Tôi vốn yêu … đủ thứ ngôn ngữ, không chỉ riêng tiếng Việt hỏi ngã lộn tùng phèo.
Với tôi, tiếng Việt là „bầu trời thơ ấu“ vì đến
Tuổi nào em bắt đầu yêu
Ngồi bên song cửa chiều chiều ngắm mây
Tuổi nào em hết thơ ngây
Đêm đêm cắn bút chau mày làm thơ
(Tác giả: L)
thì tôi toàn xài … tiếng Đức.
Tôi cũng yêu tiếng Hán-Việt, đơn giản vì nó là một phần của cái tiếng Hỏi-Ngã-Lộn-Tùng-Phèo, là „bầu trời thơ ấu“ của tôi.
Đi lòng vòng chẳng qua muốn nói về một từ Hán-Việt mà có lẽ ít ai còn nhớ: Vị-Trân.
Xin trích đoạn thằng bạn đăng trên „Phây-Bút“ của nó, chưa xin phép vì nó còn ngủ mà tôi thì … chuẩn bị đi ngủ, chờ nó ô-kê chắc tôi cũng không còn nhớ Vị-Trân là ai, em từ đâu tới, đã mấy xuân xanh ? Dọn nhà là một việc làm rất mất thì giờ. Riêng đối với mình thì sẽ mất gấp đôi thì giờ, vì mỗi lần thấy lại một quyển sách cũ hay một tấm hình xưa là mình lại … thẫn thờ suy nghĩ. Dưới đây là hình hai quyển sách cũ tiêu biểu mà mình giữ được đến giờ. Một quyển bài tập Toán, soạn bởi các giáo sư Toán Cù An Hưng và Phạm Hạnh Thái, trong thập niên 80, dân ban C gọi quyển sách này là sách … Vàng. Vi bìa nó màu vàng, và cũng đồng thời là một cách chơi chữ, gợi nhớ lại loài sách Vàng là sách phóng tác truyện bằng trang của Pháp cuối thập niên 70. Hai là một quyển sách dạy nấu ăn. Bà cụ mình gửi qua cho con trai xa xứ, để tập nấu ăn. Quyển sách này được soạn vào những năm 30, 40 của thế kỷ trước, nên dùng từ rất xưa, mình đọc nhiều khi không hiểu gì hết. Ví dụ như bột ngọt, người ta gọi là bột Vị-Trân. Quyển sách này xưa ở nhà mình bên Việt Nam được cất trên đầu garde manger nên nó ám khói, ám mỡ nhìn rất giang hồ, dạn dày sương gió. Bây giờ thuộc loại sách cổ, mỗi lần lật ra đọc lại cứ sợ rách …Bột „Vị-Trân“ là tiếng Hán-Việt, chuyển ngữ từ chữ 味精.
Theo Bính âm (Pinyin) là „wèijīng„. Lỗ tai „Giao-Chỉ“ của tôi nghe nó mài mại như … „mì chính“.
Vâng, đúng vậy, bột „Vị-Trân“ chính là bột ngọt mà sau 1975 trở thành bột „mì chính“.
Chữ 味 là mùi, là „vị“. Năm vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn là năm mùi, là ngũ vị (五味). Nếu thơm thì thành … Ngũ-Vị-Hương (五味香). Không có mùi thơm nhưng lấy từ phương pháp tách chiết rong biển của nhà hóa học Nhật bản Ikeda Kikunae thì cũng là loại trân quý rồi, nên trước kia nó mang một cái tên Hán-Việt rất có ý nghĩa là … „Vị-Trân“, thay vì chỉ đơn giản dịch trơn tuồn tuột theo khẩu âm là … „mì chính“, khi mà chữ „mì“ trong tiếng Việt thật ra là một loại thức ăn làm từ bột, có hình dài dài như sợi dây.
Từ khi nào „Vị-Trân“ thành „bột ngọt“ thì không rõ. Có lẽ do năm 1954 nhiều người Bắc di cư vào Nam, họ phát âm vần „trờ“ như „chờ“, ít nhiều gây ngộ nhận, hiểu lầm, nên „bột ngọt“ ra đời, ám chỉ loại gia vị có màu trắng giống như bột gạo và có công dụng làm cho thức ăn có vị ngọt thịt.
Ai nói tiếng Việt trước 75 không „thuần Việt“ ?
Bột ngọt và mì chính, ai „thuần“ hơn ai ?
Thằng Hòa Bao Tử cỡ 13-14 tuổi.
Ở ngoài đời nó chuyên đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy, nhiều nhất là bộ phận thông hơi của máy xe gắn máy bằng cao su màu đen có hình dạng giống như cái bao tử người, bởi vậy nên có biệt danh là Hòa Bao Tử. Một băng của nó hoạt động khoảng 7-8 thằng nhóc, băng này bị bắt vô trại giam, mấy tên Đại Bàng nhận tụi nó làm đệ tử, được gọi là Se Sẻ ăn theo đám Đại Bàng. Khi bị đưa lên nông trường thì bị những người đi cùng chuyến từ trại giam lên tố cáo. Luật của nông trường là ngày đầu tiên nhập nông trường, tất cả những người mới lên được cho ngồi ngoài sân đá banh chờ làm thủ tục hành chánh và bảo vệ khám xét hành trang cá nhân coi có dấu tiền hoặc đem theo xì ke. Cùng lúc đó thì những người là Đại Bàng hay Se Sẻ phải tự giác đứng ra nhận hành động của mình ở trại giam, sau đó sẽ bị phạt đánh bằng roi cá đuối (roi là đuôi của cá đuối, có gai nhỏ, quất vô là rách thịt, chảy máu liền) hoặc có khi bị những người đã từng bị ăn hiếp khi ở trại giam đánh trả thù theo lệnh của bảo vệ gọi là luật “Cá ăn kiến, kiến ăn cá“. Sau khi bị phạt đòn thì đưa về ở đội kỷ luật bị quản lý chặt chẽ hơn thêm một thời gian rồi mới đưa về đội lao động bình thường.
Đám thằng Hòa bị đánh mỗi thằng 10 roi dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Mấy đứa đồng bọn của nó khi mới bị một, hai roi đầu là đã than khóc, xin tha. Riêng thằng Hòa cắn răng chịu đựng, không nói một lời. Tôi chú ý ngay dến nó liền, mỗi một roi chân nó khụy xuống nhưng rồi nó cắn răng, mím môi đứng lên chứng tỏ bản lãnh gan lỳ của nó cho nên tôi „kết“ nó liền vì tính lỳ lợm đáng nể của nó. Sau khi bị đánh thì cả đám được đưa đi ra bờ sông tắm để rửa vết thương chảy máu. Nước sông ở Duyên Hải là nước lợ, có nhiều muối nên chạm vào rất xót, nhưng vì thế nên mau lành. Khi thủ tục hành chánh đã xong thì số người mới lên được chia đều cho các đội. Tôi muốn nhận thằng Hoà làm đệ tử nhưng muốn hù nó thêm, coi bản lãnh nó cỡ nào nên đang đêm cỡ 1 – 2 giờ sáng, tôi sai người qua đội thằng Hòa đang ở, kêu: – Thằng Hòa Bao Tử đâu ? Qua bên Bảo Vệ làm việc.
