauptunterschied:  die Ehefrauen gehen shoppen und die Ehemänner sitzen auf einer Parkbank in der Nähe des Geschäftes. Stimmt, einer von den obengenannten Freunden, war ich, der andere war der Ehemann der Freundin meiner Frau.

Was taten wir da? Miteinander quatschen ist nicht so’n Ding zwischen Männern, also machten wir das, was Männer am Besten können: Nein, nicht Autos einparken, sondern anderen beim Parken zusehen und uns darüber lustig machen. Aus diesem Grund war der von uns ausgewählte Platz ideal.

Ich weiß nicht mehr wie lange wir dort saßen, weil genauso wie Frauen beim Shoppen das Zeitgefühl verlieren, vergaßen wir auch auf unserer Zuschauertribüne die Zeit. Auf jeden Fall kam irgendwann, während des Zusehens vom „Einparken zusehen und kommentieren“, eine Frau aus einem Geschäft. Sie war mit mehreren Einkaufstüten und einem Art Hawaiihemd in der Hand bewaffnet und kam direkt auf uns zu. Sie wirkte zwar bedrohlich, aber weil wir zu zweit waren, hatten wir keine außergewöhnliche Angst. Aus mehreren Metern, deren Anzahl sich rapide verringerte, fing die Frau etwas zu sagen. Ich weiß nicht mehr in welcher Sprache sie redete, aber es könnte Englisch gewesen sein, denn ich verstand etwa jedes dritte Wort. Mein Sitznachbar, der zwar in Vietnam geboren war, aber seit mehr als 30 Jahren in den USA lebte, erging es genauso, was mich einwenig hinsichtlich meiner Englischkenntnisse beruhigte.

Nach kurzer Zeit stand die Dame noch immer etwas sagen vor uns und gab uns das erwähnte Hawaiihemd. Anschließend drehte sie sich um und ging, diesmal schweigend, wieder weg.

Da saßen wir beide nun. Verwirrt, weil wir ahnten, dass wir auf dem Parkplatz durch diese Störung wahrscheinlich etwas verpasst haben. Nach diesem anfänglichen Schock prüften wir nun diese Gabe, dass eindeutig nicht für Vietnamesen zwischen 1,70m und 1,80m Körperlänge gemacht worden ist, sondern eher für Leute zwischen 1,95m und 1,96m, also eher für mich. Aufgrund dieser Fakten ging das Hawaiihemd in meinem Besitz über.

Welches Lernziel habe ich durch dieses Erlebnis erreicht? Ganz einfach: Beim nächsten Mal, wenn ich Kleidung brauche, werde ich genau zu überlegen, welche Vor- und Nachteile es hat, mit meiner Frau shoppen zu gehen oder auf einer Parkbank einen Parkplatz zu beobachten und dabei ein Hemd auf skurrile Weise erhalten.

Die zweite Möglichkeit ist auf jeden Fall günstiger und müheloser.

Dối lòng

Sáng nay, con bạn tôi gởi một bài thơ mà giả thuyết tác giả là người Thổ Nhĩ Kỳ có xác xuất cao nhất, dù khá nhiều người quả quyết là của Shakespeare hay Bob Marley:

You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.

You say that you love the wind,
But you close your windows when wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too.

Trong những bài dịch tôi thích nhất bài dịch theo phong cách Hồ Xuân Hương:

Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa

Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!

(không rõ tác giả)

Dịch Vũ Hán làm nhiều người bị „cấm túc“

Bần cùng sinh đạo tặc
Cầm chân … há miệng kêu

Không đi đâu được thì ta ở nhà dọn dẹp, lau chùi, giặt giũ, làm việc gà què ăn quẩn cối xay, hay nếu sợ lao động sẽ mòn „bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa“ thì ta làm … thơ, phong cách … Nguyên Sa với Áo lụa Hà Đông, Tháng sáu trời mưa, hay mượn „gió đông“

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

trong Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ.

Dối lòng

Anh bảo nhớ suốt đời mưa tháng sáu
Nắng Sài Gòn mơn áo lụa Hà Đông
Sao ẩn mình khi trời giận nổi giông
Sao che dù, đeo kính, nép bóng râm?

Gió có lạnh anh cầm tay em chặt
Sao ô cửa anh cài tránh đông phong?
Nên em sợ lời anh nói mặn nồng
Biết xa nhau anh có nhớ em không?

À, tôi có diễm phúc sở hữu học bạ của một học sinh trường Chu Văn An Sài Gòn, có ghi tên giáo sư dạy triết là Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.

Tôi không chỉ yêu thơ của Nguyên Sa, tôi cũng rất thích môn Triết-học (Philosophy) nữa.

Hồi ký của Ngoại

Vào cuối đời, ông ngoại tôi có viết hồi ký về cuộc đời của Ngoại, và mẹ tôi đã đem nó theo trong hành trang đi đoàn tụ gia đình ở Đức vào ngày 23 tháng 11 năm 1983. Tôi có đọc qua một lần, rồi quên khuấy đi mất vì mãi lo chạy đua với cơm, áo, gạo, tiền. Nay, con cái đã trưởng thành, thêm vào đó, kỹ nghệ tân tiến giúp ta có thể tự xuất bản sách mà không phải lo ngay ngáy là chi phí in ấn ứng ra liệu có thu về hòa vốn hay không, tôi chợt nghĩ đến việc ghi chép, hiệu đính lại hồi ký của Ngoại, vì nó được đánh máy trên giấy pelure mỏng, đã vàng úa theo thời gian, không biết còn giữ được bao lâu nữa.

Công việc lúc đầu đơn giản chỉ là dùng bàn phím để gõ nội dung vào sách. Tôi làm cho xong, không cảm thấy hứng thú lắm. Càng ngày, do phải truy cứu thêm về địa danh, hình ảnh, phong tục, sự kiện lịch sử v.v. mà Ngoại đề cập đến trong hồi ký, tôi càng bị cuốn hút vào cái „miền bắc xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi“ của một trăm năm trước. Do chưa một lần đặt chân ra đất Bắc, nên với tôi, „Hà Nội ba sáu phố phường“ thật là cổ kính, mê hoặc qua những bức ảnh đã ố màu:

Rủ nhau chơi khắp Long thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

Từ hình ảnh ông đồ với cái tráp hoặc ruột tượng, trường Bưởi ở ven hồ Tây, trường nữ sinh ở phố Hàng Cót, tóc móng lừa, trà Ninh Thái …, tôi làm quen dần với đường Jules-Ferry, rue de Takou, rue du Riz, rue du Papier, le Vieux Théâtre (hí viện đầu tiên của Hà Nội), mỉm cười với bài thơ tứ tuyệt ngộ nghĩnh viết bằng Pháp ngữ của nam sinh „thứ ba học trò“ trường Bưởi:

Bonjour mademoiselle Brequel,
Permettez-moi de faire l’appel.
S’il manque quelqu’un, Lequel?
Bonjour mademoiselle Brequel.

