Chương I: Mối tình cầu tàu

Trong đoạn hồi ký này mẹ sẽ kể con nghe về mối tình đầu của mẹ. Viết „love story“ phải dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất mới thích hợp, con ạ!


Tôi ở Galang từ tháng 5 đến đầu tháng 11 năm 1980. Đó là quãng thời gian đẹp nhất cuộc đời tôi, vì ngoài một tương lai sáng ngời đang chờ tôi ở nước thứ ba, tại Galang, tôi bắt đầu học làm người lớn!

Như đã viết trong đoạn trước, hằng ngày, nhiệm vụ của tôi là của tôi là làm đầu bếp. Nói cho oai chứ thật ra chỉ việc nấu nồi cơm có hơi vất vả một tí, còn thức ăn thì cứ … đồ hộp khui ra, bỏ vào nồi, hâm nóng lên là xong, vì ở nhà, bà ngoại tôi nấu tất tần tật, mỗi chuyện rửa chén mà tôi khất lần khất lữa, cho đến khi ngoại giận lẫy đòi rửa vì sợ để qua đêm chuột sẽ mò ở dưới cống lên do đánh hơi ngửi thấy mùi đồ ăn, tôi mới đủng đỉnh đi làm phận sự. Xong việc cơm nước, tôi lên khu văn hóa và huấn nghệ học tiếng Anh. Sau này, có cô người Thụy Sĩ dạy tiếng Đức, tôi cũng ghi danh học lớp của cô ấy. Buổi tối, nếu không đi xem ti-vi ở khu công cộng thì tôi về barrack của mình ngủ khoèo, bởi trong barrack không có điện, phải đốt đèn cầy hay đèn dầu. Ban ngày, hôm nào hai ông anh tôi không bận đi thông dịch hay đi cua gái thì hai ổng lại la cà với nhóm bạn quen trên đảo, lúc đàn hát, lúc ra biển tắm, ông nào có bồ hay đang cua cô nào thì dẫn theo cô đó, đôi khi chỉ toàn đực rựa với nhau. Bạn hai ông ấy – anh Sơn, anh Ấn, anh Hùng, anh Cường, anh Tiến v.v. – ai cũng … già hơn tôi rất nhiều. Tôi là đứa bé con, làm tà lọt để mấy ổng sai vặt. Có lẽ vì vậy, không ai gọi tôi bằng tên cúng cơm mà kêu tôi là „bé con“.

Anh Ấn có người bạn cùng học Lasan Taberd là anh Toàn. Anh Toàn hay rủ rê mọi người, trong đó có anh Đức, anh họ tôi, đi ăn uống, ca hát, nhảy nhót. Anh cũng hay cho bạn bè mượn quần áo của mình để „ăng-tô-ny“ đi tán gái, vì so với người tị nạn đa số chỉ sở hữu một, hai bộ đồ thì anh Toàn thuộc loại „công tử“, quần là, áo lượt. Anh Toàn cho anh họ tôi mượn một cái áo sơ-mi vạt bầu, tôi giặt đem phơi, ướm vào thấy mình mặc chỉ bị dài một tí thôi nên lúc áo khô tôi lấy mặc luôn. Cũng nên nói thêm rằng ở đảo, ngoài lương thực được cấp không bị túng thiếu, cái gì cũng là vay mượn, hay được người đi định cư trước để lại cho người chưa đi, như quần áo, giầy dép, nồi niêu, soong chảo v.v. Không bị đòi tức là coi như đã sang nhượng quyền sở hữu.


Vào một buổi tối sáng trăng, tôi chưa ngủ khoèo vì … trăng sáng (ai ở đồng quê hay ở trại tị nạn Galang mới thấm thía câu „sáng trăng sáng cả vườn chè“), anh Toàn lù lù xuất hiện. Tôi chột dạ, vì giờ này là giờ „cảnh sát chìm hành sự“, hai ông anh tôi và đám bạn … già của hai ổng chắc chắn một là đang đi coi ca hát nhạc sống có nhảy đầm, hai là đang đi „thả dê“.

Tôi nghĩ anh đến đòi áo sơ-mi nên giả lả:

– Anh Đức đi với anh Hiệp qua barrack Disco rồi! (Disco là tên lóng gọi cô bồ nhí của ông anh tôi ở Galang)

Anh xua tay:

– Ồ, anh không kiếm hai người đó! Kẹo anh cho bé con đâu rồi?

Anh Toàn thỉnh thoảng hay cho tôi kẹo, chocolate, giống như kiểu người ta thưởng pourboire cho … tà lọt. Tôi không hảo ngọt lắm nên anh cho thì tôi nhận, rồi bỏ vào cái hộp ở đầu giường. Nghe anh hỏi, tôi mang hộp đưa anh. Mở hộp ra thì eo ơi, toàn kiến là kiến. Anh cười, tôi cười theo. Anh kéo tôi ngồi bệt xuống chỗ cái bệ cửa sổ, cả hai phùng mang thổi những con kiến vây quanh các viên kẹo. Rồi anh kể chuyện lung tung, hỏi tôi chuyện lung tung. Hồi đó, tôi có thói quen mút ngón tay cái, những lúc anh kể chuyện lung tung thì tôi ngồi mút tay. Anh nhẹ nhàng:

– Bé con ăn kẹo đi, mút tay giống con nít lắm!

Tôi chu mỏ bướng bỉnh cãi ngay:

– Ăn kẹo sâu răng!

Và càng mút chùn chụt để trêu tức anh.

Trong lúc tôi còn đang chơi cái trò trẻ con ấy không đề phòng thì anh giật tay tôi ra, mắt nhìn thẳng vào mắt tôi. Hôm đó, trăng sáng quá, sáng đến nỗi tôi nhận ra trong ánh mắt anh không phải là sự giận dữ mà một cái gì tôi chưa hề thấy bao giờ. Tim tôi tự nhiên đập loạn xạ, nhưng tôi cứ ngồi thừ ra đấy, không dám rút tay ra. Một hồi sau – có lẽ lúc đó tôi đã bị tê liệt dây thần kinh cảm nhận thời gian nên không còn nhớ „một hồi sau“ là một phút sau, năm phút sau, hay bao lâu sau đó – anh buông tay tôi ra:

– Thôi bé con đi ngủ đi, mai anh sẽ qua đánh thức bé.