Ai đã từng ở trên những trại lao động nông trường đều biết khi mình được nghe lệnh này là „đời tàn trong ngõ hẹp“ rồi. Nó có một cái gì đó khủng khiếp, kinh hoàng, và là nổi ám ảnh của tù nhân lao động. Bạn cứ tưởng tượng trong đêm khuya thanh vắng, dưới ngọn đèn dầu leo lét, bạn phải đối diện với công an hoặc giám đốc và trưởng hay phó Ban Bảo Vệ để trả lời những câu hỏi về một vấn đề gì đó bị nghi ngờ, chung quanh là 4-5 tay bảo vệ mặt mũi bặm trợn, cô hồn, sẵn sàng đánh những đòn không thương tiếc cho tới khi đạt được mục đích. Bởi vậy thằng Hoà có nghe tù cũ ở đây nói về vụ đi qua „Căn Nhà Màu Tím“ (vì vô đó thế nào cũng bị đánh thâm tím mặt mày) làm việc nên nó sợ xanh mặt, líu ríu đi theo tên bảo vệ.
Tôi kêu nó ngồi đối diện với tôi, chung quanh 4 góc là 4 tên bảo vệ mặt mũi bặm trợn đứng khoanh tay chờ lệnh. Tôi hỏi nó về gia cảnh và lý do vì sao bị bắt. Nó kể là nhà 6 anh em, nó lớn nhất, ba nó bỏ má nó và tụi nó. Nhà quá nghèo, má nó mượn vốn người ta đi bán vé số, nó ở nhà giữ em, có hôm bị giựt mất hết vé số, cụt vốn, thêm nợ nần, xoay sở kiếm sống nuôi 6 đứa con rất là chật vật. Là anh lớn nó muốn giúp mẹ nó nhưng xin đi làm không ai muớn vì nhỏ quá, đói ăn vụng, túng làm liều, nó đành đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó.
Nghe hoàn cảnh như vậy tôi không muốn hù nó như ban đầu dự dịnh nữa, tôi chỉ hỏi nó: – Mày bị đánh đau như vậy mà không khóc như mấy đứa kia hả ?
Nó trả lời tỉnh bơ: – Có sức chơi, có sức chịu, khóc cái gì.
Tôi hỏi nó: – Mày muốn qua đây ở với tao không ? Chỉ cần mày hứa là không được lợi dụng chuyện đi lại thoải mái rồi trốn trại. Mà tao cho mày biết, những người khác có trốn trại thì tao mặc kệ, nhưng nếu mà mày trốn trại thì tao hứa là chân trời góc bể nào tao cũng lôi đầu mày về đây lại vì mày dám lợi dụng sự chân thành của tao mà bội tín, mày hiểu chưa ? Nếu như mày ngoan ngoãn ở đây với tao, phụ giúp tao trong công việc, mà mày làm tốt thì sẽ được hưởng nhiều quyền lợi, tao còn có thể ký giấy cho mày về phép thăm má với em mày nữa.
Nó trả lời: – Nếu anh thương em cho em qua ở với anh, em xin hứa sẽ không phụ lòng tốt của anh, em xin thề !
Thế là sau hôm đó thằng Hòa bắt đầu qua ở với tôi mà một thời gian sau tôi cũng không ngờ là mình đánh giá nó quá thấp. Tôi chỉ tưởng là nó lỳ thôi, nhưng đầu óc của thằng nhóc 13-14 tuổi siêu việt hơn tôi nghĩ nhiều. Vì nó là đệ tử cưng của tôi nên từ đó nó là một „Ông Trời Con“, đám lính bảo vệ thằng nào cũng ngán đụng đến nó. Nó còn dám sai khiến một vài tên lính bảo vệ đi làm việc riêng cho nó nữa. Chuyện kế tiếp của thằng Hòa mà tôi sắp kể là những chuyện mà một thời gian sau cũng gần một năm tôi mới biết vì tôi ỷ y nó chỉ là thằng con nít 13-14 tuổi. Sau khi về ở với tôi thì thằng Hòa có nhiều tự do và điều kiện để bắt đầu làm ăn kiếm tiền, mà khi tôi biết ra, tôi và mọi người phải thán phục.
Đầu tiên nó có nhiều thì giờ rảnh vì không phải làm gì cả khi mọi người trên nông trường bị bắt buộc đi ra ngoài làm lao động. Nó rủ thêm một tên bảo vệ ra ngoài chu vi nông trường để bắt cá, tôm, cua và các loại hải sản khác. Đem về, nó đưa cho mấy chị bảo vệ, nhờ mấy chị chia ra và làm thành món mặn, một phần cho tôi và nó ăn cơm, một phần nhỏ khác cho chị bảo vệ nào làm dùm mấy chuyện này gọi là để trả công, còn phần lớn nhất nó nhờ người đó kho dùm hoặc làm món mặn như tôm rang, cá kho, thậm chí canh chua chẳng hạn, rồi nó đem đến chào hàng, bán cho những người ở đội lực lượng có tiền do người nhà gửi trên nông trường để những người đó có món ăn thêm trong bữa ăn hàng ngày.
Luật của nông trường là không một đội viên lực lượng nào được quyền giữ tiền. Tất cả mọi người, nếu có tiền, lúc mới nhập trại ngày đầu tiên đều phải khai báo và nộp cho thủ quỹ của nông trường. Chị này vừa là phó trại vừa là thủ quỹ. Khi nào muốn mua nhu yếu phẩm hay uống cà phê ở quán cà phê của nông trường thì nhờ tổ trưởng dẫn lên gặp chị để làm giấy tờ trừ tiền ra. Chị chưa có chồng con, gặp thằng Hòa khôn lỏi gọi bằng „Má“ nên mê tít, cưng nó, coi nó như con. Vì thế khi nó bán món ăn mặn của nó cho người nào thì nó dẫn người đó tới gặp chị, hoặc có khi chị theo nó xuống tận nơi giao thẳng tiền mặt cho nó rồi người mua ký giấy xác nhận. Thằng Hòa còn dám bán thiếu cho những khách hàng quen thuộc của nó, khi tới ngày thăm nuôi thì người nhà của người đó đem tiền lên trả cho thằng Hòa. Nó bán cho cả đội nam và đội nữ.
Lúc có chút vốn, nó bắt đầu đi ra chợ nổi của người dân địa phương tụ tập mua bán trên sông, cách nông trường không xa nhưng phải chèo ghe ra đi chợ. Nó bỏ tiền ra mướn một thằng bảo vệ biết chèo ghe để đưa nó đi. Trước khi đi, nó đến từng đội hỏi xem khách hàng của nó cần mua gì, nó ghi vô cuốn sổ, sau đó nó đi ra chợ mua, rồi về bán lại với giá gấp rưỡi hay gấp đôi tùy theo mặt hàng. Nhiều khi có nhiều nhưng nó nói hàng khan hiếm rồi nâng giá … chặt khách hàng. Ngoài ra nó còn mua gương, lược, kim chỉ và những đồ phụ tùng của bên nữ về để bán cho khách hàng nữ.