Trong bản hiệu đính lại, tôi giữ cách dùng từ của Ngoại, chỉ viết thêm trong ngoặc nếu khó hiểu hoặc do phát âm của từng miền mà cách viết khác đi. Tôi cũng thêm phần Phụ Lục là những tiểu tiết bên lề có đôi chút liên quan đến những địa danh, phong tục v.v., được đề cập đến trong hồi ký của Ngoại.

Tôi thỉnh thoảng hay làm thơ, từ lục bát tả chị … hàng xóm:

Chị Hiền ở cạnh nhà tôi
Mắt đen lay láy, đôi môi luôn cười
Hàm răng trắng nõn thật tươi
Bàn tay xinh xắn như mười nàng tiên

đến thất ngôn tứ tuyệt mơ về một „người tình không chân dung“:

Ai gọi thu về xua nắng hạ
Cho phượng vỹ buồn khóc tuổi hoa
Con đường lá me không xanh nữa
Tình anh thôi cũng bớt mặn mà

Nhưng tôi chỉ làm được một bài duy nhất về Mẹ:

Mẹ là ánh sáng mặt trời
Soi đường con bước, dạy lời con thưa
Mẹ là hạt nước cơn mưa
Nuôi con khôn lớn sớm trưa chẳng hà
Mẹ là muôn vạn nụ hoa
Cho con hương thắm mặn mà tuổi xuân

Quyển sách này là món quà mà tôi muốn gởi tặng Mẹ, người đã dành cả tuổi xuân để nuôi nấng, dạy dỗ hai chị em tôi nên người.

Aza Lee

Sách xuất bản tại lulu.com:

https://www.lulu.com/en/en/shop/aza-lee-and-beatrice-d%C6%B0%C6%A1ng/h%E1%BB%93i-k%C3%BD-c%E1%BB%A7a-ngo%E1%BA%A1i/paperback/product-wqv24n.html

PS: Trong hồi ký, Ngoại viết: „Tôi cũng muốn, nếu thể hiện được, sẽ tặng mấy bạn học cũ của tôi, trước hết là anh bạn nội trú nói trên mà tôi rất cảm phục tính cần cù và năng động trong lãnh vực văn học, mặc dù niên kỷ đã vượt quá xa cái mức „cổ lai hi“, sau là tặng bạn tiểu học cũ của tôi ở Phúc Yên cùng tôi còn sống đến ngày nay.“
Aza Lee mạn phép đăng tên những người Ngoại nhắc đến trong hồi ký. Nếu ai biết hậu duệ, con cháu của các vị này, xin vui lòng liên lạc với Aza Lee qua lee.aza44@yahoo.de để nhận sách tặng và giúp Aza Lee thực ước nguyện của Ngoại nói trên, dù Ngoại đã không còn nữa.

CÁC BẠN ĐÀN ANH
1- Ái (con cụ Hàng Phở)
2- Đạm (con cụ Án Nguyễn Doãn Thạc)
3- Phạm Tất Đắc (con cụ Đồ Chưng), Saigon
4- Cao Doãn Dịch (con cụ Phán Nhẫn), chết
5- Chu Xuân Giản (con cụ Thủ Nam), chết
6- Đặng Văn Minh (con cụ Đồ Túc)
7- Minh (Lưu Văn Minh?), cháu cụ Lang Hồ
8- Vũ Huân (con cụ Phán Nguyên), chết
9- Hiếu (con cụ Hội Sửu)
10- Vũ Thấp Hy (con cụ Cử An Bài), Saigon
11- Đỗ Như Ngọc (em ông Giám đốc nhà xuất bản Mai Lĩnh)
12- Bùi Thế Quang (em cụ Khoa, lục sự tòa án Đ.N.C Phúc Yên), chú thích: Đ.N.C. là viết tắt của Đệ Nhị Cấp
13- Phạm Vũ Sinh, chết
14- Tuyên (quê xã Nhuế Khúc)
15- Thụy, Vĩnh Yên
16- Vinh (con cụ Ký Đen)
CÁC BẠN CÙNG LỨA TUỔI
1- Ái (trọ phố Dinh)
2- Trần Gia Am (con cụ Hội viên Tường), chết
3- Bằng (con cụ Đồ Dực)
4- Bập (con cụ Cai bẻ ghi tàu), chết
5- Cơ (con cụ Bếp Toàn)
6- Bủng (con bà bán hàng xén)
7- Chu Xuân Chạc (con cụ Thủ Nam), chết
8- Chắn (con cụ Kèn Ngữ)
9- Vũ Tá Chiểu (con cụ Hải Nam)
10- Trần Q. Đình (con cụ Phán Trần Huệ Viễn), chết
11- Dương (con cụ Phó Tiện)
12- Giai (con Bà Văn Tháp Miếu)
13- Vũ Tá Hân (con cụ Hải Nam)
14- Trịnh Hiện (con cụ Nghĩa Lợi), chết
15- Học (con cụ Ký Ban)
16- Cao Nhật Hoàn (con cụ phán Nhẫn), chết
17- Nguyễn Thị Hồng (con cụ Phán Giới), Saigon
18- Vương Văn Hợi (con cụ Cai Ai), chết
19- Ích (con cụ Tư Hồ)
20- Bùi Như Ý (cháu Bà Giám binh VINCENTI)
21- Kính (cháu cụ chủ Bưu điện Ngoạn)
22- Kháng (con cụ Nghị Truyền Sáp Mai)
23- Lăng (con cụ Hậu Bỗ Mậu Lâm)
24- Liên (con cụ Cả Bò), chết
25- Mầu (cháu ông Thú y đương thời tỉnh Phúc Yên)
26- Minh (cháu cụ Trợ Khoan)
27- Nghĩa (con cụ Tỵ hàng cơm)
28- Phán (con cụ Cai Ba Nhàn)
29- Phưởng(cháu cụ giáo Chinh)
30- Quảng (con cụ Đề Nhung)
31- Quý (con quan huyện đương thời ở Kim Anh)
32- Trịnh Như San (con cụ Ba Khoát), chết
33- Võ Hoàng San (con Bà Xếp Cát), chết
34- Vũ Minh Tâm (cháu Bà Ba Điếc), chết
35- Tĩnh, tức Paul Menu (con bà Cẩm Béo)
36- Cao Thiện (quê huyện Văn Lâm, Hưng Yên), Saigon
37- Phạm Chí Thọ (con cụ Quản Trạch ở Nội Đông, Phúc Yên)
38- Thực (con ông Phó Tiện)
39- Trị (con cụ Nghị Truyền)
40- Đặng Đình Vân (con cụ đội Lâm nhà Đoan, quê Hải Dương)
41- Vũ Nam Việt (con cụ Phán Nguyên), Canada
Tính ra tôi đã nhớ được 57 bạn.
(trích từ trang 57-60)