Vì chả có phận sự, công việc gì, nên tôi ngủ rất kỹ, sáng „nướng“ rất lâu. Có lần, một thằng ở chung barrack lấy đèn cầy để ở gần gót bàn chân của tôi rồi đốt, hơi nóng của đèn cầy cũng không kéo được tôi ra khỏi giấc ngủ. Nếu không bị ai đánh thức, khi tôi vươn vai ngồi dậy thì mặt trời đã … me mé thái dương, gần sắp tới đỉnh đầu. Còn anh làm việc trên bệnh viện nên phải dậy sớm đúng giờ, làm gì thì tôi không rõ lắm. Đa số người Việt tị nạn ở đây, nếu có chút vốn liếng sinh ngữ – Anh, Pháp gì cũng được – có thể nhận các công việc như anh Thiệu trưởng trại, anh Tế trưởng ban Thông dịch, anh Cường trưởng barrack đảm nhiệm việc phân phát lương thực, nước uống cho đồng hương v.v. và được trả thù lao tượng trưng bằng tiền Rupiah, tương đương khoảng 2 đô-la một tuần. Nhờ anh đánh thức hàng ngày như vậy, tôi có nhiều thời gian „trống“ hơn, tôi chuyên cần học sinh ngữ hơn, có khi còn lên thư viện của trại mượn sách về nghiên cứu thêm văn phạm nữa. Tôi hết làm đứa con nít lêu lổng, lông bông, lang bang cho qua ngày trên đảo, mà nôn nóng chờ chiều xong việc anh về dẫn tôi ra biển. Đường ra biển là con đường mòn, cây cối rậm rạp, tôi dù gan có to như gan bò cũng chẳng dám đi một mình, ngộ nhỡ có chuyện gì xảy ra, biết kêu cứu ai đây? Anh bao giờ cũng đi đằng sau tôi, khác hai ông anh của tôi và đám bạn „già“ của hai ổng te te đi một mạch, chỉ kiểm điểm dân số khi ra đến bãi biển xem có mặt „tà lọt“ hay không. Do đi phía sau nên tôi lỡ trượt chân là anh nhanh tay đỡ được ngay, dép tôi sút ra, rơi xuống suối, anh xắn quần chạy theo vớt lên. Chiều ở biển, hôm nào gió trở lạnh, anh đi gom củi đốt sưởi ấm cho tôi. Hai ông „quyền huynh thế phụ“ của tôi chỉ đứng trên bờ, lâu lâu dõi mắt xem cái đầu của tôi còn nhấp nhô trên mặt nước không, chứ anh bơi rất cừ, tôi ra xa cỡ nào anh cũng theo sát, chỉ khi cảm thấy có thể bị kéo ra khơi do luồng sóng ngầm, anh mới ra dấu bắt tôi bơi ngược trở lại vào bờ. „Con nít hay mút ngón tay cái“ thích đi khám phá những chỗ có dựng bảng cấm „Attention, danger“, anh đi thám hiểm trước, nếu thấy không nguy hiểm lắm thì anh chìu ý hiếu kỳ của tôi. Nhờ anh, tôi biết được cả phía bên kia đảo, không thuộc vùng cư trú của người tị nạn, và vì Galang trước đó là hoang đảo nên những khu đó cũng không có thổ dân sinh sống. Nhờ anh, tôi được chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên, đồi núi, hang động, suối thác của một trong những hòn đảo đẹp nhất Đông Nam Á.

Nếu chỉ bao nhiêu đó thì anh chỉ có thể giành giải „quyền huynh thế phụ“ của hai ông anh tôi thôi, chứ không thể nào đoạt giải quán quân „người yêu lý tưởng“ được. Nét chấm phá của những bức tranh sơn thủy ở Galang là những nụ hôn ngọt ngào, những cái ôm nồng cháy. Nhưng hễ tay anh luồn vào trong lưng áo của tôi thì tôi lại giật thót mình, người tự động gồng cứng ngắc như lúc đang nằm trên ghế để nha sĩ khoan chỗ răng sâu mà không chích thuốc tê trước đó. Có lẽ anh thấy tôi hoảng sợ quá độ đâm ra tội nghiệp nên thở dài tiếc nuối rút tay ra, trả lại tôi cái hồn nhiên của đứa con nít còn mút ngón tay cái.

Rồi cũng đến ngày loa phóng thanh xướng tên những người sẽ rời đảo đến Jakarta để chờ lên máy bay đi định cư ở nước thứ ba vào mùng 04.11.1980, trong đó có ba anh em tôi. Tối hôm trước, anh rủ tôi đi uống cà phê ở quán nước mà chưa bao giờ anh dẫn tôi đến đó, anh bảo tôi con nít còn mút ngón tay cái không nên la cà những chỗ dành cho người lớn. Anh kêu cho tôi ly nước ngọt. Tôi bắt đầu tập tễnh uống cà phê khi bị thất tình lần đầu tiên, chẳng qua do cơ thể tôi không tiếp thụ được chất cồn, chỉ cần nhấp một tí là mặt đỏ gay, sáng chói như mặt trời, nên không thể uống rượu để „say cho quên sầu“ được. Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi cũng bị di truyền cái dị ứng này. Có lần, tại một buổi trình diễn dương cầm, nó uống ly nước cam có pha champagne để mời khách trong khi chờ đợi khai mạc chương trình. Sân khấu vừa mở màn, tôi thấy ở phía trước nhốn nháo cả lên, tưởng là khủng bố gài bom, ai dè con mình bị chất cồn làm xây xẩm, người ta phải khiêng ra ngoài cấp cứu. Từ đó, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thấy rượu bia là tránh xa. Bị dị ứng chất cồn cũng có lý đấy chứ nhỉ? Trở lại chuyện quán cà phê Galang. Hôm đó, tôi chỉ còn nhớ là quán mở ca khúc „I have a dream“ của Abba:

I have a dream, a song to sing

To help me cope, with anything …

Anh ngồi đó, ly cà phê đen đắng, đen như nỗi buồn người ly hương, đắng như cuộc tình sắp bay xa.

Hôm sau, anh tiễn tôi ra cầu tàu. Sau này, tôi mới biết mình là người tình duy nhất mà anh có mặt lúc nói lời từ giã. Người tình đầu của anh, một cô gái lai Tây, phải đột ngột theo cha về Pháp khi biến cố 1975 xảy ra. Người thứ hai là „cô láng giềng“ – mà sau này cũng là vợ của anh – hai gia đình đi vượt biên cùng vào khoảng thời gian năm 1977, anh bị bắt, cô nàng đi thoát, qua Mỹ, hai người mới tìm lại được nhau.

Tôi tuy thực tập làm người lớn chưa thành, nhưng kể từ hôm đó, tôi đã hiểu tại sao ở Galang người ta hay dùng chữ „mối tình cầu tàu“.


Mười hai năm sau, mẹ vẫn còn „solo“, đang khóc người tình thứ tư lập gia đình, bỏ cuộc chơi, thì Tata Chi kêu mẹ qua Cali làm phù dâu, thay đổi không khí, quên „cuộc tình tàn“. Và mẹ tìm lại được „cố nhân“.


Khi gặp nhau, tay bác ấy không đeo nhẫn cưới, vì vậy mẹ ngỡ anh ta chưa lập gia đình. Do mẹ không hỏi nên bác ấy cũng chẳng khai là „em ơi, ván đã đóng thuyền“ rồi. Về Đức, mẹ gọi điện thoại sang thì một người phụ nữ nhấc máy. Mẹ hỏi cô ta là chị hay em của bác Toàn thì cô ấy trả lời là vợ. Mẹ chưng hửng, chỉ biết tự giới thiệu mình là em của bác Hiệp bạn của bác Toàn ở bên đảo, nhờ cô ấy nhắn lại dùm là bác Hiệp sẽ liên lạc khi đi công tác về.

Ít lâu sau, mẹ nhận được thư bác Toàn, kèm một đĩa CD Album nhạc của ca sĩ Ngọc Lan, „Người tình trăm năm“. Mẹ vừa nghe nhạc, vừa đọc lá thư trần tình của bác Toàn, nước mắt cứ lã chã tuôn.

