Dối lòng

Sáng nay, con bạn tôi gởi một bài thơ mà giả thuyết tác giả là người Thổ Nhĩ Kỳ có xác xuất cao nhất, dù khá nhiều người quả quyết là của Shakespeare hay Bob Marley:

You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.

You say that you love the wind,
But you close your windows when wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too.

Trong những bài dịch tôi thích nhất bài dịch theo phong cách Hồ Xuân Hương:

Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa

Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!

(không rõ tác giả)

Dịch Vũ Hán làm nhiều người bị „cấm túc“

Bần cùng sinh đạo tặc
Cầm chân … há miệng kêu

Không đi đâu được thì ta ở nhà dọn dẹp, lau chùi, giặt giũ, làm việc gà què ăn quẩn cối xay, hay nếu sợ lao động sẽ mòn „bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa“ thì ta làm … thơ, phong cách … Nguyên Sa với Áo lụa Hà Đông, Tháng sáu trời mưa, hay mượn „gió đông“

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

trong Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ.

Dối lòng

Anh bảo nhớ suốt đời mưa tháng sáu
Nắng Sài Gòn mơn áo lụa Hà Đông
Sao ẩn mình khi trời giận nổi giông
Sao che dù, đeo kính, nép bóng râm?

Gió có lạnh anh cầm tay em chặt
Sao ô cửa anh cài tránh đông phong?
Nên em sợ lời anh nói mặn nồng
Biết xa nhau anh có nhớ em không?

À, tôi có diễm phúc sở hữu học bạ của một học sinh trường Chu Văn An Sài Gòn, có ghi tên giáo sư dạy triết là Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.

Tôi không chỉ yêu thơ của Nguyên Sa, tôi cũng rất thích môn Triết-học (Philosophy) nữa.

Hồi ký của Ngoại

Vào cuối đời, ông ngoại tôi có viết hồi ký về cuộc đời của Ngoại, và mẹ tôi đã đem nó theo trong hành trang đi đoàn tụ gia đình ở Đức vào ngày 23 tháng 11 năm 1983. Tôi có đọc qua một lần, rồi quên khuấy đi mất vì mãi lo chạy đua với cơm, áo, gạo, tiền. Nay, con cái đã trưởng thành, thêm vào đó, kỹ nghệ tân tiến giúp ta có thể tự xuất bản sách mà không phải lo ngay ngáy là chi phí in ấn ứng ra liệu có thu về hòa vốn hay không, tôi chợt nghĩ đến việc ghi chép, hiệu đính lại hồi ký của Ngoại, vì nó được đánh máy trên giấy pelure mỏng, đã vàng úa theo thời gian, không biết còn giữ được bao lâu nữa.

Công việc lúc đầu đơn giản chỉ là dùng bàn phím để gõ nội dung vào sách. Tôi làm cho xong, không cảm thấy hứng thú lắm. Càng ngày, do phải truy cứu thêm về địa danh, hình ảnh, phong tục, sự kiện lịch sử v.v. mà Ngoại đề cập đến trong hồi ký, tôi càng bị cuốn hút vào cái „miền bắc xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi“ của một trăm năm trước. Do chưa một lần đặt chân ra đất Bắc, nên với tôi, „Hà Nội ba sáu phố phường“ thật là cổ kính, mê hoặc qua những bức ảnh đã ố màu:

Rủ nhau chơi khắp Long thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

Từ hình ảnh ông đồ với cái tráp hoặc ruột tượng, trường Bưởi ở ven hồ Tây, trường nữ sinh ở phố Hàng Cót, tóc móng lừa, trà Ninh Thái …, tôi làm quen dần với đường Jules-Ferry, rue de Takou, rue du Riz, rue du Papier, le Vieux Théâtre (hí viện đầu tiên của Hà Nội), mỉm cười với bài thơ tứ tuyệt ngộ nghĩnh viết bằng Pháp ngữ của nam sinh „thứ ba học trò“ trường Bưởi:

Bonjour mademoiselle Brequel,
Permettez-moi de faire l’appel.
S’il manque quelqu’un, Lequel?
Bonjour mademoiselle Brequel.