Parler à mon père

Votre père, notre grand ami, était pour nous un homme simple, discret, généreux, plein d’esprit et d’humour, mais aussi un conteur extraordinaire et un homme très cultivé. Épris de la culture et de la langue française, amoureux de poésie en particulier, poète lui-même. Grand lecteur des poésies vietnamienne, chinoise et française, qu’il connaissait très bien, il y a puisé toute sa délicatesse, son art de vivre et son sens de l’humanité. C’était un être rare donc, que nous avons eu la chance de rencontrer et avec qui nous aimions beaucoup échanger. Un ami fidèle enfin qui plaçait l’amitié à un très haut niveau. Toute cette richesse humaine qu’il y avait en lui est le bel héritage qu’il vous laisse en partant.
Aujourd’hui, il sait ce qu’il en est de la suite du monde. Moi je l’ignore, mais je suis sûr qu’où qu’il puisse être, il sera bien reçu. Et c’est là qu’il nous attendra …
Anne et Jacques-Bernard 

Nói với ba

Dịch cúm Vũ Hán là nỗi đe dọa lớn cho những người như tôi, tức là có cha mẹ ở tuổi „Bát thập trượng vu triều“ hoặc hơn nữa là „Cửu thập giả, thiên tử dục vấn yên, tắc tựu kì thất“ (80 tuổi chống gậy trong triều, 90 tuổi, nếu thiên tử có việc muốn hỏi, thiên tử phải đến nhà).
Và nó đang đe dọa ba của một người bạn tôi.
Hồi còn đi học, mỗi lần đến nhà nó chơi, tôi chỉ „Dạ con chào bác ạ!“ cho đủ thủ tục rồi phắn mất, vì nói cho ngay, ông không nằm trong mục tiêu đến thăm viếng của tôi. Lớn lên, bạn bè mỗi đứa định cư ở một quốc gia, cách nhau hơn nửa quả địa cầu, nên mỗi lần đến nhà nó chơi, bằng mọi giá tôi phải gặp ông để „Dạ con chào bác ạ!“ dù ông vẫn không nằm trong mục tiêu đến thăm viếng của tôi, có lẽ vì tôi muốn được nghe ông kể chuyện ngày xưa, đánh thức những kỷ niệm tưởng đã bị vùi chôn theo năm tháng. Bây giờ, tôi có thể hình dung ra được thế nào là „gare Lyon đèn vàng“, tưởng tượng được cảnh ông rảo bước lang thang lục tìm sách cũ ở những quầy nhỏ nhỏ dọc trên dòng sông Seine, hiểu được nỗi lòng kẻ sinh viên du học túi không tiền mà dám chơi ngông đi „xe ngoắc“ sang đến tận Bỉ quốc, tức là chỉ với ba-lô trên vai, vừa lội bộ trên đường quốc lộ vừa giơ tay ra „ngoắc“, nếu may có ai động lòng trắc ẩn thì cho đi quá giang một quãng. Chuyện của ông thì nhiều lắm, từ thơ văn, triết lý, đến chuyện gia đình, tình yêu chung thủy với người vợ hoa khôi Đà Lạt hay chuyện đứa con gái mà bạn ông, nhà văn Duyên Anh, đã lấy tên làm tựa cho tác phẩm Trần Thị Diễm Châu (Châu Kool). Ông như một thư viện cổ kính với vô vàn những quyển sách cũ đã nhuốm màu theo thời gian, mỗi trang là một kho tàng ký ức vô giá. 

Je voudrais freiner pour m’asseoir,
Trouver au creux de ma mémoire
Des voix de ceux qui m’ont appris
Qu’il n’y a pas de rêve interdit.

Đoạn này trong bài hát „Parler à mon père“ của Céline Dion mà tôi rất thích với câu „Qu’il n’y a pas de rêve interdit“, tạm dịch „Giấc mơ không là trái cấm“, vì nó cũng triết lý như có lần ông nói với tôi „Không có cỏ dại con à, chỉ có cỏ mọc không đúng chỗ.Mỗi lần thất bại tôi đều nhớ đến những lời này của ông, cỏ dại vẫn có thể ngạo nghễ vươn lên khi nó tìm được chỗ đứng xứng đáng dưới ánh mặt trời.

Tôi chọn tựa bài viết là „Nói với ba“ như tựa bài hát „Parler à mon père“.
Bạn tôi dịch nó trong nước mắt nhớ thương cha.

Parler à mon père Nói với ba
Je voudrais oublier le temps
pour un soupir, pour un instant,
une parenthèse après la course,
et partir où mon cœur me pousse.
Je voudrais retrouver mes traces
où est ma vie, où est ma place,
et garder l’or de mon passé
au chaud dans mon jardin secret.

Je voudrais passer l’océan,
croiser le vol d’un goéland,
penser à tout ce que j’ai vu,
ou bien aller vers l’inconnu.
Je voudrais décrocher la lune,
je voudrais même sauver la terre
mais avant tout, je voudrais parler à mon père.

Je voudrais choisir un bateau,
pas le plus grand ni le plus beau,
je le remplirais des images
et des parfums de mes voyages.
Je voudrais freiner pour m’asseoir,
trouver au creux de ma mémoire
des voix de ceux qui m’ont appris
qu’il n’y a pas de rêve interdit.

Je voudrais trouver les couleurs,
des tableaux que j’ai dans le cœur,
de ce décor aux lignes pures,
où je vous vois et me rassure.
Je voudrais partir avec toi,
je voudrais rêver avec toi,
toujours chercher l’inaccessible
toujours espérer l’impossible.
Je voudrais décrocher la lune,
je voudrais même sauver la terre,
mais avant tout, je voudrais parler à mon père.

L’âme est un cristal,
et l’amour sa lumière

Con muốn quên thời gian để thở dài,
ngừng cuộc đua và đến chỗ trái tim.
Con muốn tìm dấu vết cuộc đời riêng,
biết ở đâu để giữ vàng quá khứ
trong khu vườn ấm áp rất thiêng liêng.

Con muốn vượt đại dương cùng chim biển,
nghĩ đến điều đã thấy giữa mênh mông.
Con muốn gỡ mặt trăng và thậm chí
cứu muôn loài, nhưng giờ sao con chỉ
muốn nghe ba và được nói cùng ba.

Con muốn chọn chiếc thuyền con xinh xắn,
rồi lấp đầy bằng kỷ niệm, hương thơm
của những chuyến rong chơi trên biển lắng
và bao lần phiêu lãng mãi trời xa.

Con rất muốn dừng chân rồi ngồi xuống,
lục tìm sâu trong ký ức ùa về
tiếng những người đã làm cho con muốn
tiếp tục mơ, ai cản được bao giờ.