Trong chuyện tình cảm, đoạn tuyệt không có nghĩa là phủ nhận tất cả những khoảng thời gian tuyệt vời ta đã trải qua. Nếu ước mơ chỉ khiến ta khổ sở, thì có lẽ đã đến lúc ta nên buông bỏ nó. Trong vũ trụ bao la này, một cuộc đời chỉ là chớp mắt – quá ngắn để có thể hàn gắn những vết thương lòng. Nếu ta được cho biết ta chỉ còn một năm để sống, ta có còn theo đuổi một mối tình vô vọng hay không?

Và vì

It hurts to much to hold on to dreams that never come true

mẹ không gặp lại bác Toàn từ lần chia tay thứ hai tại phi trường LAX.


Còn đây là bài thơ „Tiễn em đi“ của mẹ, thay cho lời chia tay cuộc tình đầu. Bài này trong quyển thơ „Tình như cổ tích“ của mẹ, đa số gồm những bài thơ viết cho những cuộc tình đã mất. Còn cuốn „Tình không như cổ tích“ cũng là tập thơ tình, nhưng thuộc thể thơ khôi hài, là phiên bản „đối lập“ của „Tình như cổ tích“.


Tiễn em đi

Tiễn em đi mưa thu buồn ngơ ngác
Nắng thôi cười, mây tháng bảy thôi bay
Tình Ngưu Lang đành dang dở từ đây
Anh ở lại nghe tim ngầm tan vỡ

Tình chẳng trọn cho lòng mang thương nhớ
Duyên không tròn để nức nở hồn anh
Em vô tình hay hạnh phúc mong manh?
Khói thuốc cay đốt lời thề ân ái

Em đi rồi có nhớ người ở lại
Tương Giang đầu anh ngơ ngẩn trông theo
Chữ trăm năm em trả lại bọt bèo
Câu ước hẹn lỡ rồi em có tiếc?

Khóc đi em thay cho lời tiễn biệt
Chuyện chúng mình âu chỉ bấy nhiêu thôi
Giọt lệ sầu nhỏ xuống lúc chia phôi
Vỡ khối tình chàng Trương Chi phận bạc


Con có nhận ra tấm hình Acryl mẹ vẽ và treo trong phòng của con ngày xưa không? Bây giờ, chắc đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ đã hiểu tại sao mẹ chọn câu „Love means never having to say you’re sorry“ (Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói lời hối tiếc), có nghĩa là nếu hai người thật sự yêu nhau, thì dù có chuyện gì xảy ra, ngay cả phải đoạn tuyệt, chia tay, họ không phải nói với nhau lời xin lỗi, vì họ đã đến với nhau bằng tình yêu đích thực.

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Chương I: Thời thơ ấu

Có lẽ, như các em bé sơ sinh khi bắt đầu bước vào „cõi tạm“, mẹ cũng khóc oe oé quấy rầy mấy cô y tá, nữ hộ sinh, tại nhà bảo sanh Đức Chính, nằm trên đường Cao Thắng, số 15 bis (hồi đó, số nhà được đánh dấu theo hệ thống đánh dấu số nhà của Pháp, tức là nếu trên một con đường có hai căn nhà cùng mang một số giống nhau thì nhà thứ 2 sẽ thòng thêm chữ „bis“), đối diện rạp chiếu phim Đại Đồng. Sau này, các em của mẹ – các cô, cậu của con, 2 trai, 3 gái – đều „giáng thế“ tại nhà bảo sanh này. Trong giấy khai sanh ghi mẹ chào đời vào ngày 13 tháng Tư năm 1963, nhằm ngày 20 tháng Ba năm Quý Mão, lúc 17 giờ 25 phút.


Vài hình ảnh của mẹ, chụp lúc mẹ được khoảng 3 tháng rưỡi. Hồi bé, trông con cũng giống mẹ đấy chứ nhỉ?


Không phải chỉ con đầu lòng (là mẹ) mà tất cả các cô, cậu của con, ai cũng được thương yêu đồng đều như nhau, đều có một cuốn sổ tay ghi chép quá trình chăm sóc sức khỏe. Không có những chi tiết này thì mẹ sẽ không thể nhớ là cánh tay phải của mình hơi bị cong do lần té nặng vào ngày 27.05.1973.


Bố của mẹ, ông ngoại của con, Bùi Hồng Hưng, sinh ngày 12.01.1934 tại Thanh Hóa. Ông cố ngoại, bố của ông ngoại, Bùi Khắc Dụng, là địa chủ ở Thanh Hóa, vượt ngục trại tù Lý Bá Sơ, một trại tù ở ngoài Bắc trước kia, chỉ có vào mà không có ra, có lẽ ông cố là người trốn trại thành công duy nhất. Hai cha con vào Nam năm 1955, nghĩa là đến Sài Gòn năm 1956 chứ không được di cư chính thức bằng tàu há mồm. Ông ngoại bắt đầu cuộc sống nơi xứ lạ quê người với hai bàn tay trắng. Ông ngoại tự học, vừa làm, vừa học. Đậu Tú Tài I, Tú Tài II. Lấy vợ, bà ngoại của con, là nhà giáo. Hai vợ chồng đều vừa đi làm, vừa học.

Không biết Ông noi gương Bà, hay Bà noi gương Ông, mà bà ngoại đi dạy 8 năm sau mới thi đậu Tú Tài I (trước năm 1966), hạng Bình Thứ, ban C, gồm các môn chính là văn chương, triết học, sinh ngữ. Và thật đáng nể là 6 năm sau, khi bà ngoại đã 4 con, vẫn đi dạy mà thi nốt Tú Tài II, ban C, kèm theo bằng Proficency của Hội-Việt-Mỹ. Bà ngoại học ban Bổ túc trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn, niên khóa 1955- 1958. Sau khi tốt nghiệp, ngoại dạy tại trường Trung Học Bùi Thị Xuân Đà Lạt hai năm. Nay các học sinh cũ đã lớn, khi đi thi Tú Tài II, ngoại phải nhìn trước nhìn sau, chỉ sợ lỡ gặp phải học sinh của mình, người thì chấm thi, người thì làm giám thị, hoặc cũng đi thi tú tài, thì quê quá!

Còn ông ngoại vẫn vừa học, vừa làm, có năm con mới tốt nghiệp Cử nhân Luật và tiếp tục thực tập Luật sư. Đến năm 1975, ông ngoại chính thức được hành nghề và chuẩn bị khai trương văn phòng Luật sư ở đường Gia Long, ngay trung tâm Sài Gòn, với phần phụ tá dịch thuật Anh ngữ của phu nhân Vũ Thị Đan Thanh, bà ngoại của con, thì biến cố 1975 xảy ra.