Trong bản hiệu đính lại, tôi giữ cách dùng từ của Ngoại, chỉ viết thêm trong ngoặc nếu khó hiểu hoặc do phát âm của từng miền mà cách viết khác đi. Tôi cũng thêm phần Phụ Lục là những tiểu tiết bên lề có đôi chút liên quan đến những địa danh, phong tục v.v., được đề cập đến trong hồi ký của Ngoại.

Tôi thỉnh thoảng hay làm thơ, từ lục bát tả chị … hàng xóm:

Chị Hiền ở cạnh nhà tôi
Mắt đen lay láy, đôi môi luôn cười
Hàm răng trắng nõn thật tươi
Bàn tay xinh xắn như mười nàng tiên

đến thất ngôn tứ tuyệt mơ về một „người tình không chân dung“:

Ai gọi thu về xua nắng hạ
Cho phượng vỹ buồn khóc tuổi hoa
Con đường lá me không xanh nữa
Tình anh thôi cũng bớt mặn mà

Nhưng tôi chỉ làm được một bài duy nhất về Mẹ:

Mẹ là ánh sáng mặt trời
Soi đường con bước, dạy lời con thưa
Mẹ là hạt nước cơn mưa
Nuôi con khôn lớn sớm trưa chẳng hà
Mẹ là muôn vạn nụ hoa
Cho con hương thắm mặn mà tuổi xuân

Quyển sách này là món quà mà tôi muốn gởi tặng Mẹ, người đã dành cả tuổi xuân để nuôi nấng, dạy dỗ hai chị em tôi nên người.

Aza Lee

Sách xuất bản tại lulu.com:

https://www.lulu.com/en/en/shop/aza-lee-and-beatrice-d%C6%B0%C6%A1ng/h%E1%BB%93i-k%C3%BD-c%E1%BB%A7a-ngo%E1%BA%A1i/paperback/product-wqv24n.html

PS: Trong hồi ký, Ngoại viết: „Tôi cũng muốn, nếu thể hiện được, sẽ tặng mấy bạn học cũ của tôi, trước hết là anh bạn nội trú nói trên mà tôi rất cảm phục tính cần cù và năng động trong lãnh vực văn học, mặc dù niên kỷ đã vượt quá xa cái mức „cổ lai hi“, sau là tặng bạn tiểu học cũ của tôi ở Phúc Yên cùng tôi còn sống đến ngày nay.“
Aza Lee mạn phép đăng tên những người Ngoại nhắc đến trong hồi ký. Nếu ai biết hậu duệ, con cháu của các vị này, xin vui lòng liên lạc với Aza Lee qua lee.aza44@yahoo.de để nhận sách tặng và giúp Aza Lee thực ước nguyện của Ngoại nói trên, dù Ngoại đã không còn nữa.