Tôi thì bận rộn cả ngày, tối về sau khi họp hành xong tôi hay lang thang xuống các đội chơi với một số bạn bè hoặc tụ tập đàn hát nên ít có thì giờ để ý tới thằng Hòa. Còn nó thì ngoài những việc lặt vặt tôi giao cho nó làm hàng ngày, còn lại nó lo lắng từng miếng ăn, giấc ngủ cho tôi. Tôm cá, hải sản nó đi bắt về giao cho chị bảo vệ có nhiệm vụ nấu cơm cho tôi với nó. Đến giờ ăn thì nó bưng lên, dọn sẵn sàng, rồi đi mời tôi về ăn cơm. Giường chiếu, mền gối tôi nó xếp ngay ngắn và giữ sạch sẽ. Cứ thỉnh thoảng nó bỏ tiền mướn một chị bảo vệ ra bờ sông giặt, phơi chiếu. Còn gối, mền mùng của tôi thì giặt bằng nước ngọt và xà bông thơm của Mỹ nên lúc nào cũng thơm phức.
Đến một hôm, nó xin tôi được về thăm má nó vài ngày nhân dịp có một vài người bảo vệ được về phép cho nó đi cùng. Tôi đồng ý, ký giấy cho nó về phép để nó cầm trình lên địa phương. Nó nói cám ơn rồi về lục tục thu dọn đồ đạc. Tôi thấy nó lôi ra một bọc to tướng để chung với ít quần áo. Tôi hỏi:
– Cái gì trong bọc vậy Hòa ?
Nó hớn hở trả lời – Dạ, tiền em làm ăn ở đây kiếm được, giờ em đem về cho má nuôi mấy đứa em của em.
Tôi ngỡ ngàng hỏi nó:
– Làm ăn ? Mà mày làm ăn cái gì trên nông trường này mà có nhiều tiền dữ vậy ?
Nó nói: – Ủa anh hổng biết gì hết hả ? – Biết cái gì ? Tao đâu biết cái gì, mà tiền ở đâu ra mày nói tao nghe coi .
Lúc đó nó mới kể cho tôi nghe nó bắt đầu làm ăn ra sao, làm tôi phải thán phục cái đầu óc kinh doanh của thằng nhóc 13-14 tuổi. Tôi hỏi nó – Mày bán thiếu cho người ta rủi tụi nó quỵt mày rồi sao ?
Nó cười hề hề rồi nói: – Lo gì chuyện đó, có anh, có Má Tâm, đố ông nội thằng nào, con nào dám giựt tiền của em. Thằng Hòa làm kinh doanh theo kiểu của nó ở đó cho tới khi được tha về vì còn nhỏ nên được mãn hạn sớm. Tôi không biết là nó kiếm được bao nhiêu, nhưng nó nói tháng nào nó cũng nhờ người đem tiền về cho má nó. Sau khi về, thỉnh thoảng nó theo ghe nông trường chở người đi thăm nuôi lên thăm tôi và những người trong đội bảo vệ. Một thời gian sau không thấy nó lên nữa. Tôi đoán là nó lại bị bắt ở đâu đó. Nhưng khi tôi được tha về, tìm đến địa chỉ mà nó đưa cho tôi thì nghe hàng xóm nói má nó vì đời sống quá khó khăn và phần cũng không muốn nó trở thành kẻ hư hỏng để bị bắt nữa nên dẫn anh em nó về quê ở Sóc Trăng.
Từ đó tôi không còn gặp lại nó nữa. Về sau tôi cũng có gặp một số thằng trong băng cũ của nó, làm ăn quanh khu vực Lăng Cha Cả và chợ Tân Bình, nhưng hỏi tụi nó cũng không biết tin tức gì của thằng Hòa. Tôi không biết bây giờ nó làm gì, có còn sống không, nếu cứ tiếp tục cuộc sống giang hồ.
Tôi nhớ hồi đó tôi dạy cho nó hát bài „Em sẽ là mùa Xuân của Mẹ“ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nó còn con nít nên giọng trong và cao như con gái. Sau này hễ tình cờ nghe lại bài này tôi đều nhớ tới nó. Nicholas Đặng – Tháng 12 / 2017
***
Đây là một phần hồi ký của thằng bạn tôi, kể lại thời nó bôn ba đi vượt biên không thoát, bị bỏ tù chung với dân du đãng, bụi đời, nghiện xì ke, rồi bị bắt đi lao động ở nông trường Duyên Hải, Cần Giờ.
Chuyện của nó chính xác với thực tế hơn các truyện của Duyên Anh như „Trần Thị Diễm Châu“, „Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang“, vì là hồi ký viết lại chuyện thật, còn Duyên Anh ngày xưa dựa vào chuyện thật rồi tiểu thuyết hóa cho lâm li bi đát.
Khi đọc đến khúc thằng Hòa Bao Tử vì nghèo túng làm liều „đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó“, tôi chợt nghe có chút gì đó xót xa cho thân phận một đứa bé thông minh, tháo vát, có trách nhiệm, đầy tình cảm, chỉ vì hoàn cảnh khốn khó đưa đẩy nó ra khỏi cuộc đời được làm người lương thiện.
Warren Buffet xuất thân sang giàu. Cha ông, Howard Buffet, là nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ và là người thành lập công ty đầu tư chứng khoán Buffet-Falk & Company. Warren Buffet tốt nghiệp Tiến sĩ kinh tế. Ông được xếp hạng người giàu thứ 3 trên thế giới với gia sản hơn 80 tỷ đô-la, chỉ thua Jeff Bezos (hạng 2) – người sáng lập Amazon – và tỷ phú Bill Gates.
Buffett tặng 85% tài sản của mình cho các quỹ từ thiện, phần lớn là quỹ „Bill & Melinda Gates“.
Tháng 6 năm 2010, cùng với Bill Gates, ông phát động chiến dịch „The Giving Pledge“ (Lời hứa ban tặng), kêu gọi người giàu nên tặng tiền cho hoạt động từ thiện. Vào tháng 8 năm 2010, 40 nhà tỷ phú đã tham gia chiến dịch này.
Source: Mark Hirschey – Work of Mark Hirschey, CC BY-SA 2.0
Nếu thằng Hòa Bao Tử có cơ hội được học hành đến nơi đến chốn, tôi không biết nó có trở thành Warren Buffet phiên bản Việt hay không, nhưng một điều tôi chắc chắn rằng bí danh „Hòa Bao Tử“ của nó sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Năm nay tôi được nhờ soạn và dịch lời giới thiệu cho chương trình văn nghệ Tết Mậu Tuất. Khá dài, đa số là nhạc Xuân vui tươi hay nhạc quê hương ngọt ngào, không có màn ca cải lương nào vì cô ca sĩ „gạo“ mới sanh em bé, bận bịu, nên khước từ. Bù lại được một màn vũ „Hành trình trên đất phù sa“, nghe là thấy có thể xen vào vài câu giới thiệu với quan khách Đức chút ít về đồng bằng sông Cửu Long, về „khúc ruột miền Nam của tôi“ từ khi bác tôi lấy cô vợ người Long Xuyên và chọn Cà Mau làm quê hương thứ hai.