Hình ảnh cuối cùng của ông ngoại trong trí nhớ đứa con nít 12 tuổi ngày ấy là một người đàn ông với khuôn mặt đăm chiêu, khi nằm nghỉ thì tay vắt lên trán trông càng ưu tư hơn. Những ngày cận 30.04.1975 cả gia đình qua ở hết bên nhà ông bà cố (ba mẹ của bà ngoại). Năm chị em mỗi đứa giữ một cái cặp mà trong đó có ít lương khô, tiền đô-la (mẹ không nhớ rõ là bao nhiêu, chắc khoảng $20), một tờ giấy ghi tên tuổi, ngày sanh của tất cả các thành viên trong gia đình:

Cha: Bùi Hồng Hưng, 12.01.1934
Mẹ: Vũ Thị Đan Thanh, 16.10.1937
Các con:
– Bùi Thị Tố Hồng, nữ, 13.04.1963
– Bùi Hồng Đức, nam (tên ở nhà là Công), 04.11.1964
– Bùi Hồng Hạnh, nữ, 08.03.1966
– Bùi Hồng Phúc, nữ, (tên ở nhà là Cẩm Tú), 22.05.1968
– Bùi Thị Diễm Quỳnh, nữ, 22.05.1970
cùng với địa chỉ nhà là 372/64 đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn.

Chiều ngày 30.04.1975, ông ngoại dẫn Công (em trai kế mẹ, con gọi là cậu, giống như cậu Giao), Hạnh, Tú, Quỳnh (3 em gái mẹ, con gọi là „cô“ theo lối xưng hô của người Bắc chứ không gọi là „dì“ như người Nam) về nhà ở đường Phan Thanh Giản, mẹ và bà ngoại (lúc ấy đang mang bầu cậu Giao) ở lại bên nhà ông bà cố. Hôm sau, không thấy ông ngoại quay trở về, mẹ cùng bà ngoại về nhà ở đường Phan Thanh Giản thì chỉ thấy một mảnh giấy ông ngoại để lại trên bàn với vài dòng chữ nhắn nhủ đừng lo lắng, sẽ có tin tức sau. Từ đó đến nay, cái tin tức mà ông ngoại hứa hẹn không hề xuất hiện. Mỗi đêm, trước khi ngủ, mẹ luôn lâm râm cầu nguyện ông trời phù hộ cho bố và các em của mẹ. Mẹ không còn nhớ đến khi nào thì mẹ thôi không làm việc ấy nữa. Sau này, mẹ cũng viết thư gởi đi các cơ quan quốc tế như hội Hồng Thập Tự, Caritas v.v. Bất kỳ hội đoàn nào có chương trình tìm người thân mất tích, mẹ đều gởi thư nhắn hỏi.

Vào thập niên 90, kỹ nghệ thông tin (Informationstechnologie) dần dần phát triển, bắt đầu có Email, World Wide Web v.v. mẹ mở rộng „phạm vi tìm kiếm“ bằng cách truy lùng những người có họ Bùi và gởi Email hoặc thư qua đường bưu điện. Có lần, khi mẹ du lịch qua Mỹ, một người bạn ngao ngán nhìn mẹ gởi một đống thư trị giá tổng cộng khoảng 200 đô-la, khi mà cước phí thư nội địa ở Mỹ lúc ấy vỏn vẹn 29 cents. Cũng nên nói thêm rằng số người Việt sống ở Hoa kỳ chiếm trên một nửa dân số Việt kiều trên thế giới, tức là mẹ hi vọng xác suất thành công cũng sẽ cao hơn.

Cho đến một ngày, mẹ nhận được thư trả lời của một người cũng mang họ Bùi (rất tiếc là mẹ đã để lạc mất lá thư này sau nhiều lần dọn nhà). Mẹ còn nhớ mãi câu đầu trong thư của ông ấy: „Tôi thành thật thán phục sự kiên trì của cô đã đi tìm người thân hơn một phần tư thế kỷ …“ Câu này làm mẹ suy nghĩ rất nhiều và đi đến quyết định … „giã từ vũ khí“, thôi không tìm kiếm tin tức bố và các em nữa. Ngạn ngữ Đức có câu „Die Zeit heilt alle Wunden“, thời gian chữa lành mọi vết thương. Nhưng nếu ta tiếp tục chạm vào vết thương, nó không lành hẳn được. Ví dụ khi ta bị một vết dao cắt chảy máu, ta sẽ dùng miếng băng dán phủ lên vết thương. Bằng cách này, chúng ta chấp nhận nó, chăm sóc nó. Lớp băng giúp vết cắt được che chở không bị chạm vào và bị nhiễm bẩn. Dần dần cái đau giảm đi và chúng ta quên nó. Vùng mặt trên của da sau đó được chữa lành.

Tại sao chúng ta không thể làm điều đó một cách dễ dàng với những vết thương tình cảm?

Để vượt qua nỗi đau này ta cũng cần làm như khi bị vết thương dao cắt, tức là chúng ta phải biết chấp nhận, và biết tìm cách chữa lành nó. Liều thuốc chữa lành vết thương lòng chính là khả năng quyết định và ý niệm riêng của mỗi người về việc buông bỏ. Mẹ đã tháo được miếng băng dán phủ trên vết dao cắt, chỉ còn lại nơi đó là vết thẹo nhắc mẹ đã có một người bố hiếu thảo (ông cố ngoại bịnh nằm liệt giường, ông ngoại tắm rửa, đút cơm ăn, dù nhà mình có mướn người giúp việc), nhân hậu (ai khó khăn nhờ vả, ông ngoại đều giúp đỡ, thân chủ nghèo không trả nổi tiền thù lao luật sư, ông ngoại cãi miễn phí) và kiên trì nhất trên đời này, cũng như nhắc mẹ đã có 4 người em đáng nhớ nhất trên đời này.

Chụp ngày 16.02.1975

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Cô Liễu

Suốt thời gian học ở Lê Quí Đôn, tôi nhớ tôi chỉ học nhạc với cô Liễu mà thôi.

 Cô Liễu trẻ đẹp nhất trong ban giảng huấn ở trường Lê Quí Đôn. Tóc cô dài và uốn thành những lọn lớn quăn quăn nên nhìn cô thật là tân thời. Cô có khuôn mặt trái soan, người dáng mảnh mai, trông cô cứ như là nữ sinh nếu cô mặc áo dài trắng. Hồi đó, đám học trò chúng tôi hay kháo với nhau rằng thầy Tam Nhiều … „khoái“ cô, có lẽ vì phía bên nam giáo sư, thầy là người cao ráo, bảnh trai nhất. Có Thúy Kiều thì phải có Kim Trọng thì ông Nguyễn Du mới có … hứng mà làm thơ để làm … khổ con cháu đời sau phải học và phân tích „Đoạn trường … thất thanh“ của ông chớ. Nhất là thầy lại dạy môn hội họa nữa. Bên âm nhạc, bên hội họa, thật là tương xứng. Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò … Lũ Quỉ Đói. Xin thầy và cô tha thứ cho chúng em tội hỗn láo này.

Tôi vốn dốt về âm nhạc vì, khác với các bạn cùng lớp, đa số được cha mẹ cho đi học một nhạc cụ Âu Tây như Tuấn Hồ học accordeon, Quỳnh Anh học dương cầm, với những nốt nhạc nghe thật cao sang Do Re Mi, thì tôi học … đàn tranh Hò Xự Xang Xê Cống. Tuy nhạc lý cũng từa tựa như nhau (đàn tranh chỉ có 5 nốt, không có nốt Fa và nốt Si) nhưng cách học thì khác nhau vì đàn tranh là một loại đàn cổ truyền. Tân thời như cô Liễu thì đàn tranh của tôi làm gì có chỗ đứng? Điểm môn âm nhạc của tôi cũng … nghèo nàn theo luôn.