CÁC BẠN ĐÀN ANH
1- Ái (con cụ Hàng Phở)
2- Đạm (con cụ Án Nguyễn Doãn Thạc)
3- Phạm Tất Đắc (con cụ Đồ Chưng), Saigon
4- Cao Doãn Dịch (con cụ Phán Nhẫn), chết
5- Chu Xuân Giản (con cụ Thủ Nam), chết
6- Đặng Văn Minh (con cụ Đồ Túc)
7- Minh (Lưu Văn Minh?), cháu cụ Lang Hồ
8- Vũ Huân (con cụ Phán Nguyên), chết
9- Hiếu (con cụ Hội Sửu)
10- Vũ Thấp Hy (con cụ Cử An Bài), Saigon
11- Đỗ Như Ngọc (em ông Giám đốc nhà xuất bản Mai Lĩnh)
12- Bùi Thế Quang (em cụ Khoa, lục sự tòa án Đ.N.C Phúc Yên), chú thích: Đ.N.C. là viết tắt của Đệ Nhị Cấp
13- Phạm Vũ Sinh, chết
14- Tuyên (quê xã Nhuế Khúc)
15- Thụy, Vĩnh Yên
16- Vinh (con cụ Ký Đen)
CÁC BẠN CÙNG LỨA TUỔI
1- Ái (trọ phố Dinh)
2- Trần Gia Am (con cụ Hội viên Tường), chết
3- Bằng (con cụ Đồ Dực)
4- Bập (con cụ Cai bẻ ghi tàu), chết
5- Cơ (con cụ Bếp Toàn)
6- Bủng (con bà bán hàng xén)
7- Chu Xuân Chạc (con cụ Thủ Nam), chết
8- Chắn (con cụ Kèn Ngữ)
9- Vũ Tá Chiểu (con cụ Hải Nam)
10- Trần Q. Đình (con cụ Phán Trần Huệ Viễn), chết
11- Dương (con cụ Phó Tiện)
12- Giai (con Bà Văn Tháp Miếu)
13- Vũ Tá Hân (con cụ Hải Nam)
14- Trịnh Hiện (con cụ Nghĩa Lợi), chết
15- Học (con cụ Ký Ban)
16- Cao Nhật Hoàn (con cụ phán Nhẫn), chết
17- Nguyễn Thị Hồng (con cụ Phán Giới), Saigon
18- Vương Văn Hợi (con cụ Cai Ai), chết
19- Ích (con cụ Tư Hồ)
20- Bùi Như Ý (cháu Bà Giám binh VINCENTI)
21- Kính (cháu cụ chủ Bưu điện Ngoạn)
22- Kháng (con cụ Nghị Truyền Sáp Mai)
23- Lăng (con cụ Hậu Bỗ Mậu Lâm)
24- Liên (con cụ Cả Bò), chết
25- Mầu (cháu ông Thú y đương thời tỉnh Phúc Yên)
26- Minh (cháu cụ Trợ Khoan)
27- Nghĩa (con cụ Tỵ hàng cơm)
28- Phán (con cụ Cai Ba Nhàn)
29- Phưởng(cháu cụ giáo Chinh)
30- Quảng (con cụ Đề Nhung)
31- Quý (con quan huyện đương thời ở Kim Anh)
32- Trịnh Như San (con cụ Ba Khoát), chết
33- Võ Hoàng San (con Bà Xếp Cát), chết
34- Vũ Minh Tâm (cháu Bà Ba Điếc), chết
35- Tĩnh, tức Paul Menu (con bà Cẩm Béo)
36- Cao Thiện (quê huyện Văn Lâm, Hưng Yên), Saigon
37- Phạm Chí Thọ (con cụ Quản Trạch ở Nội Đông, Phúc Yên)
38- Thực (con ông Phó Tiện)
39- Trị (con cụ Nghị Truyền)
40- Đặng Đình Vân (con cụ đội Lâm nhà Đoan, quê Hải Dương)
41- Vũ Nam Việt (con cụ Phán Nguyên), Canada
Tính ra tôi đã nhớ được 57 bạn.
(trích từ trang 57-60)

Parler à mon père

Votre père, notre grand ami, était pour nous un homme simple, discret, généreux, plein d’esprit et d’humour, mais aussi un conteur extraordinaire et un homme très cultivé. Épris de la culture et de la langue française, amoureux de poésie en particulier, poète lui-même. Grand lecteur des poésies vietnamienne, chinoise et française, qu’il connaissait très bien, il y a puisé toute sa délicatesse, son art de vivre et son sens de l’humanité. C’était un être rare donc, que nous avons eu la chance de rencontrer et avec qui nous aimions beaucoup échanger. Un ami fidèle enfin qui plaçait l’amitié à un très haut niveau. Toute cette richesse humaine qu’il y avait en lui est le bel héritage qu’il vous laisse en partant.
Aujourd’hui, il sait ce qu’il en est de la suite du monde. Moi je l’ignore, mais je suis sûr qu’où qu’il puisse être, il sera bien reçu. Et c’est là qu’il nous attendra …
Anne et Jacques-Bernard 

Singapore – Niềm tin phong thủy

Tôi thường hay viết Blog về những nơi tôi đã đi qua, một phần như người ta dán hình kỷ niệm vào quyển sưu tập ảnh, phần khác để ghi lại vài chi tiết bổ ích không có trong những bài đánh giá liên quan đến du lịch trên các trang Web như TripAdvisor, Holidaycheck v.v.