Nhưng giờ đây con chỉ ước
được nghe ba và được nói cùng ba

Con còn muốn thấy sắc màu của những
bức tranh con luôn giữ mãi trong tim.
Rồi tìm chốn bình yên và thuần khiết,
sống an vui, buông bỏ hết ưu phiền.

Con đã muốn làm bao điều như thế,
nhưng giờ đây con chỉ ước làm sao
được nghe tiếng của ba, nhưng không dễ
muốn nghe Người nói khẽ:„ba không sao.“

Con còn muốn đi xa cùng ba nữa,
mình cùng mơ chạm tới chốn vô thường,
tưởng không thể nhưng chắc rằng ba biết
tình yêu Người là ánh sáng hồn con.

Tiffany

Tiffany không phải là thương hiệu trang sức nổi tiếng thế giới Tiffany & Co. với trụ sở chính ở New York. Tiffany là bạn của tôi từ thời tiểu học. Chúng tôi lạc mất nhau từ năm 1975 khi còn đang học lớp sáu. Tiffany di tản sang Mỹ. Tôi kẹt lại ở Việt Nam, một thời gian sau mới vượt biên thoát, được tàu Đức vớt và định cư tại Đức.

Thế kỷ 21.
Thời đại của Internet, Facebook, Twitter, mạng xã hội, v.v.
E-mail đã lỗi thời. E-mail không còn thông dụng, không trò chuyện, chít chát gì được nên chúng bạn âm thầm bỏ tôi ra đi không lời từ giã. Tôi đành chặc lưỡi mở một account ở Facebook vì bạn bè của tôi chỉ liên lạc với nhau qua Facebook,  dù lúc bấy giờ nó hoàn toàn lạ lẫm đối với tôi. Và tôi đã tìm được Tiffany trên … Facebook. Một trùng hợp vô tình là Tiffany cũng sống ở New York giống như Tiffany & Co. Chúng tôi vui mừng vô hạn khi liên lạc được trở lại. Tôi vượt đại dương sang thăm Tiffany ở Brooklyn.
Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi cũng trạc tuổi Bethy. Chúng nó lập tức thân nhau ngay từ buổi đầu tiên gặp gỡ. Chồng tôi thì trao đổi với chồng Tifffany về nội dung thời báo New York Times mà anh ta đọc mỗi buổi sáng vào bữa điểm tâm. Còn tôi và Tiffany ra rả đủ chuyện như thể chúng tôi chưa bao giờ xa cách.
Tiffany có một trang web: www.tiffanyrothman.com. Người thiết lập trang web này chẳng biết trôi giạt phương nào, Tiffany chỉ còn nhớ tên của anh ta mà thôi.
Tất cả những gì tôi biết về Tiffany là thỉnh thoảng Tiffany nhận lời trình diễn trong các vở kịch hoặc xuất hiện trên phim ảnh.
Tất cả những gì Tiffany biết về tôi là tôi làm việc với máy tính, tức là tôi giống cái anh chàng thiết lập trang web chẳng biết trôi giạt phương nào vừa kể đến ở đoạn trên.
Tiffany hoàn toàn không biết tôi thậm chí chẳng hề biết viết lập trình (programming), dù nghề chuyên môn của tôi thuộc về ngành vi tính.
Nhưng tôi không thể để bạn mình thất vọng.
Tôi thức đêm „vật lộn“ với HTML theo kiểu „trial and error“, tức là thử đại, sai thì ta lại … thử tiếp, again and again. Tôi chiến đấu với youtube, đánh nhau với URL (Uniform Resource Locator, thường là một hàng dài thòng lòng với nhiều từ vô nghĩa ráp lại với nhau), truy kiếm phần mềm miễn phí để tu sửa, ấp-lốt (upload), đào-lốt (download) hình ảnh … vân vân và … vất vả, vật vờ.
Tôi vò đầu bứt tai vì bí lối.
Tôi làu bàu chửi rủa vì trật đường.
Tôi gào thét điên cuồng vì tuyệt vọng.
Rồi tôi vỗ đùi cười khoái chí khi trang web được sửa đổi, thêm bớt, đúng như ý Tiffany tưởng tượng (chú thích: tôi dùng chữ „tưởng tượng“ vì thế giới vi tính của Tiffany khác hẳn thế giới vi tính của tôi). Niềm vui phải gọi là „vi-mô“ (dịch từ chữ micro) nếu đem so sánh so với những đêm mất ngủ để đi tìm giải đáp cho những vấn đề của trang web.
E-Mail trả lời đôi khi cũng vi-mô không kém: „Thanks XXO“.
Nhưng tôi biết ở bên kia địa cầu Tiffany hài lòng, Tiffany ngủ ngon. Chỉ cần thế thôi. Vì Tiffany là bạn của tôi. Và bạn sẵn sàng làm tất cả để Tiffany hài lòng, để Tiffany ngủ ngon bởi duy nhất một lý do đơn giản: Bạn bè là liều thuốc an thần tự nhiên không pha tí hóa chất nào.

Chẳng những vậy, theo thời gian tôi còn học thêm được một ngôn ngữ mới: HTML1)

1) viết tắt của HyperText Markup Language, là một ngôn ngữ kỹ thuật được dùng để lập trang web.

Language is the dress of thought

Trong bài Blog với đề tài là quyển sách „Tìm hiểu tiếng Việt, chữ Việt của chúng ta“ của cậu Tiền Vĩnh Lạc (tôi gọi ông là cậu vì ông là cậu của thằng bạn của tôi, thấy sang bắt quàng làm họ mà) có đoạn:
Trong ca khúc „Tình Đất Đỏ Miền Đông“ của Trần Long Ẩn có câu: „Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi …“ Tổ quốc đâu phải là „người“?
Tôi bút đàm (tức là i-meo ì xèo) với nó kể rằng đọc đến đoạn này của sách thì tôi phì cười, thế là nhận được một i-meo trả lời mà tôi mạn phép đăng lên đây để „thanh minh thanh nga“ (người miền Nam hay dùng từ này ý nói phân trần, giải thích) rằng tôi chỉ bật cười vì cái ý khôi hài của cậu Tiền Vĩnh Lạc trong đoạn văn đó mà thôi!