Trong các buổi lễ của trường như ngày khai trường, ngày bãi trường, hay có phần văn nghệ. Với các bạn khác như Tuấn Hồ mà hầu như lúc nào cũng có mặt „trên từng cây số“ với cây đàn accordeon trên vai trong các buổi trình diễn này thì tôi không biết sao, chứ đối với tôi, được lên sân khấu trình diễn là một vinh dự lớn. Tôi nhớ năm lớp bảy, tôi và Bích Quyên tập một bài múa „Con bướm vàng“ với hi vọng một lần trong đời được lên sân khấu. Hai đứa, với đầy tâm huyết, chế các điệu múa nửa tây theo kiểu múa ba lê, nửa ta theo kiểu múa … tùm lum, hì hục tự may cắt cánh bướm bằng những vải voile mỏng, trông thật …. có một không hai (dịch qua tiếng anh gọi là … individual character). Cánh được gài vào hai tay áo bằng kim băng, khi vẫy hai cánh tay thì hai cái cánh bướm nó phất phơ bay lên bay xuống thật là giống … người dơi.

Các màn văn nghệ đều phải qua sự xét duyệt của cô Liễu. Hôm đó tôi và Bích Quyên trình diễn thật xuất sắc, đám bạn đi theo cổ vũ đứa nào cũng xuýt xoa khen tụi tôi múa lạ mắt (chắc vì bị hai cánh … dơi làm chúng nó chóng mặt). Thế mà màn „Con bướm vàng“ của hai đứa chúng tôi vẫn không lọt vào mắt xanh của cô.

Mộng ước trở thành nghệ sĩ của tôi tan vỡ từ dạo ấy. Tôi ngoan ngoãn học toán lý hoá, văn sử địa, và hài lòng với điểm môn âm nhạc lúc nào cũng dưới trung bình của tôi.

Sau này, khi con tôi đem phiếu điểm về nhà mà môn âm nhạc là môn điểm kém hơn tất cả các môn khác (rút kinh nghiệm của mình, tôi cho nó đi học dương cầm để … đề phòng), mẹ tôi tỏ vẻ bất bình, hỏi nó là:

– Sao cháu bà học dương cầm giỏi như vậy mà cô không cho điểm tốt à?

thì tôi chỉ mỉm cười nhớ lại những kỷ niệm của tôi về môn này thuở còn đi học.

Nuối

Chắc các bạn sẽ thắc mắc về tựa đề của bài này?

Số là như vầy:
Cách đây không lâu, do thời tiết nóng và khô khan, gần thủ đô Athens (Nhã Điển) của Hy Lạp đã bùng lên một đám cháy rừng khá lớn với những đám khói dày đặc.
Con bạn tôi gởi một clip ngắn và nhắn tin: „Athens is burning, we just came back“

Tức cảnh sinh tình, nó sáng tác bài thơ „Athens is burning“:
https://thuytrangtran.jimdofree.com/2022/07/21/3-athens-is-burning/

Trong đó có đoạn:

Hồn vẫn nuối nhau
Bám vào tro nóng
Vũ với gió nồng
Chút cuối long đong …

Tôi la quảng la tiều:
– Sai chính tả rồi chị Hai ơi! „Hồn vẫn nối nhau“ chứ lị!
Nó điềm nhiên trả lời:
– Ý „chị Hai“ là lúc chết thì hồn bay ra khỏi xác, nhưng vì vẫn còn nuối nhau nên mới bám vào nhau đó mà.

Ái chà! Tôi chỉ biết nuối tiếc, tiếc nuối, tiếc hùi hụi ngẩn ngơ con cá vàng, chứ chưa bao giờ thấy động từ „nuối“ đứng „mình ên“ như vậy. Lại nhớ „Giáng Ngọc“ và Bàn tay năm ngón, bèn đi tra tự điển thì hóa ra có động từ „nuối“ thật: Mong đợi ai, khi chết không được nhắm mắt.

Keine Beschreibung verfügbar.

Thế mới biết tiếng Việt không đơn giản tí nào. Mỗi chữ đều có nguồn gốc, xuất xứ chứ chẳng phải đùa, lơ tơ mơ là đi trật đường rầy ngay.
Trong „Tôi tập viết tiếng Việt“ của Nguyễn Hiến Lê, chương XI, „Sự thuần khiết của ngôn ngữ“, ông có phân tích: Không ai có thể bắt một sinh ngữ giữ hoài giọng nói ngữ pháp, nhất là dụng ngữ của nó, phải để cho nó phát triển, mỗi ngày một mới mẻ thì nó mới phong phú, mới thêm sinh lực“. Nhưng ông cũng cho rằng “ … ít tài như chúng ta thì nên nhớ hai tiếng „họa hổ“ – vẽ cọp mà chẳng thành cọp – của cổ nhân“. Ông nghiêng về phe chủ trương thuần khiết của tiếng Việt vì „ … nó như một cô gái nền nếp, nhưng không cổ lỗ … Và tôi vốn ưa những cô gái nền nếp.“
Tôi vốn ưa những bài viết của Nguyễn Hiến Lê, nên sau khi tìm tòi tra cứu, tựa đề của bài này chỉ vỏn vẹn duy nhất một chữ … Nuối.

Khúc hát thanh xuân

Hôm nọ, mẹ tôi nói:
– Con rảnh tìm cho mẹ bài hát „One day when we were young“, bản tiếng Pháp nhé!
Tôi nghĩ bụng „dễ ẹt“, rồi quên béng đi mất vì cứ hễ định lên internet kiếm bài ấy thì xếp lại hỏi thăm sức khỏe.
Mẹ tôi đợi lâu quá nên quay qua hỏi con bạn tôi, dân Bà-Rịa (Parisienne), nói tiếng Tây như gió.
– Cháu rảnh tìm cho bác bài hát „One day when we were young“, bản tiếng Pháp nhé!
Dân Bà-Rịa cũng bó tay vì bài này cũ rích, xưa như trái đất, là một trong những bài điệu Valse được trình bày bởi nữ minh tinh Miliza Korjus trong phim The Great Waltz do MGM sản xuất năm 1938, tức là lúc ấy mẹ tôi mới … tròn một tuổi xuân.
Không nhằm nhò gì, con bạn tôi khoe:
– Bác ơi! Bài này phiên bản tiếng Việt là „Khúc hát thanh xuân“ đó bác!
Ngày ấy khi xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui

Mẹ tôi vẫn ôm mối u hoài nhớ về thuở ngày ấy khi … mẹ tôi mới ra đời, phiên bản tiếng Pháp, bất di bất dịch.
Một con bạn khác (tôi có nhiều con bạn hơn thằng bạn) mò mẫm, lục lọi, tìm được lời dịch qua tiếng Pháp, hớn hở reo:
– Eureka!
Thế là chúng tôi thiên biến vạn hóa, „Ngày ấy khi xuân ra đời“ thì chúng tôi cũng cho lọt lòng bài „Chanson de jeunesse“, hay hơn cả bản gốc Miliza Korjus hát nhiều, vì cái giọng chim sơn ca của cô minh tinh màn bạc này ở tầng số siêu âm thanh, tôi nghe cứ như là … „Đỉnh gió hú“ í.