Khó nhất là đoạn diễn văn khai mạc. Năm ngoái đã mượn bài thơ „Ông đồ“ của thi sĩ Vũ Đình Liên để nhập đề rồi, chả nhẽ năm nào cũng ông đồ ? Mà khổ nỗi Tết thì tiêu biểu là mai vàng, bánh chưng xanh, câu đối đỏ.
Lẩn quẩn mãi không ra ý tứ, tôi đành dùng hai câu ca dao xưa như trái đất
Xin các bậc tiền bối tha thứ nếu tôi đơn giản hóa mấy hình ảnh này trong tiếng Đức bởi nếu dịch sát nghĩa thì „tượng hình“ được, nhưng không thể „tượng thanh“ vì thơ tiếng Đức khác luật bằng trắc. Xuất giá tòng phu, xuất ngoại tòng … quyền. Gặp cảnh biến phải theo đạo „quyền“, không thể giữ nguyên đạo „kinh“ như lúc bình thường được, nên tôi „vẽ“ tạm cái Tết Việt Nam cho người Đức thưởng ngoạn như sau
Nghe cũng … vần chán !!! Tối hôm sau, anh phụ trách chương trình văn nghệ gọi phone nhắn nhủ: – À, anh còn quên bài „Mùa Xuân lá khô“, em biết bài này chứ ?
Tôi: – Dạ … không!
Anh: – Ca vầy nè, Tôi trở lại vùng hành quân, vùng xa xôi đá sỏi biết buồn …
Tôi: Một phút suy tư. – Dạ để em kiếm trên Internet, thể nào cũng có.
Cúp máy điện thoại. Mở máy vi tính. Bấm tìm „Mùa Xuân lá khô“. Kết quả:
Mùa Xuân Lá Khô – Trần Thiện Thanh – Ca sĩ thể hiện: Trường Vũ, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Mạnh Quỳnh.
Trời đất, thôi rồi, lại là „nhạc Sến“ nữa rồi ! (Chú thích: không phải tôi có hàm ý chê bai, mà „nhạc Sến“ là tên một dòng nhạc được khá nhiều người yêu chuộng, đa số theo điệu Bolero réo rắt, luyến láy).
Vì không biết bài này nên tôi mù tịt, Ai-Nô-Ai-Đia (I no idea), không thể xuất ngoại, xuất tòng gì sất. Tôi đành tra kiếm tiếp trên mạng lời của nguyên bản nhạc, kèm theo nghe tới nghe lui bài hát để có thể cảm nhận được ý của tác giả, dựa theo đó mà soạn lời giới thiệu cho Em-Xi (MC).Hết nghe Trường Vũ, Tuấn Vũ lại đến Duy Khánh, Chế Linh, Mạnh Quỳnh. Nghe xuôi nghe ngược mãi chán, tôi chuyển sang giọng ca nữ Thanh Tuyền, Mỹ Huyền. Bài này càng nghe càng thấy thấm, thấy thương cho thân phận người lính:
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai …
Chợt nhớ lời con bạn: „Lúc còn bé, mình hay tập theo mấy cousin, cousine, chỉ nghe nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, nhạc trẻ Phượng Hoàng … mà lãng quên những bản nhạc nói về đời lính gian khổ, xa nhà, xa mẹ, xa người yêu, triền miên khói lửa. Sau này nghe lại tao thật sự thấy xúc động và thương cảm họ thật nhiều, nếu không có đổi đời, đôi lúc tao nghĩ có thể mình sẽ là người yêu của lính …“
Tôi không biết tôi thì có trở thành „người yêu của lính“ giống nó không, nhưng dù không phải „phen“ nhạc Sến, tôi rất thích bài „Ai nói với em“ (Minh Kỳ – Huy Cường):
Ai nói với em nếu anh là lính
Không biết nói yêu mỗi khi gần em
Ai nói với em tình mình dang dở
Vì đời lính nhiều gian khổ
Yêu chỉ cho lòng mong chờ
Ai nói với em lính không sầu nhớ
Không có trái tim đắm say mộng mơ
Ai nói với em tình người lính trẻ
Nồng nàn nhưng nhiều dâu bể
Không như cung đàn lời thơ
Ba-lô thay người tình yêu dấu
Đêm đêm riêng mình nằm gối đầu
Anh thấy nhớ em, anh thấy mến em
Ước mơ anh là trời cao
Rót trăng nhuộm vàng làn tóc thương yêu
Khi lính đã yêu bướm ghen tình thắm
Muôn kiếp vẫn yêu nói chi ngàn năm
Khi lính đã yêu rừng tàn núi lở,
Tình còn vững bền muôn thuở
Bao la như lòng đại dương.
Phải chi hôm Tết có ai hát bài này nhỉ ?
Tôi sẽ có rất nhiều ý tưởng để soạn lời giới thiệu cho nó.
Manchmal schickt er mir per Whatsapp seine Gedankengänge, wo zwischen den Zeilen „…-bla-bla-usw-…“ als Platzhalter auftauchen.
Letzten Samstag kam am Vormittag dieses Bild mit der Mitteilung: „Morgen! Hat die Darstellung eines exponentiellen Wachstums als 1. Ableitung und als Logarithmusfunktion eine Bedeutung im Finanzwesen?“
Ich nix kapito, du was wollen.
„Hast du eine Buchempfehlung für Finanzmathematik?“
Berk and de Mazo, Corporate Finance.