„My homeland YOU are in my heart always“, câu này có từ thời vệ binh quốc gia Hoa Kỳ phôi thai 1636, tiếng Việt có nghĩa là „Tổ quốc ơi tôi yêu NGƯỜI mãi mãi“, sau này năm 1824 slogan đổi lại  „Always ready always there“, sẵn sàng ở mọi nơi bất cứ tình huống, nghe mạnh mẽ hơn và có tính quyết định hơn.
„Quốc gia QUÂN, mỗ thệ trung thành“, có từ thời Xuân Thu, QUÂN là YOU, đại danh từ ngôi thứ hai, tổ quốc ơi tôi thề trung thành với „NGÀI“.
YOU, QUÂN, NGƯỜI, NGÀI … là mình nhân cách hóa nghe cho nó văn chương một chút. Từ ngàn xưa, trong văn chương người ta đã nhân cách hóa ánh trăng, con sông, hoa mẫu đơn là bằng hữu, tri kỷ, mỹ nhân … là một loại bất quy tắc trong văn phạm.
Người miền Bắc bắt chước cách hành văn của người Tàu dưới đời nhà Thanh cho nên cách sắp xếp từ đôi khi trật búa một chút. Triều đình Thanh, nguyên thủy là dân Mãn Châu mọi rợ, nghèo khổ ở khu vực Hắc Long Giang Đông bắc nước Tàu. Dân Mãn châu không có thơ phú gì cả, ngôn ngữ cả nước Manchurian lúc đó chỉ có khoảng 5000-6000 chữ, so với ngôn ngữ toàn nước Tàu thời đó là Quảng Đông (Cantonese) và Cổ Việt (Middle time Yueh) là 70.000-75.000 chữ. Người Tàu gọi ngôn ngữ Mãn châu Manchurian là tiếng Quan Thoại (官話 (guānhuà),  „Quan“ nghĩa là bên kia biên giới (quan ải), Thoại nghĩa là tiếng nói (đối thoại, điện thoại), Quan Thoại có nghĩa là tiếng nói bên kia biên giới của Đại Tống, Đại Minh. Khi người Mãn châu đánh chiếm nước Trung Hoa lập ra nhà Thanh – tức là thằng dốt nghèo đè đầu đè cổ thằng khôn giàu giống như Việt Nam bây giờ – bắt dân Tàu phải nói tiếng Mãn Châu, ú ớ trọ trẹ mà người Tàu thời nay vẫn chế diễu là clumsy chinese (tiếng Tàu ngọng). Nhưng tiếng Mãn châu cuối cùng không đủ chữ để diễn tả, cho nên lấy tiếng Quảng Đông phiên dịch ra tiếng Mãn Châu mới, biến âm trọ trẹ một chút cho nó giống tiếng ngọng của thằng ngu và đổi thành tiếng Mandarin như ngày nay. Tuy nhiên các tỉnh miền Nam (vùng Giang Nam- phía Nam sông Dương Tử) trù phú giàu có như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang (đọc lại bài Giang Hồ) vẫn còn dùng tiếng Quảng Đông. Sở dĩ âm tiếng Việt (Yueh) và tiếng Quảng Đông (Cantonese) giống nhau tới 80-90% trong nhiều chữ vì từ một gốc tiếng Trung, hay Middle, mà ra. Middle Chinese language có từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên. tức là thời Xuân Thu (Spring and Autumn Period), thời của ba nước Sở-Ngô-Việt, cũng chính là thời của các tộc cổ Việt sống ở vùng Giang Nam-Ngũ Lĩnh. Người Việt mình, nhất là các học giả về sử học, không bao giờ chịu vô các viện bảo tàng thế giới để truy ra xem nguồn gốc dân tộc Việt, tổ tiên của dân Việt ở đâu ra, cứ khư khư ôm lấy cái huyền sử con rồng cháu tiên cho đó là chính sử, bô bô phủ nhận Sở-Ngô-Việt hổng phải tổ tiên người Việt. Một số học giả quá khích kêu gọi bỏ tiếng Hán-Việt, chỉ xài tiếng „Việt“, mà nếu chỉ xài tiếng „Việt“, có dưới 1000 từ, làm sao trao đổi ý tưởng?
Khi nhà nước Trung Hoa Dân Quốc trưng cầu dân ý nên thống nhất ngôn ngữ cả nước là tiếng Quảng hay tiếng Phổ Thông (tên gọi mới của tiếng Quan Thoại), tiếng Phổ Thông chỉ hơn 1 lá phiếu cho nên được chọn là tiếng thống nhất của quốc gia Trung Hoa Dân Quốc. Dân Tàu chọn dễ bỏ khó, vì đã lỡ nói tiếng Mandarin suốt 3 thế kỷ, học lại tiếng Quảng rất là trần ai lao khổ cho nên chọn tiếng Mandarin. Trước đó, vào lúc nhà Thanh thống nhất đất nước, người Tàu nói tiếng Quảng vì không chấp nhận thằng ngu đi thống trị mình, nhiều người bỏ nước ra đi ồ ạt sang Lào, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam thành một làn sóng „bô đào dân“ (bô zhào mín) hay còn gọi là người Minh Hương (người Tàu quê quán là nhà Minh), vì thế dân Tàu ở Việt Nam và các nước lân cận vẫn nói tiếng Quảng.
Khi người Tàu tràn sang Việt Nam, nhận thấy vua Lê chúa Trịnh (đàng Ngoài) thần phục nhà Thanh, họ lại bỏ miền Bắc đi vào miền Trung (Đàng Trong) làm thần dân của chúa Nguyễn, lúc đó là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Người Tàu sống ở miền Bắc từ thời Lý -Trần, có thể gọi là người Việt gốc Hoa, cũng chả ưa chúa Trịnh vua Lê quỵ lụy nhà Thanh, lần lượt di cư vô Đàng Trong. Họ tuy rằng là người Hoa nhưng có tinh thần yêu nước hơn một số người Việt bây giờ. Chúa Sãi gã công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (em gái của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) cho vua Chân Lạp để đổi lấy nguyên một vùng đất rộng lớn vẫn còn hoang dã phía Nam Thuận Hóa, hình như kéo dài đến Gò Công, sau đó chừng 1/2 thế kỷ khu vực khai khẩn kéo dài tới Hà Tiên. Chúa Sãi hỏi ai muốn vô Nam khai khẩn chúa sẽ giúp, dân Tàu nói tiếng Quảng và Tiều (Phúc Kiến -Triều Châu) ồ ạt xung phong đi khai khẩn đất hoang, mấy trăm năm sau các tỉnh miền Nam như Rạch giá, Cần Thơ, Bạc Liêu, Hà Tiên toàn người Việt gốc Hoa.
Miền Bắc chịu ảnh hưởng ngôn ngữ của tiếng clumsy chinese, cái hay không học lại đi học theo cái dở cho nên cách hành văn đặt câu bắt đầu trật đường rầy.
Miền Nam do vẫn duy trì song song tiếng Việt và tiếng Quảng, cho nên ngữ vựng, nhất là cách xưng hô trong gia tộc, vẫn phổ cập và chính xác hơn miền Bắc. Miền Nam có Bác, Chú, Cô, Cậu, Dì, Dượng, Mợ, Thím để phân biệt vai vế bên nội, ngoại và dâu rể, miền Bắc chỉ có Bác, Cô, Chú, xài chung cho nội ngoại và dâu rể.
Các giáo sĩ Latin người Ý và Bồ đào Nha sang Đàng Trong để đi truyền giáo vào khoảng năm 1600-1625, trong đó có giáo sĩ Francesco de Pina (portuguese) bỏ công phiên âm tiếng An Nam từ chữ Nôm sang mẫu tự Latin, chữ quốc ngữ ra đời từ đó. Đến thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes, ông dùng lại gia sản chữ quốc ngữ phôi thai của giáo sĩ Francesco de Pina, bổ sung thêm, hệ thống hóa và hoàn thành bộ chữ Việt Ngữ alphabetic. Từ 75.000 bộ chữ Nôm đồ sộ xuống còn 20.000 và bây giờ dưới 10.000 chữ alphabetic mà vẫn diễn tả được tất cả mọi thứ nhờ hệ thống văn phạm chữ đơn. Từ đầu thế kỷ 20, khi văn phạm tiếng Việt ở trong Nam không ngừng tu chỉnh để hoàn thiện thì miền Bắc vẫn còn dùng từ ngữ theo lối ăn nói của tiếng clumsy chinese, tức là tiếng Mandarin, nguyên thủy là tiếng của thằng ngu. Học giả và giới trí thức miền Bắc cũng học theo cách ăn nói của người miền Nam, tuy nhiên dân bần cố nông nghèo khổ thì cả đời vẫn chỉ dùng đi dùng lại vài trăm từ. Lấy thí dụ học giả Phạm Quỳnh Phan Khôi viết nhiều bài giá trị, nhưng vẫn còn bị sai chính tả và trật văn phạm đây đó trong cách hành văn vì quen dùng lối cũ, mà lối cũ thì bị ảnh hưởng tiếng Mandarin, cũng khó trách được các cụ.Tiếng Đức là một ngôn ngữ thuộc loại không phải dễ học, vậy mà trong lịch sử phát triển tiếng Đức chỉ cải cách ngữ vựng có 2 lần, lần đầu vào năm 1901 và lần thứ hai 1996, những cải cách khác được xem như bổ túc thêm thôi. Trong cả hai lần cải cách này mục tiêu chính là „thống nhất ngữ vựng“ (tiếng Đức còn là ngôn ngữ chính thức tại Áo, Thụy Sĩ, Nam Tyrol (Ý), Bỉ và Liechtenstein có cộng đồng nói tiếng Đức, ở Luxembourg nó cũng là ngôn ngữ chính, nhưng không phải là ngôn ngữ của số đông người dân nước này) và „đơn giản hóa chính tả“.
Tiếng Đức „deutsch“ có nguồn gốc từ tiếng Germanic và có nghĩa là „thuộc về dân“. Không có đạo luật Đức nào bắt người dân phải nhất nhất tuân theo, tức là trên lý thuyết, công dân Đức có quyền dùng tiếng Đức theo ý của họ. Tuy vậy, họ có thể lệ là những người thuộc chánh quyền, quân đội, công sở, các cơ quan giáo dục (kể cả học sinh, sinh viên) thì phải … viết đúng ngữ vựng, văn phạm (tôi còn nhớ hồi trung học, luận văn mà bị gạch đỏ chừng 5,7 chỗ do viết sai văn phạm, chính tả, là sẽ bị trừ một điểm – hệ thống cho điểm là từ 1, tương đương với xuất sắc, đến 6, giống như „thầy cho ăn hột vịt lộn rồi em ơi!“).