Sau khi kiểm duyệt bản quyền, mẹ tôi nhắn tin cho con bạn tôi:
– Hai câu tiếng Pháp bài „One Day …“ không biết bác nghe và viết lại có đúng không, nhưng hình như là:
Nos coeurs j‘ avais vingt ans
C’était un mois du printemps

Bỏ bu rồi, không thiên biến vạn hóa được, trí nhớ người già ai bảo „Mẹ ta trả nhớ về không“, thơ Đỗ Trung Quân:

Ngày xưa chào mẹ, ta đi
Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười
Mười năm rồi lại thêm mười
Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không
Ông ai thế? Tôi chào ông
Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi
Ông có gặp thằng con tôi
Hao hao … tôi nhớ … nó … người … như ông.
Mẹ ta trả nhớ về không
Trả trăm năm lại bụi hồng rồi đi

Cuối cùng thì Chanson de Jeunesse cũng „lên sóng“ với phụ đề Pháp ngữ để mẹ tôi có thể vi vu hát theo như hát Karaoke.

Tôi cũng giống mẹ tôi, trình độ Pháp văn của tôi cũng mấp mé ở hai câu của những bài hát tiếng Pháp thập niên 60-70.
Chắc bắt đầu từ hôm nay tôi phải chép lại các bài hát tiếng Pháp mình ưa thích và chuyển vào bộ nhớ của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi, để mai kia khi tôi nghêu ngao:
J’avais dessiné
sur le sable …

là hai câu đầu của bài Aline do Christophe trình bày 1965, thì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi không phải hỏi lại:

– Mẹ mà cũng biết vẽ trên cát à?

Thiên đường ngàn dặm

Hôm nay, vô tình xuống tầng hầm (bên Đức đa số nhà thường có tầng ở dưới tầng trệt gọi là „Keller“, thường là nơi để hệ thống lò sưởi, máy giặt, những két nước, đồ khô, đồ hộp, hoặc các thứ đồ dùng ít xài đến) thấy mấy cái va-li đóng bụi nằm xếp xó, tự dưng thèm „lê va-li“, không phải „les valises“ tiếng Pháp mà là … kéo va-li chạy xềnh xệch ở phi trường để kịp bắt chuyến bay sắp cất cánh.
Bấm ngón tay thì thấy đại dịch Vũ Hán đã trói chân tôi hơn hai năm nay rồi.
Chợt nhớ bài Paradise của Meduza:

Oh, my, my, my
There’s a thousand miles between you and I
Oh, my, my, my (my, my, my)
Just a thousand miles between me and paradise

We’re all scared to fly, still we try
Learn to be brave, see the other side
Won’t you lead me there? Have no fear
Close your eyes, find paradise

Ôi, hỡi ôi,
Thiên đường ngàn dặm cách xa
Em đưa tay với ngỡ là thiên thu
Sợ gì mà chẳng phiêu lưu
Thiên đường ngàn dặm, phù du cuộc đời


Trong bài Paradise, ban tam ca Meduza đã thành công khi lồng một giai điệu gợi lên sự khao khát tìm thấy thiên đường xa diệu vợi:

Have no fear
Close your eyes, find paradise
Đừng sợ hãi
Hãy khép mắt lại, tìm thiên đường ước mơ


Meduza để thính giả tự chọn định nghĩa cho thiên đường của mình, nó có thể là một người, một địa điểm, hoặc chỉ là một ý tưởng tuyệt đẹp về một điều gì đó. Vì vậy, ai cũng có thể cảm nhận được giai điệu của bài hát với nội dung sâu sắc nhưng dùng từ đơn giản, vần điệu nhịp nhàng.

Ai cũng ước mơ tìm thấy thiên đường của mình. Tôi cũng vậy, nên tôi đã nghêu ngao hát bài Paradise suốt ngày chủ nhật hôm nay. Và tôi đã tìm thấy thiên đường của mình:

When the dark has gone, the morning’s won
We’re gonna feel something different
It will set you free, if you just tell me
Every secret, I’ll listen


C’était mon rêve, c’était Gérard

Người Việt có một thú tiêu khiển rất … Á châu là … hát Karaoke mỗi khi có hội họp bạn bè.

Mùa dịch, hết nước này ra lệnh giới nghiêm, nước kia „nội bất xuất, ngoại bất nhập“, nước nọ hò hét yêu cầu chích ngừa chống cúm v.v. Tức là chấm dứt luôn màn Party ăn uống, chè chén, ca hát. Không tụ tập được thì ta hát ở nhà một mình rồi thảy lên „phơi“ (Facebook) cho bạn bè thưởng thức. Cũng có cái hay là chỉ có „Ngón-Cái-Giơ-Lên“ (like) chứ không có những „Ánh-Mắt-Kém-Thiện-Cảm“ ra vẻ dè bỉu, chê bai.

Trong những bài hát „ca ra là ô kê“ đó có bài „Sonia“ của Patrick Duvet do một người bạn từ thủ đô ánh sáng mới thảy lên „phơi“, còn ướt át, chưa khô, một trong những bài hát tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.
Hồi đó thích Sonia vì điệu nhạc nhịp nhàng, dễ hát theo. Bây giờ sang đây, thấm thía thế nào là „le vent froid de sa steppe natale“ (gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em), nghe đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi mỗi lần hè đến lại gào lên „Nóng quá!“, mới thấy lời tự tình của Patrick Duvet thật là đẹp.

Elle était venue comme une étoile
Pareille à celle des nuits de mai
Le vent froid de sa steppe natale
La suivait comme une mère
Une mère

C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Était-ce un songe que j’ai inventé
Pour un été?

C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Son cœur de cendres a brûlé mes doigts
Encore j’en tremble

Elle n’avait pu se faire à l’idée
Que mon pays fait parfois l’été
Au doux soleil des mille ciels bleus
Je devais lui allumer
Un grand feu

Em đã đến như một vì sao sáng
Của những đêm tháng Năm
Gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em
Quyện bước chân như vòng tay người mẹ

Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Em có phải là giấc mơ anh hằng ao ước
Cho một mùa hè oi bức
Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Trái tim tro tàn của em làm cháy bỏng ngón tay anh
Làm run rẩy tình anh

Có lẽ em không hề tưởng tượng được
Rằng quê hương anh có cả mùa hạ
Trong ánh nắng dịu dàng của trời hè xanh ngát
Anh đã đốt cho em ngọn lửa tình nồng cháy

Nữ ca sĩ Dalida có trình diễn bài này, nhưng đổi thành „Illia“ là tên dành cho con trai.
Tôi cũng bắt chước Dalida, ném bông hồng „bis, bis“ (nữa đi, nữa đi) lên sân „phơi“ nhờ người bạn „đổi hệ“ cho bài hát mà tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.

Con rùa biển xanh

Nghe lời thầy Menne, thầy dạy tiểu học của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi, khuyên nên tập cho trẻ con có thói quen đọc sách, tôi đã mua cho nó quyển truyện đầu tiên „Momo“, tác giả là Michael Ende, kể về một cô bé lôi thôi, lếch thếch, sống ở ngoại ô một thành phố lớn, giữa những đống gạch đổ nát của một hí trường. Cô bé chả có gì cả ngoài những gì mình tìm thấy, nhặt được hoặc người ta bố thí cho, nhưng cô lại sở hữu mội tài năng phi thường: Cô lắng nghe mọi người và cho họ thời gian.