„Ich suche mal nach de-Ausgabe.“
Etwa eine halbe Stunde später:
„Du kannst den mir auffallenden Zusammenhang für die GiKaD Seite nutzen und schreiben: Adam Smith fand bereits vor ca. 250J heraus, dass Kinder wohlhabender Familien mit großer Wahrscheinlichkeit eine elitäre Berufslaufbahn ansteuern (heute wissen wir, der Schnitt liegt bei weit über 70%) und umgekehrt. Als Pessimisten würden Sie nun sagen, der sprichwörtliche Silberlöffel determinierte den beruflichen Werdegang eines Kindes, wie ungerecht die Welt doch sei und es könne nicht sein, dass die Geburt das Recht auf Bildung festläge. Doch als Optimist erkennen Sie, dass Intelligenz nicht erblich ist oder das genetische Prädisposition, sollte dies tatsächlich eine Rolle spielen, der sozialen Herkunft untergeordnet ist. Ausnahmen bestätigen diese Annahme (suche nach Nobelpreisträgern aus ärmlichensten Verhältnissen). Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind (Urheber des Satzes finden). Wenn Sie spenden, verhelfen Sie gemeinsam mit GiKaD begabten aber unterprivilegierten Kindern zu ihrem Glück, ja sogar zu ihrem Recht auf Bildung. Wir von GiKaD träumen von einer besseren Welt und hoffen, dass diese Kinder eines Tages erfolgreich ins Berufsleben starten werden, und sich dann für andere, weniger privilegierte Kinder einsetzen (Zinseszins-Effekt der Spende). Wie möge die Welt in der wir heute leben aussehen, wenn Sir William Gates nicht Vater von Bill, sondern ein obdachloser Alkoholiker wäre. Oder Marks Vater sei nicht der Zahnarzt Dr. Edward Zuckerberg sondern alleinerziehender Tagelöhner? Angenommen beide hätten aufgrund von Fremdmitteln profitiert und sind nun zu den Menschen herangewachsen, die sie heute sind. Wieviel mehr würden von ihrem Reichtum der Gesellschaft zurückgegeben? Traumhafte Vorstellung. Wer träumt … Hoffnung … bla bla usw … Träumen Sie gemeinsam mit uns und Give Kids a Dream … bla bla usw …“
Habe recherchiert.
Einige Nobelpreisträger aus ärmlichensten Verhältnissen:
Ada Yonat, Nobelpreis Chemie
Isidor Isaac Rabi, Nobelpreis Physik
Alexander Fleming, Nobelpreis Medizin
Lech Walesa, Friedensnobelpreis
Günter Grass, Nobelpreis Literatur
Nur Günter Grass war mir bekannt.
Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind. Kann Urheber dieses Satzes nicht finden.
Suche nach „Herkunft, woher kommen wir“ ergab den Denkspruch von Karl Heinz Karius: „Woher kommen wir? Wohin gehen wir – und vor allem wann?“ Bahnreisende verbindet häufig das Interesse an allen existenziellen Kernfragen der Philosophie. Wie recht er hat. Bahnfahren ist einfacher als das Studium der Philosophie.
Für seine „…-bla-bla-usw-…“ ist mir noch nichts eingefallen.
Ich musste früher in der Schule das Märchen von Hans Christian Andersen in der französischen Fassung „La petite fille aux allumettes“ lesen. Es erzählte die tragische Geschichte eines kleinen Mädchens, das am Silvesterabend frierend auf der Straße Schwefelhölzchen verkauft. Niemand beachtet sie. Die mit ihren Feiertagsbesorgungen beschäftigten Bürger übersehen das Kind und seine Bettelwaren. Verzweifelt vor Kälte zündet das Mädchen die Streichhölzchen an. Im Lichtschein des Hölzchens fühlt sie sich, als würde sie an einem warmen Ofen sitzen, der Gänsebraten auf den feierlich gedeckten Tisch neben einem funkelnd geschmückten Tannenbaum. Schließlich begegnet es seiner Großmutter und bittet diese, es in den Himmel mitzunehmen.
Damals las ich aus „Zwang“. Pflichtlektür, vom Lehrer „aufs Auge gedrückt“. Ich fand die Geschichte nicht so spannend wie „Aschenputtel“, die zum Glück ihren verlorenen Schuh doch wieder fand. Vor allem konnte ich die eisige Winterkälte überhaupt nicht nachempfinden, denn das Kälteste von Saigon ist eine kühle Brise in der Regenzeit. Ich habe auch nie jemanden gesehen, der nur Streichhölzer verkaufte, vielleicht zusammen mit einer Schachtel Zigaretten der in den 60-70er Jahren in Saigon sehr beliebten Marken Salem, Bastos …
Dann ging ich nach Deutschland, lernte das Pfeifen des Windes an der Nordsee kennen, verstand die Bedeutung von „eisig kalt“, fühlte die Einsamkeit und Heimweh am Silvester. Eines Weihnachtsabends kuschelte ich mich unter der warmen Decke und lies „Das kleine Mädchen mit den Schwefelhölzern“. Ich wünschte, ich könnte ihr eine Schachtel Streichholz abkaufen oder ihr ein Glas heiße Schokolade oder ein belegtes Brötchen anbieten. Dann setzte ich mich mit ihr in die Ecke eines alten Fachwerkhauses. Ich erzählte ihr von meiner Heimat, ein Ort so weit weg, dass sie ihn nicht mal in ihrer tiefsten Phantasie sich vorstellen kann. Dort gibt es kein Straßenhändler, der Streichhölzer anbietet, aber es gibt Kinder, die auf der Straße Lottorielose verkaufen. Sie sehen aus wie sie: klein, lumpig. Sie guckte mich mit ihren vor Erstaunen weit aufgerissenen schmaragdgrünen Augen an und fragte: – Wenn niemand die Lottorielose kauft, verbrennen die Kinder sie auch, um in ihre Träume zu gleiten?
Ich bin nicht Andersen. Seine Geschichte berührt nicht nur Millionen Herzen auf der ganzen Welt, sondern ist in der Weihnachtszeit zur Pflichtlektür geworden. Eltern und Lehrer erzählen sie, in der Hoffnung, ihre Sprößlinge zu braven Kindern, musterhaften Schülern, trauten Freunden, zu Menschen mit guten Eigenschaften zu erziehen. Wenn sie brav sind und gute Taten vollbringen, werden sie vom Weihnachtsmann reichlich belohnt:
– Es gibt immer Menschen, denen es schlechter als dir geht. Sei barmzherzig, mein Kind!
Ich bin mir nicht sicher, seit wann meine allerliebste Tochter auf der ganzen Welt erkannt hat, dass der Weihnachtsmann nicht durch den Schornstein kommen konnte, denn unser Haus hat eine Zentralheizung, das Wasser wird mit Gas geheizt, und die Wärme wird anschließend durch ein Rohrsystem auf die einzelnen Zimmer verteilt.
Aber bis zum Teenageralter (ab „thirteen“) war meine allerliebste Tochter auf der ganzen Welt immer noch fasziniert von Walt Disney, Pixar Filmen mit dem Weihnachtsmann, der Jahr für Jahr auf seinen Renntierschlitten steigt, um seine Geschenke zu verteilen. Mit offenen Mund verfolgte sie in „Der Polarexpress“ das Abenteuer von dem Jungen ohne Namen bei seiner Reise zum Nordpol, wo angeblich der Weihnachtsmann wohnt.
Der Film endet damit, dass der Junge die Glocke findet, die ihm der Weihnachtsmann geschenkt hat, bevor er den Nordpol verlässt. Nur er kann den rasselnden Geräusch des Glöckchens hören. Dem Jungen ist klar, dass die Existenz des Weihnachtsmanns von seinem eigenen Glauben an Weihnachten abhängt.