Samuel Johnson, người biên soạn Từ điển tiếng Anh xuất bản năm 1755, từng nói: Language is the dress of thought (Ngôn ngữ là y phục của tư tưởng). Quần áo là thứ ta dùng để bảo vệ, hỗ trợ, che giấu và sáng tạo. Nó có thể nói lên sự thật của người đang mặc, có thể bắt mắt, đại diện, đôi khi khiêu khích. Quần áo thể hiện một bản chất rất cụ thể, theo sở thích và nhu cầu. Nhưng điều quan trọng nhất là: nó phải vừa vặn đối với bạn!

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi (chú thích: lại „NGƯỜI“ nữa rồi!)
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!
Tình ca Tiếng Nước Tôi (Phạm Duy)

Thứ Bảy vì tương lai

Deutsch

Từ nhiều tháng nay, phong trào biểu tình mang tên „Fridays for future“ đòi giữ môi trường cho thế hệ tương lai là đề tài được nói đến gần như hằng ngày trên báo chí, truyền thanh, truyền hình. Nỗi sợ hãi về một tương lai ảm đạm đầy ô nhiễm đã đẩy học sinh, sinh viên tham gia „đình công không đi học“, xuống đường giăng biểu ngữ đòi quyền lợi.
Thời tôi còn sống dưới chế độ cộng sản ở Việt Nam, người ta thường tuyên truyền „vì lợi ích trăm năm trồng người“. Ý tưởng này xuất phát từ Quản Trọng, một chính trị gia và triết gia thời Xuân Thu Chiến Quốc (khoảng từ năm 475 đến năm 221 trước Công nguyên).

Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc.
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân,
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã.
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã,
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã.

Kế hoạch một năm không gì hơn trồng lúa.
Kế koạch mười năm không gì hơn trồng cây.
Kế hoạch trọn đời (trăm năm) không gì bằng trồng người.
Trồng một, gặt một, là lúa.
Trồng một, gặt mười, là cây.
Trồng một, gặt trăm, là người.“

Hôm qua nhà máy cưa gỗ „Eigelshoven“ ở Würselen tổ chức „Sommerfest“, đại khái là một buổi gặp gỡ ngoài trời, có ăn uống, trò chơi, hướng dẫn tham quan hãng xưởng cho những ai … rảnh rỗi muốn ghé xem. Tôi cũng rảnh, nhưng ghé không vì tò mò mà do có nhận được quảng cáo với hai phiếu ăn miễn phí cho một xúc xích và một ly nước.

Không khí khá nhộn nhịp: nào là được ngồi cạnh tài xế trong buồng lái của xe bốc hàng, chơi những trò chơi ngoài trời như như nhảy trên phao hơi, đá banh bàn, rút gỗ Jenga, làm hình trái tim từ những cây đinh, và đương nhiên có bán kem, xúc xích, khoai tây chiên, bia, nước ngọt v.v. Xin nhắc lại là chỉ miễn phí cho ai có phiếu cắt từ các tờ quảng cáo.

Hiện nay ở Đức rất khan hiếm người thích ngành nghề có liên quan đến tay chân. Có lẽ một phần do ở trường nam sinh không còn học thủ công lắp ráp, còn môn nữ công gia chánh cho nữ sinh thì đã „lỗi thời“ rồi chăng? Nấu ăn ư? Để làm gì? Pizza, Burger, Dörner … nhan nhản ở mọi góc phố. Đói bụng gọi điện thoại một cú là có đồ ăn giao đến tận cửa. Nếu cái gì đó bị hỏng, chỉ cần vứt đi và mua cái mới. Thứ Sáu phải đi biểu tình đòi khí hậu tương lai tốt, môi trường tương lai sạch đẹp, làm gì còn có thì giờ để thay cái bóng đèn bị cháy, mà cũng không thể thay được vì đó là loại đèn LED dùng một lần, được sản xuất tại Trung Quốc.