Một ngày nọ, trong thành phố dần dần xuất hiện bóng dáng những người đàn ông trông thật lịch lãm với gương mặt vô cảm trên làn da màu xám tro, đội mũ phớt màu xám tro, mặc áo vét màu xám tro, bước xuống từ những chiếc xe hơi đắt tiền cũng màu xám tro. Họ tự giới thiệu là đại lý của ngân hàng tiết kiệm có kỳ hạn. Họ tính toán cho mọi người biết có thể tiết kiệm được bao nhiêu thời gian nếu loại bỏ những hoạt động được cho là vô ích ra khỏi cuộc sống của mình. Tiết kiệm thời gian là sẽ kiếm được lãi suất cao.

Mọi người đua nhau tiết kiệm thời gian: Họ làm việc nhanh hơn, gấp gáp hơn và không cho phép mình nghỉ ngơi hay vui chơi. Ngay cả trong thời gian rảnh rỗi, họ cũng không tìm thấy sự bình yên. Nhưng mặc dù háo hức tiết kiệm thời gian, họ ngày càng có ít thì giờ hơn. Bởi vì trên thực tế, các ông mặc áo màu xám tro đang lừa đảo và đánh cắp thời gian quí giá của con người. Momo là kẻ duy nhất có thể ngăn chặn ý đồ đen tối của những tên ăn trộm thì giờ ấy.

Đương nhiên lúc bấy giờ đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi chưa đủ i-tờ để đọc quyển truyện dày khoảng 300 trang đó nên tối nào tôi cũng ráng nhướng mắt lên đọc cho nó nghe dù sức lực đã tàn sau một ngày làm việc mệt mỏi. Hơn nữa, nó chỉ thích nghe tôi đọc thôi, lý do tại sao thì xin xem „Đại bàng“ (nhấn vào đây để xem), một truyện ngắn dạng âm thanh (audiobook), đăng trên YouTube Channel „Góc Nhỏ Hạnh Phúc“ (nhấn vào đây để xem).

Nay thì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đã có thể tự mua sách về đọc. Tôi chỉ còn đóng vai người dọn vệ sinh, tức là có nhiệm vụ đem những quyển nó đã đọc xong về tặng lại thư viện thành phố hay xếp vào tủ làm kiểng. Một trong những quyển để làm kiểng này là „Das Café am Rande der Welt“ (Original: The Why Café) của John Strelecky, một câu chuyện triết lý về ý nghĩa của cuộc sống, trong đó có đoạn cô bồi bàn Casey kể về việc cô đã gặp một con rùa biển với những đốm màu xanh lục khi đi lặn nổi trong kỳ nghỉ mát tại Hạ-Uy-Di.Tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận ra rằng mình không thể bơi nhanh như chú rùa ấy, mặc dù trông nó di chuyển khá chậm. Thỉnh thoảng nó dùng chân làm chèo quạt quạt vài cái rồi lại thả mình trôi theo dòng nước. Tôi được trang bị với hai chân vịt to để trợ lực đẩy mỗi khi tôi muốn tiến về phía trước. Tôi cũng không bị áo phao hay bất cứ thứ gì làm giảm vận tốc bơi của mình. Vậy mà con rùa biển cứ ngày càng cách xa tôi hơn, cho dù tôi có cố gắng đến thế nào đi nữa. Sau chừng mười phút nó chỉ còn là một đốm nhỏ. Kiệt sức, thất vọng và xấu hổ vì thua kém một chú rùa, tôi quay ngược trở vào bờ.
Ngày hôm sau tôi bơi ra chỗ cũ với hi vọng lại nhìn thấy những con rùa biển xanh đẹp mắt. Tôi kiên nhẫn đứng chờ dưới nước khoảng 30 phút thì thấy một đàn cá nhỏ màu vàng chấm đen ùa đến. Và một chú rùa. Tôi quan sát nó bơi quanh quẩn ở một cụm san hô gần bờ. Lúc nó rời khu vực ấy, quay ngược trở về biển khơi, tôi cũng sải theo nó. Tôi lại ngạc nhiên lần nữa khi thấy mình không thể theo kịp nó và ngừng thôi không đạp xoành xoạch hai cái chân vịt nữa. Tôi thả mình theo dòng nước cuốn, mắt không rời chú rùa. Ngay chính lúc đó, con rùa biển xanh đã cho tôi một bài học quan trọng trong đời.
Lúc tôi ngừng đạp chân vịt và thả mình trôi lững lờ, tôi chợt khám phá ra rằng con rùa đã điều chỉnh các động tác của nó sao cho phù hợp với chuyển động của dòng nước. Khi bị một cơn sóng vỗ vô bờ đập vào mặt nó, nó sẽ tự thả mình trôi theo và chỉ quạt chèo vừa đủ để giữ vị trí của mình. Và khi làn sóng chảy ngược ra biển, nó lấy hết sức chèo thật nhanh, tận dụng sự chuyển động của nước theo hướng có lợi cho mình. Con rùa không bao giờ chiến đấu với sóng biển, mà dùng sức đẩy của sóng để tiến xa hơn.
Tôi không thể theo kịp con rùa biển xanh vì tôi cứ cố gắng đập liên tục hai cái chân vịt xòe to, bất kể nguồn nước chảy theo hướng nào. Thoạt đầu thì điều ấy không gây trở ngại gì và tôi có thể bơi song song với chú rùa để ngắm những đốm xanh lục trên mình nó được sắp xếp ngoạn mục không theo một bản mẫu nào. Thỉnh thoảng tôi còn phải bơi chậm lại nữa. Nhưng dần dần tôi cảm thấy càng ngày càng vất vả hơn khi cố sức chống chọi với những con sóng kéo ngược tôi trở vào bờ. Và vì vậy tôi không còn đủ sức để tận dụng đợt sóng xuôi ra hướng biển khơi nữa. Những cơn sóng liên tục ào vào bờ rồi lại cuộn ra khơi cứ tiếp nối như thế không ngừng, và tôi càng ngày càng đuối sức, không thể bơi nhanh như trước nữa. Con rùa biển xanh thì khác, nó điều chỉnh chuyển động của mình để thích nghi với sóng biển một cách tối ưu và vì thế đã bỏ xa tôi.

Tôi ngẫm ra rằng con rùa, à quên, con rùa biển với những đốm xanh lục, đã dạy cho tôi một bài học: Nếu ta không tập trung vào những việc ta muốn, ta có thể lãng phí năng lượng của mình vào rất nhiều thứ khác. Khi có cơ hội để làm những gì ta muốn, ta không còn sức lực hoặc thời gian để làm điều đó nữa.

Tôi có một danh sách ghi những điều tôi dự định sẽ làm khi bước vào tuổi hưu trí.
Gấp sách lại, bỏ kính lão xuống, tôi lấy cái danh sách đó ra và gạch bỏ điều đầu tiên trên đó. Tôi sẽ bắt đầu thực hiện điều ấy vào … ngày mai.

Vô gia cư ở Los Angeles

Deutsche Version

Ngày xửa ngày xưa, có hai người bạn đang ngồi trên băng ghế công cộng trước một bãi đậu xe lớn ở Los Angeles. Họ làm gì ở đó nhỉ?