Ich bin Walt Disney, Pixar und … Andersen sehr dankbar. Ohne sie hätte meine allerliebste Tochter auf der ganzen Welt nie an den Weihnachtsmann geglaubt, nie an Wunder geglaubt, die in diesem Leben geschehen könnten. Und das ist das Traurigste einer Kindheit. Weil Glaube Hoffnung sät. Und wo Hoffnung gibt, können Bemühungen zum Erfolg führen, wie der ehemalige Bundespräsident Richard von Weizsäcker einmal sagte: „Die Hoffnung führt uns weiter als die Angst“.
Der Film „Der Polarexpress“ dauert etwa anderthalb Stunden, der 3D-Animationsfilm „Das kleine Mädchen mit den Schwefelhölzern“(hier zu sehen) ist ca 9,5 Minuten lang.
Hồi còn đi học tôi đã „bị“ bắt đọc truyện „Cô bé bán diêm“ của Hans Christian Andersen, văn bản tiếng Pháp „La petite fille aux allumettes“ kể về một cô bé nhà nghèo, đêm giao thừa giữa mùa đông buốt giá phải đi bán diêm. Khách qua đường tất bật mua sắm, chuẩn bị đón tết, không ai chú ý đến cô bé đang rao bán từng bao diêm. Để sưởi ấm, cô bé đánh liều quẹt diêm và mỗi que diêm cháy sáng đem lại cho cô bé những hình ảnh ấm cúng, như cái lò sưởi cạnh bàn tiệc có con ngỗng quay, cây thông Giáng sinh trang hoàng rực rỡ, rồi bà ngoại cô bé hiện về. Nhưng tất cả các thứ đó đều biến mất khi que diêm tắt ngấm.
Buổi sáng đầu năm mới, người ta thấy cô bé bán diêm chết cóng giữa những bao diêm đốt dở. Không ai biết cô bé đã nắm tay bà ngoại lên thiên đường trong niềm hạnh phúc vô biên.
Hồi đó đọc cho „xong phận sự“, trả thầy trả cô, chấm hết. Không thấy hay như truyện cô bé lọ lem rớt giày, may sau vẫn tìm lại được. Nhất là không tưởng tượng ra nổi trời mùa đông ở xứ người giá rét thế nào vì chỉ thấy Nắng Sài-Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà-Đông
Cũng chưa thấy ai chỉ bán diêm quẹt, họa chăng bán kèm chung với mấy bao thuốc lá Salem, Bastos …
Rồi tôi lưu lạc sang Đức. Biết thế nào là tiếng gió rít miền Bắc-Hải (Nordsee), hiểu nghĩa của „lạnh căm“, thấm thía nỗi cô đơn xa gia đình trong đêm giao thừa ở xứ người. Đêm Giáng Sinh nằm trùm chăn đọc truyện „Das kleine Mädchen mit den Schwefelhölzern“, tôi ước mình có thể mua ủng hộ cô bé hộp diêm hay đãi cô một ly sữa chocolate nóng hoặc một ổ bánh mì kẹp xúc xích. Rồi tôi sẽ cùng cô ngồi nép vào góc tường của một căn nhà cổ kính. Tôi sẽ kể cô nghe ở quê tôi, một nơi xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi (xin xem bài Tản mạn hoa đào), chẳng có ai đi bán diêm dạo, nhưng có những em bé bán vé số lạc lõng giữa phố chợ. Chúng nó cũng giống cô, cũng nhỏ bé, lem luốc, bán từng tấm vé số để mưu sinh. Cô bé sẽ mở to đôi mắt màu bích ngọc ra dáng ngạc nhiên lắm và hỏi tôi: – Thế nếu không ai mua vé số thì các bạn ấy có đốt chúng đi để có thể thấy được những gì mình hằng mơ ước không hả cô ?
Tôi không phải Andersen. Tôi không có khả năng viết một truyện cổ tích không chỉ làm thổn thức lòng trắc ẩn của hàng triệu người mà còn mang ý tưởng giáo dục để cha mẹ, thầy cô cứ vào mùa lễ Giáng Sinh lại đem ra kể, và kết thúc bằng một câu à la „Tâm hồn cao thượng“, với hy vọng cái đầu óc trẻ thơ cần được vun xén kia tin rằng có ông già Noel sẽ đem đến cho chúng những món quà ước mơ nếu chúng biết cố gắng làm một người tốt, con ngoan, trò giỏi, bạn hiền và đủ thứ những đức tính tốt khác: – Trên cuộc đời này luôn có những người bất hạnh hơn ta ! Phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau con nhé !
Tôi không chắc lắm là từ bao giờ đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi nhận thức ra rằng ông già Noel không thể chui qua ống khói để vào nhà đặt quà giáng sinh cho nó ở dưới gốc cây thông được, vì nhà tôi dùng máy sưởi trung tâm bằng gas đun nước nóng, rồi máy tự động bơm nước tuần hoàn vào hệ thống ống dẫn nước tới từng phòng.
Nhưng cho tới tuổi „teen“ (13 tuổi trở lên) đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi vẫn say mê phim hoạt họa của Walt Disney, của Pixar, với hình ảnh ông già Noel cưỡi xe tuần lộc đi phát quà. Nó đã từng há hốc miệng theo dõi phim „The Polar Express“ kể về một cậu bé luôn tin rằng ông già Noel là có thật, nhưng người nhà của cậu bé và tất cả mọi người đều khẳng định là chuyện hoang tưởng. Trong đêm Giáng sinh, cậu gặp một chuyến xe lửa tốc hành tới Bắc-Cực đi ngang qua nhà mình. Cậu bước lên tàu và bắt đầu chuyến phiêu lưu đầy kỳ thú đến xứ sở của ông già Noel.
Phim kết thúc bằng cảnh cậu bé tìm thấy quả chuông lúc lắc mà cậu được ông già Noel tặng trước khi rời Bắc-Cực, và chỉ mình cậu nghe được tiếng rung trong veo của nó do cậu đã tin rằng những điều diệu kỳ trong cuộc sống luôn hiện hữu.
Tôi phải cám ơn Walt Disney, Pixar, cám ơn … Andersen. Không có họ, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi chẳng bao giờ tin có ông già Noel, chẳng bao giờ tin những điều kỳ diệu có thể xảy ra ở cuộc đời này. Và đó là chuyện buồn nhất cho tuổi thơ. Vì niềm tin sẽ gieo hy vọng. Có hy vọng mới có cố gắng.
Cựu Tổng Thống Đức – ông Richard von Weizsäcker – từng nói „Die Hoffnung führt uns weiter als die Furcht“ (Hy vọng dẫn ta tiến xa hơn là sự sợ hãi).
Phim The Polar Express dài hơn 1 tiếng rưỡi nên các bạn có thể xem phim hoạt hình 3D Cô bé bán diêm ở đây, dài khoảng 9 phút rưỡi thôi.
Nordkoreas Staatschef Kim Jong-un hält mit seinen Rakententests die Welt in Atem. Deutschland kritisierte den „völkerrechtswidrigen Kurs Nordkoreas in aller Schärfe“. USA kündigte an, den Druck auf Pjöngjang weiter zu erhöhen – was es auch immer zu bedeuten mag. Das einzige Land, wo sich wirklick was tut, ist Japan: Schulkinder üben Evakuierung für den Ernstfall.