Trở lại buổi „Sommerfest“ của nhà máy cưa gỗ „Eigelshoven“ ở Würselen: tuy trò chơi rút gỗ Jenga hấp hẫn hơn bảng chiêu sinh dựng ở kế bên, nhưng ý tưởng của Quản Trọng xem ra cũng không dở:
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã
Muốn thu hoạch gấp trăm lần phải „trồng người“.
Ai đầu tư vào một đứa trẻ sẽ gặt hái gấp trăm lần. Biết đâu đứa bé đang ngồi đóng trái tim bằng đinh lên gỗ kia sau này sẽ trở thành một thợ cơ khí tài năng? Bạn không bao giờ đoán trước được bởi hôm nay là ngày „Thứ Bảy vì tương lai“.

Chơi rút gỗ Jenga – Bên cạnh là bảng tuyển sinh

Saturday for future

Tiếng Việt

Seit Monaten ist „Fridays for future“ in allen Munden. Die Angst vor einer düsteren Zukunft treibt Menschen auf die Straßen, vor allem junge Leute.
Als ich noch in Vietnam unter der kommunistischen Regierung lebte, wurde in der Schule oft propagiert: „Der Grundstein für einen 100-Jahres-Plan ist das Züchten von Menschen“.  Der ursprüngliche Gedanke stammte eigentlich von Guan Zhong, ein  berühmter chinesischer Politiker und Philosoph der Zhanguo-Zeit, die Zeit der Streitenden Reiche (zwischen 475 v. Chr. und 221 v. Chr. ).

Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
hập niên chi kế mạc như thụ mộc.
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân,
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã.
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã,
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã.

auf Deutsch etwa:

Willst du einen guten Ein-Jahresplan: pflanze Reis,
Willst du einen guten Zehn-Jahresplan: pflanze Bäume.
Willst du einen guten lebenslangen Plan: pflanze Menschen.
Wer einen Reiskorn sät, wird für eine Ernte belohnt.
Wer einen Baum pflanzt, wird das Zehnfache zurückbekommen.
Wer in einem Mensch investiert, wird das Hundertfache ernten.

Am Samstag war ich beim Sommerfest des Sägewerks „Eigelshoven“ in Würselen, weniger aus Neugier, sondern mehr wegen den beiden Gutscheinen für eine kostenlose Bratwurst und einem freien Getränk.

flyer

Es war viel los: Radlager fahren (als Beifahrer versteht sich), Hüpfburg, Menschenkicker, Jenga mit überdimensionalen Holzstücken, Nagelherz basteln, und natürlich Essen und Trinken mit oder ohne Gutschein.

Was mich so wunderte, war die Anzahl von Kindern in Vorschul- und Grundschulalter: es waren relativ viele. Zwar interssierten sie sich eher für den nicht aus Legosteinen gebauten sondern echten, riesengroßen Bagger (Volksmund), als für die offenen Ausbildungstellen für beispielweisen Holzbearbeitungsmechaniker oder Mechatroniker, aber die Begeisterung in ihren Augen war nicht zu übersehen.
Es ist kein Geheimnis, dass Interessenten für Handwerksberufe als Magelware in Deutschland eingestuft sind. Vielleicht liegt es zum Teil daran, dass in der Schule die Fächer wie Handwerken für Jungs, und Nähen, Kochen für Mädchen „out of date“ sind. Kochen? Wozu? An jeder Ecke gibt es Pizza, Burger, Dörner … oder alles was der Magen begehrt als Lieferservice. Es wird nicht mehr repariert, wenn was kaputt ist, sondern einfach weg schmeissen und neu kaufen. Die Jugend von heute denkt an „Fridays for future“ anstatt die kaputte Lampenbirne auszuwechseln (was natürlich nicht möglich ist, da es nur noch Einweg-LED-Lampen „Made in China“ im Umlauf sind).

Zurück zum Sommerfest im Sägewerk „Eigelshoven“ in Würselen.
Zwar sind die Holzklotzen beim Jenga-Spiel anziehender als der nebenstehende Rollup-Banner „Wir bilden aus“, aber wenn man an die Gedanken von Guan Zhong denkt, war das Ganze gar nicht so verkehrt: Wer in einem Mensch investiert, wird das Hundertfache ernten. Vielleicht wird später aus dem Kind, das gerade an sein Nagelherz herum bastelt, ein begabter Holzbearbeitungsmechaniker? You never know. Es war halt „Saturday for future“.

jenga
Jenga-Spiel

Ai là tác giả bài „Tiền và lá“?

Trong bài Blog „Dậy sao?“ tôi có trích thơ „Tiền và lá“, đề tác giả là Kiên Giang, dù nhiều giả thuyết cho rằng Nguyễn Bính mới là chủ nhân thật sự.
Tôi có tìm thấy một bài trên mạng mà trong đó nhà thơ Kiên Giang xác nhận bài này là của ông, Nguyễn Bính chỉ sửa vài chỗ thôi. Tôi không những „phen“ (fan) Kiên Giang với „Hoa trắng thôi cài lên áo tím“, mà tôi cũng phen „Tiền và lá“, tiền thì khỏi giải thích rồi, lá thì năm nào thu đến tôi đều ca cẩm:
Thu ơi thu đến làm chi?
Lá rơi, gió cuốn thổi đi phương nào ?

Nhiếp ảnh gia: Nicholas Đặng

Vì vậy tôi chong đèn đọc đi đọc lại
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra

để xem „dáng thơ“ ra sao, xem tiền của ai, xem lá của ai?
À, để độc giả có thể so sánh tôi xin đăng lại bài thơ với hai ghi chú khác nhau về tác giả nhé!

Kiên Giang Nguyễn Bính
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“
Ngày thơ, mẹ bắt đeo „bùa cầu ông“.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn „tượng người“,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“.
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!
Tuổi thơ tóc để gáo dừa,
Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cần ong.
Hai ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay nhau giữa cánh đồng cỏ xanh,
Hai nhà chung một mái gianh,
Chia vui từng trái ngọt lành có nhau,
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời,
Em moi đất nặn hình người,
Anh thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Em mang ra bán lấy tiền lá rơi.




Tiền là giấy bạc em ơi!
Tiền là giấy bạc do đời làm ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ mỗi buổi chiều lên,
Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời …
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Ngày xưa cô giáo dạy phân tích phải có đầu có ngọn, nên tôi tạm dẹp kiểu viết văn kể chuyện … trên trời
… có đám mây xanh,
ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
mà đánh số thứ tự như làm liệt kê dân số ấy.