Đã có nhiều bài viết về sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới. Đối với tôi, sự khác biệt chủ yếu là: Các bà vợ đi mua sắm và các đấng lang quân ngồi lang … bang trên băng ghế công cộng, đâu đó ở gần cửa tiệm. Một trong những đấng lang quân ngồi lang bang đâu đó ở gần cửa tiệm là tôi, người kia  là chồng của bạn vợ tôi.

Chúng tôi làm gì ở đó? Đàn ông thường không thích ngồi lê đôi mách, nói văn hoa là tán gẫu, nên chúng tôi đã làm cái mà đàn ông luôn chiếm giải quán quân: Không phải đậu xe đâu nhé, mà là ngồi quan sát thiên hạ de xe tới lui rồi cười khoái chí khi thấy họ vất vả mới lùi được xe vào đúng chỗ đậu. Băng ghế nơi chúng tôi chọn thật là lý tưởng cho cái việc không công rồi nghề này.

Tôi không nhớ chúng tôi đã ngồi ở đó bao lâu, bởi vì, giống như phụ nữ chẳng bao giờ coi đồng hồ trong khi mua sắm, chúng tôi cũng quên mất thời gian đóng vai khán giả vô tình thả hồn trên băng ghế công cộng trước một bãi đậu xe lớn. Bỗng – không thể nhớ là lúc nào vì thiên hạ đậu xe lại hay dời xe đi cũng không theo một chu kỳ nào nhất định cả – một phụ nữ từ trong cửa tiệm bước ra, lỉnh kỉnh với nhiều túi hàng và trên tay cầm một chiếc áo sơ mi đàn ông sặc sỡ, loại áo chim cò kiểu Hạ-Uy-Di. Bà ta tiến thẳng về phía chúng tôi, dáng dấp trông có vẻ đe dọa, nhưng vì có hai người nên chúng tôi không lấy làm sợ hãi lắm. Khoảng cách cứ ngắn dần một cách nhanh cấp kỳ, và khi chỉ còn cách chừng vài thước, người phụ nữ bắt đầu lầm bầm nói điều chi đó. Tôi không thể nhớ đó là ngôn ngữ gì, nhưng có thể là tiếng Anh, vì cứ khoảng ba chữ thì tôi hiểu được một. Anh bạn ngồi cạnh tôi sinh ra ở Việt Nam nhưng sống ở Mỹ hơn 30 năm cũng cảm thấy như vậy, điều đó khiến tôi bình tĩnh hơn một chút khi nghĩ đến khả năng tiếng Anh của mình. Một lúc sau, người phụ nữ vẫn tiếp tục liến thoắng với cái tiếng mà tôi chỉ Ba-Hiểu-Được-Một kia và dúi chiếc áo sơ mi chim cò vào tay tôi. Sau đó, bà ta quay mặt bỏ đi trong im lặng, không líu lo như trước nữa.

Chúng tôi ngồi đực mặt ra đấy, ngỡ ngàng, bối rối, vì chúng tôi nghĩ do sự xáo trộn này chúng tôi có thể bỏ sót một chi tiết nào đó trong những màn ly kỳ đang diễn ra tại bãi đậu xe. Sau khi hoàn hồn trở lại từ cú sốc ấy, chúng tôi kiểm tra lại món quà rõ ràng không phải dành cho người Việt Nam có chiều cao từ 1,70m đến 1,80m, mà là dành cho những người từ 1,95m đến 1,96m, tức là dành cho tôi. Vì vậy, chiếc áo sơ mi chim cò nhanh chóng được liệt vào thuộc quyền sở hữu của tôi.

Tôi đã thu thập được bài học gì qua câu chuyện này? Rất đơn giản: Lần sau, khi cần quần áo mới, tôi sẽ phải suy nghĩ kỹ về cái lợi và hại giữa việc đi mua sắm với vợ và việc ngồi trên một băng ghế công cộng quan sát cảnh thiên hạ đậu xe để rồi được tặng một chiếc áo sơ mi chim cò trong một hoàn cảnh thật là kỳ quái.

Lựa chọn thứ hai chắc chắn rẻ tiền và dễ dàng hơn nhiều.

Homeless in Los Angeles

Vietnamesische Version

Es saßen einmal zwei Freunde auf einer Parkbank vor einem großen Parkplatz in LA. Warum waren sie dort?

Es wurde schon viel über die Unterschiede zwischen Frauen und Männer geschrieben. Für mich ist der Hauptunterschied:  die Ehefrauen gehen shoppen und die Ehemänner sitzen auf einer Parkbank in der Nähe des Geschäftes. Stimmt, einer von den obengenannten Freunden, war ich, der andere war der Ehemann der Freundin meiner Frau.

Was taten wir da? Miteinander quatschen ist nicht so’n Ding zwischen Männern, also machten wir das, was Männer am Besten können: Nein, nicht Autos einparken, sondern anderen beim Parken zusehen und uns darüber lustig machen. Aus diesem Grund war der von uns ausgewählte Platz ideal.

Ich weiß nicht mehr wie lange wir dort saßen, weil genauso wie Frauen beim Shoppen das Zeitgefühl verlieren, vergaßen wir auch auf unserer Zuschauertribüne die Zeit. Auf jeden Fall kam irgendwann, während des Zusehens vom „Einparken zusehen und kommentieren“, eine Frau aus einem Geschäft. Sie war mit mehreren Einkaufstüten und einem Art Hawaiihemd in der Hand bewaffnet und kam direkt auf uns zu. Sie wirkte zwar bedrohlich, aber weil wir zu zweit waren, hatten wir keine außergewöhnliche Angst. Aus mehreren Metern, deren Anzahl sich rapide verringerte, fing die Frau etwas zu sagen. Ich weiß nicht mehr in welcher Sprache sie redete, aber es könnte Englisch gewesen sein, denn ich verstand etwa jedes dritte Wort. Mein Sitznachbar, der zwar in Vietnam geboren war, aber seit mehr als 30 Jahren in den USA lebte, erging es genauso, was mich einwenig hinsichtlich meiner Englischkenntnisse beruhigte.

Nach kurzer Zeit stand die Dame noch immer etwas sagen vor uns und gab uns das erwähnte Hawaiihemd. Anschließend drehte sie sich um und ging, diesmal schweigend, wieder weg.

Da saßen wir beide nun. Verwirrt, weil wir ahnten, dass wir auf dem Parkplatz durch diese Störung wahrscheinlich etwas verpasst haben. Nach diesem anfänglichen Schock prüften wir nun diese Gabe, dass eindeutig nicht für Vietnamesen zwischen 1,70m und 1,80m Körperlänge gemacht worden ist, sondern eher für Leute zwischen 1,95m und 1,96m, also eher für mich. Aufgrund dieser Fakten ging das Hawaiihemd in meinem Besitz über.

Welches Lernziel habe ich durch dieses Erlebnis erreicht? Ganz einfach: Beim nächsten Mal, wenn ich Kleidung brauche, werde ich genau zu überlegen, welche Vor- und Nachteile es hat, mit meiner Frau shoppen zu gehen oder auf einer Parkbank einen Parkplatz zu beobachten und dabei ein Hemd auf skurrile Weise erhalten.

Die zweite Möglichkeit ist auf jeden Fall günstiger und müheloser.