Mit dieser Einleitung könnte man meinen, dass ich ein Japan-Fan bin. Eigentlich mag ich wie die meisten Ostasiaten Japan nicht sehr, vielleicht lag es nur an meinem Minderwertigkeitskomplex gegenüber das Land der aufgehenden Sonne. Aber ich bewundere die Liebe der Japaner zu ihrem Land, die ihnen half, aus den Ruinen von Hiroshima zur wirtschaftlichen Weltmacht aufzusteigen. Was ich in diesem Blog vostellen wollte, ist die japanische Sprachschule „Đông-Du“ in Saigon, auf Deutsch „Reise nach Fernost“.
Oh, ich habe nicht die Absicht, den Leser das Erlernen der japanischen Sprache zu ermuntern. Vielmehr möchte ich das Model der Förderung von Schülern und Schülerinnen aus armen Verhältnissen erläutern, das von dem Schuldirektor Nguyễn Đức Hòe ins Leben gerufen wurde. Er selbst hat in Japan studiert und den Master of Science an der Universität Tokio im Jahre 1967 erworben. Bereits während seiner Studienzeit gründete eine Art Studentenfond, um in Not geratene studierende Landsleuten zu helfen. Nach dem Studium, zurück in seinem Heimatland und geimpft mit dem Đông-Du-Gedanken: Mit den im Ausland gebildeten Samen, die Früchte im Heimatland zu ziehen.
Obwohl er jetzt fast 80 Jahre alt ist, besucht er regelmäßig die von der Đông-Du-Schule geförderten Studenten im Ausland, mobilisiert japanische Freunde um ausländische Studenten zu sponsern und mit Stipendien arme Schüler und Schülerinnen in Vietnam zu unterstützen. Er arbeitet unerbittlich an dem Ehrgeiz, Studenten aus Vietnam ins Ausland zu schicken, um ihr Wissen zum Wohle des Landes einzusetzen, nach dem Vorbild von Japan.
Der Đông-Du-Schuldirektor Nguyễn Đức Hòe
Mit der Invasion der Assyrer im Jahre 720 v. Chr. begann die Geschichte des jüdischen Exils. Mit einer beharrenden Entschlossenheit, eine „Heimstätte für das jüdische Volk“ zu errichten, verkündete David Ben-Gurion am 14. Mai 1948 die Gründung des Staates Israel.
Ich weiß nicht, wie lange die Geschichte des vietnamesischen Exils dauern wird, aber wenn der „Đông-Du-Traum“ weiterhin kultiviert wird, hoffe ich eines Tages, dass auf den Reisfeldern meines Heimatlandes die Ähren prallen.
Có thằng bạn kể nó sống xa mẹ và gia đình từ năm 17 tuổi, nay mẹ nó – một thời là một trong những business women có hạng ở Saigon – đã 86 tuổi, vẫn còn minh mẫn, nên nó thấy còn có phước lắm nếu so với một số bạn bè khác mà
ngày xưa chào mẹ, ta đi mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười mười năm rồi lại thêm mười ta về thì khóc, mẹ cười lạ không
ông ai thế ? Tôi chào ông mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi ông có gặp thằng con tôi hao hao … tôi nhớ … nó… người … như ông. mẹ ta trả nhớ về không trả trăm năm lại bụi hồng… rồi .. đi … (Đỗ Trung Quân)
Một đứa bạn khác ví mẹ nó là con búp bê: Búp bê tóc trắng phơ, yếu đuối, nhỏ nhoi. Tôi làm gì, cũng làm từ làm tốn để búp bê kịp làm cùng. Tôi đi đâu, cũng chậm thong bước thả để búp bê kịp bước theo. Tôi ăn gì cũng nhai nhẹ nuốt nhàng để búp bê cùng kịp bữa. Tôi ôm ấp, hôn hít để búp bê cười hồn nhiên hai tuổi. Tôi xoa đầu, vuốt tóc, nựng má để búp bê cười hồn nhiên ba tuổi. Tôi dắt búp bê, khi tung tăng, lúc lết thết, khắp Saigon để búp bê vui hồn nhiên bốn tuổi. Tôi dẫn búp bê đi làm quen nhiều bạn trẻ mới để búp bê vui hồn nhiên năm tuổi.
Người già lạ tính, lạ nết, lạ ăn, lạ uống, lạ nghĩ, lạ bịnh, lạ tật. Chăm người già nhiều lúc xuống tinh thần, đôi khi nóng nảy, vài khi cáu gắt. Chăm búp bê tôi thấy mình khoan dung, nhẹ nhàng và dễ chịu hơn. Vì người ta không kỳ vọng ở búp bê, như kỳ vọng ở một người ngày xưa thời lỗi lạc. Người ta không thể khó tính với búp bê, như khó tính với một người ngày xưa từng cừ khôi. Người ta không xót xa nhớ về búp bê đã một thời từng khôn khéo phụ chồng nuôi con giữa đời xuôi ngược.
(Trích từ „CON BÚP BÊ ĐẸP NHẤT“ của Võ Thị Trang Hân)
Còn mẹ tôi ?
Mẹ tôi sanh ngày 16.10.1937 tại Hà Giang.
Ngày mai mẹ có sinh nhật.
Trên trang Facebook „Một mảnh vườn thơ“ có đăng 2 bài của thi sĩ Vũ Minh Tuấn về hai trường nữ trung học Gia-Long và Trưng-Vương, với hình ảnh chiếc áo dài thướt tha từng làm ngơ ngẩn bao nam sinh Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký …
Tà áo Gia Long
Tôi bước chân về qua Gia Long
Cổng cũ trường xưa chợt hỏi lòng
„Giữa bao áo trắng tung bay ấy
Có tà áo nào của em không ?“
Tà áo em xưa thuở bụi hồng
Vờn bay trong gió những ước mong
Tôi theo áo ấy về qua ngõ
Đứng lặng chờ người khuất bên song
Tôi theo áo ấy, ngày lại ngày
Mộng lòng theo tà áo tung bay
Bước chân người cũ trên đường cũ
Giờ đã xa rồi chẳng ai hay
Nay tôi lại về qua Gia Long
Tìm chút hương xưa dấu trong lòng
Đâu người áo trắng ngày xưa ấy
Đã ghé bờ nào, trả bến sông
Vũ Minh Tuấn – 2017
Trường Gia-Long
Tôi „hậm hực“ lắm bởi tôi không là nữ sinh áo trắng vì tôi học trường Lê-Quí-Đôn[1], mặc đầm … „Mini-Díp“ ngắn hững hờ „trên“ đầu gối, còn „trên“ tới đâu thì không có quy định, nếu mà ngắn quá sẽ tự động được thầy cô giám thị hỏi thăm sức khỏe, sợ học sinh ăn mặc không đủ ấm dễ lây cảm thương … hàn, nhất là cho các … nam học sinh.