Thứ 1
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“

Trích tự điển Khai Trí Tiến Đức

Theo tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt tên tiếng Pháp của l’Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites), một hiệp hội tư lập với mục đích trao đổi văn hóa giữa trào lưu Tây học và truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 (1919-1945) thì „vùa“ là đồ dùng nhìn như cái bát, cái lư. Mô-đen „miểng vùa“ tức là tóc cắt nham nhở như một phần của cái vùa – „miểng“ là tiếng miền Nam, ám chỉ một phần nhỏ của thủy tinh hay đồ sứ bị vỡ, người Bắc gọi là „mảnh“.
Nếu cho là

Tuổi thơ tóc để gáo dừa

thì cũng không đúng hẳn „Bắc-Kỳ“.
Trong „Hồi ký về thời thơ ấu và quãng đời học sinh của tôi cho đến lúc ra đời kiếm sống“ của ông ngoại, chào đời tại làng Yên-Nhân, huyện Yên-Lãng nay là huyện Mê-Linh thuộc ngoại thành Hà-Nội, thì để đi „hỏi vợ“ theo phong tục tảo hôn thời ấy, năm 13 tuổi ông cố bắt ngoại đi „hớt“ tóc theo kiểu người lớn chứ không theo kiểu „móng lừa“ như trước. Vậy đúng ra nếu là của Nguyễn Bính bài thơ phải bắt đầu
Tuổi thơ tóc để „móng lừa“

Thứ 2
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.

Văn bản của Kiên Giang đọc nghe tròn vẹn hơn từ ý đến lời, tả cảnh hai đứa bé dắt tay nhau đi học, băng qua những cánh đồng lúa miền Nam cò bay thẳng cánh.
Hơn nữa những câu thơ như
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời
không đúng bằng hình ảnh
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời
ý muốn tả con nít chơi „ngu“ leo lên miệng giếng, ngồi đếm những ngôi sao được phản ánh xuống nước, chứ không phải „ra bên giếng“ rồi đứng ngó lên trời đếm sao.
Nguyễn Bính là thi sĩ với những bài thơ tình tuyệt tác, mỗi bài thơ tả đúng tâm trạng nhân vật, như „phải lòng“ cô giáo thì
Ước gì tôi được quen cô giáo
Để đến theo cô học vỡ lòng
Chỉ sợ trò đông bàn ghế chật
Tuổi nhiều cô có nhận cho không?
Nếu cô đồng ý nhận cho tôi
Tôi sẽ theo cô đến suốt đời
Suốt đời tôi chỉ theo một lớp
Suốt đời tôi học lớp cô thôi!

Nên hai câu
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời

khiến bài thơ tả tình yêu dại khờ tuổi tóc „miểng vùa“ đâm ra chân thấp chân cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (ca dao)
vì chỉ có người lớn mới thơ mộng kiểu thức khuya nằm dưới đất nhìn lên trời mơ mơ mộng mộng, chứ con nít quê ở miền Nam tối trăng lên là chui vô mùng trốn muỗi hết rồi, ngồi trong nhà nhìn ra thì đúng là thấy
Đêm vàng soi bóng trăng cao
thật vì trong nhà để đèn dầu tối u u, vàng leo loét, sẽ thấy đêm vàng do ánh đèn và ánh trăng pha vào nhau tạo nên hình ảnh đó.

Thứ 3
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“

Vùng Nam-Kỳ lục tỉnh vốn ít nhiều chịu ảnh hưởng của tôn giáo xứ Chân-Lạp như đạo Bà-La-Môn, có phong tục đúc những tượng thần bằng đất để thờ. Người Bắc nếu nói về nắn tượng thì chỉ có trò chơi nặn tò-he mà thôi, còn thì họ đúc những tượng lớn để trong đền, chùa.
Cũng như người nặn tượng trong bài thơ phải là nam giới và người mua là nữ thì mới hợp lý hợp tình với câu
Người mua đã bị mua rồi
ở đoạn kết.

Thứ 4
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Câu trên không đủ xuất sắc để làm câu „đến đây là chấm hết chương trình của ban Tùng-Lâm“ bằng

Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!

Chợ lòng có hai nghĩa
1/ Chợ „trong lòng“, ý nhắc lại kỷ niệm xưa với cô bé chơi trò nhặt lá mua tượng vẫn còn để lại trong ký ức.
2/ Chợ lòng = chợ nhà lồng, loại chợ tiêu biểu ở miền Nam – giống kiểu chợ Bến-Thành tại Sàigòn – mà hầu như các tỉnh Nam-Kỳ đều có, như chợ lồng Hàn-Dương (Cần-Thơ), chợ lồng Trà-Ôn (Long-Xuyên), chợ lồng Rạch Giá, quê của thi sĩ Kiên Giang. „Chợ nhà lồng“ mang ý nghĩa tượng hình giống như cái lồng, có giới hạn phạm vi nhưng không bị che kín, có mái che nhưng kiến trúc và tổ chức không gian của chợ vẫn thoáng mát, mang đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long, vì chợ Nam bộ thường nằm sát bến sông hoặc gần các ngã đường lớn.
Người Nam phát âm „lồng“ và „lòng“ na ná nhau nên có lẽ Kiên Giang đã „chơi chữ“, dùng „chợ lòng“ theo kiểu phát âm của người Nam để vừa đưa lên hình ảnh chợ quê ở Nam-Kỳ, vừa diễn tả nỗi lòng u hoài nhớ về một trò chơi trẻ con mà nay
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi (Hàn Mạc Tử)

Chợ nhà lồng Rạch Giá

Thứ … Chủ nhật

Càng đọc càng thấy văn bản của Kiên Giang mang âm hưởng của một người miền Nam hiền hòa, không
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa (Nguyễn Bính)
mà chỉ tự an ủi
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.

Ông mất vì đột quỵ khi đem tiền lương hưu của mình từ Long Xuyên lên Sàigòn giúp gia đình một đứa trẻ ở An-Giang bị xe tông văng khỏi bụng mẹ.
Khoảng 40 năm trước, ông có ước hẹn với soạn giả Hoa Phượng (người An-Giang) khi nào có điều kiện sẽ về quê hương tổ chức hát cải lương miễn phí cho bà con ở quê xem. Gia đình đứa bé trên ở cùng làng, cùng quê với Hoa Phượng khiến Kiên Giang động lòng quyết đi thăm. Trong khi ông đang ngồi viết một lá thư kể về ý định vì sao mình muốn giúp gia đình này, có dính dáng đến soạn giả Hoa Phượng ra sao thì ông đột quỵ và mất.
Ông là thi sĩ, ký giả, soạn giả người Nam „rặt“, nên nếu có ai nói bài „Tiền và lá“ là của Nguyễn Bính thì chắc ông sẽ vui vẻ trả lời:
„Dậy sao?“