Đành nhủ lòng thôi „giả bộ“ làm người tình áo trắng vậy.
Tôi bước chân về qua Gia Long
Cổng cũ trường xưa chợt hỏi lòng
„Giữa bao áo trắng ngày xưa ấy
Có tà áo nào anh nhớ không ?“
Tà áo em xưa thuở bụi hồng
Vờn bay gởi gió tình trắng trong
Nón lá che ngang làn mắt biếc
Dõi nhìn ai đó có biết không ?
Anh theo áo ấy, ngày lại ngày
Vòng xe tuổi ngọc mộng trong tay
Thư tình không gởi, lời chẳng ngỏ
Áo trắng ôm sầu anh có hay ?
Nay tôi lại về qua Gia Long
Tìm chút hương xưa dấu trong lòng
Áo trắng năm nao giờ xếp lại
Hương tình ngày cũ … thả trôi sông
(Chú thích: Độc giả nào không muốn làm
Em như „gì đấy“ trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ thì có thể thay câu cuối bằng
Anh ở phương nào, còn nhớ không ?)
Nhưng tôi là Học sinh Lê-Quí-Đôn Như ánh thái dương bình minh[2]
cơ mà !!! Chả nhẽ „Mini-Díp“ không „nên thơ“ sao ?
Khác với Gia-Long hay Trưng-Vương, trường Lê-Quí-Đôn là một trường rất văn minh, dân chủ, tự do, không phân biệt chủng tộc, giới tính, nên tránh được khá nhiều tai nạn do mấy anh Pétrus Ký tan học phải đạp xe thục mạng băng qua đường Hồng-Thập-Tự cho kịp giờ tan trường của các em „áo trắng“, lơ tơ mơ là „binh sĩ sẽ nổ súng“ theo như lời cảnh cáo ghi trên những bảng ở hàng rào quanh dinh Độc Lập.
Lê-Quí-Đôn đâu thiếu gì hoa khôi, đâu thiếu gì những nam sinh cùng trường – và của các trường „bạn“ (với nữ sinh là bạn, nhưng đối với nam sinh có thể khác) Pétrus Ký, La San Taberd v.v. – ngày ngày choảng nhau trước cổng trường mặc kệ binh sĩ có nổ súng hay không.
Tôi càng „hậm hực“ hơn vì làm thơ „Mini-Díp“ không phải đơn giản. Tên trường tôi „Quí“, vần trắc. Những con đường „ôm“ trường tôi như Hồng-Thập-Tự, Trần-Quí-Cáp, Công-Lý đều mang vần trắc thì làm sao mà ghép vào thơ „Thuở yêu em váy ngắn hững hờ … bay“ đây ? Cũng nên nói thêm là „Mini-Díp“ rất quyến rũ dù chỉ được mặc như đồng phục. Tôi có viết một bài về chiếc váy rồi (đọc ở đây). Nghĩ nát óc không ra được vần thơ nào thật là du dương nên tôi đành chọn vần trắc làm „Phố Cụt“ (Fokus) vậy.
Váy cụt Lê-Quí-Đôn
Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy cụt
Nơi sân trường phượng vĩ thắm sắc hoa
Lời tự tình anh gởi gió thoảng qua
Vờn tóc mây, đùa vai gầy gọi nắng
Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy ngắn
Không đủ dài nên thiếu chữ yêu đương
Cho anh về trọn kiếp phải vấn vương
Sáo Trương Chi thôi đành vang xó bếp
Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy xếp
Ôm chân son, gói trọn tuổi mộng mơ
Váy em xanh là cả một trời thơ
Anh về nhớ Lê-Quí-Đôn váy cụt
Vì ngẫu hứng nên không có hình hoa khôi Lê-Quí-Đôn để minh họa. Tạm thời tôi đăng hình của mình vậy, khi nào được cho phép sẽ thay bằng hình những hoa khôi Lê-Quí-Đôn. Nhiều lắm độc giả ạ !
Niên khóa 1969-1970
Lễ phát phần thưởng niên khóa 1972–1973
tại sân trường tiểu học Lê Quí Đôn
Dạo này thế giới xôn xao vì Kim-Chính-Ân hăm he phóng hỏa tiễn bay vèo vèo xuyên đại đương từ Đông sang Tây, lỡ mà rớt xuống đâu thì đó ráng chịu. Mỹ lo. Đức lo. Pháp lo. Nước duy nhất vừa lo vừa làm là … Nhật-Bản. Chính phủ tập trận sơ tán cho dân, thảo kế hoạch bắn phá tên lửa.
Nhập đề như vầy bạn chắc hẳn cho tôi là „phen“[1] với Soichiro Honda hay Torakusu Yamaha. Thật ra, giống như đa số người Á đông, tôi không thích Nhật lắm, có lẽ do cái GATO[2] đối với Nhật-Bản của tôi quá lớn. Nhưng tôi thật sự cảm phục lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào của họ. Bị thất trận vì bom nguyên tử Hiroshima, với lòng yêu nước nồng nàn người Nhật đã vươn lên từ đổ nát của chiến tranh. Những dân tộc nào như vậy đều hùng mạnh hết, dù sống lưu vong trên 2000 năm, bị tàn sát như người Do thái, suy sụp, đổ nát vì chiến tranh thế giới thứ 2 như Đức, Nhật nhưng Lúa vẫn trĩu hạt trên đất Phù Tang.
Cái tôi muốn giới thiệu ở bài Blog này là trường Nhật ngữ Đông Du ở Sài-Gòn. Ồ, không phải tôi kêu bạn học tiếng Nhật đâu ! Thầy hiệu trưởng, người thành lập trường này, đi du học và làm việc một thời gian dài ở Nhật nên tác phong và tư tưởng rất giống người Nhật. Tuy đã gần 80 tuổi ông vẫn đi Nhật thường xuyên để thăm và kiểm tra tình hình các em du học sinh Đông Du bên đó, vận động bạn bè Nhật tài trợ cho các du học sinh và giúp học bổng cho học sinh nghèo ở Việt Nam v.v. Nói chung là làm việc không ngơi nghỉ. Ông bà hiệu trưởng rất có tâm và nhiệt huyết, đặt tên trường là Đông Du với hoài bão đưa sinh viên ưu tú Việt Nam đi du học để gieo hạt, ương mầm, sau này có trái thơm quả ngọt về giúp ích cho đất nước.
Cuộc xâm lăng của người Assyria vào năm 720 trước Công Nguyên đã khởi đầu lịch sử lưu vong của dân Do Thái. Với ý chí lập quốc kiên cường, ngày 14 tháng 5 năm 1948 David Ben-Gurion – thủ lĩnh Do Thái – tuyên bố thành lập một „nhà nước Do Thái“ tại Eretz Israel.
Tôi không biết lịch sử lưu vong của người Việt sẽ kéo dài bao lâu, nhưng nếu „Giấc mộng Đông Du“ vẫn tiếp tục được vun xén, tôi hy vọng một ngày nào đó lúa cũng trĩu nặng trên đất quê hương tôi.