Tôi đi Singapore vì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi có nguyện vọng đến thăm lại nơi nó năm ngoái cùng vài bạn học thay mặt trường Maastricht University tham gia kỳ thi đua giữa các Đại Học Kinh Tế trên toàn thế giới, nhưng không đủ thời gian để tìm hiểu nhiều hơn về đất nước được mệnh danh là „Con sư tử châu Á“ này.
Nếu bạn hỏi cụ Gồ về Singapore – theo Phạn-Ngữ „Singha“ có nghĩa là sư tử và „Pura“ có nghĩa là thành phố – thì có muôn ngàn bài viết tán dương đất nước với lịch sử lập quốc chỉ mới hơn 50 năm, từ một thành phố nhỏ nằm trong quần đảo Mã-Lai nay trở thành cường quốc với trung tâm kinh tế mang tầm vóc quốc tế.
À, nhân đây tôi xin mạn phép kể lại một chuyện bên lề trong chuyến đi chơi này. Vốn hướng dẫn viên du lịch có khi dùng chữ „người Hoa“ để nói về nhóm sắc tộc đông dân số nhất tại Singapore (hơn 76%), rồi lúc lại gọi là „người Trung“, „người Tàu“ v.v. nên đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thắc mắc. Tôi đã được một thằng bạn „đả thông kinh mạch“ rồi nên dạy lại cho nó rằng người Tàu tự nhận mình là người „Hoa“, tức là đọc tắt của nước Hoa Hạ, theo truyền thuyết là nước phong kiến đầu tiên. Thực sự trước đó, họ là các bộ tộc sống trên đất Tào, đại tộc trưởng là vua Nghiêu, dân sống ở khu vực Tào, gọi là Tào mín (Tào dân). Phía nam của Ngũ Lĩnh, là đất Mân và đất Nam, gọi chung là vùng Mân-Nam chưa khai phá, các bộ tộc sống ở đất Mân gọi là Mần mín (Mân dân), các bộ tộc sống ở đất Nam gọi là Nàm mín (Nam dân), còn chủng là chủng Yue (Việt).
Người „ba Tàu“ đúng ra là từ chữ „bô đào dân“ (Pô Tào mín) mà ra. Vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 17, khoảng 1670, lúc đó bên Trung Hoa là triều Đại Thanh. Dân Trung Hoa không chấp nhận bị dân Mãn Châu đô hộ, mới có phong trào „Phản Thanh – Phục Minh“. Nhà Thanh đem quân đi càn quét những nhóm sĩ phu kháng chiến, nhất là các nhóm Tụ Nghĩa Đường, Thiên Địa Hội, Hắc Kỳ Quân (giặc cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc), Huỳnh Kỳ Quân (giặc cờ vàng của Hoàng Sùng Anh). Bị càn quét đuổi tận giết tuyệt, dân Tàu chống nhà Thanh và sĩ phu yêu nước phải bỏ chạy sang Lào theo ngã Vân Nam-Yun Nan, sang Việt Nam theo ngã Lai Châu, Tuyên Quang và Ải Nam Quan. Ngoài ra còn một số sang Việt Nam bằng thuyền, đến Hội An và Hải Phòng. Khi họ sang Việt Nam, không biết ý tứ của triều đình nhà Lê là thân nhà Thanh hay thân nhà Minh, cứ nói mình là „bô đào dân“, „pô tào mín“ là chắc ăn nhất. Người „ba Tàu“ từ đó mà ra.
Trở lại với „Con sư tử châu Á“.
Nói đến Singapore thì không thể không nhắc đến Lý Quang Diệu (Lee Kwan Yew), một chính khách với lòng yêu nước nồng nàn. Ông là người duy nhất trong lịch sử đã khóc khi tuyên bố quốc gia được độc lập, vì vào thời điểm đó bị tách rời khỏi liên bang Malaysia có nghĩa là Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và không có tài nguyên thiên nhiên. Là người gốc Hoa (Hạ) ông đã khôn ngoan áp dụng niềm tin vào phong thủy của dân Singapore để đưa những dự án xây dựng đất nước đến thành công vượt bực, cũng như xưa kia danh tướng Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến đánh đuổi quân nhà Tống nói rằng ông được thần ban cho bốn câu thơ:
Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm-phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đánh giặc.

Các điểm tham quan du lịch của Singapore đều mang dấu ấn phong thủy như biểu tượng Singapore là con cá có đầu sư tử (còn gọi là Merlion) phun nước vào đất liền không ngừng nghỉ nhờ hệ thống bơm hiện đại, lỡ một máy bị trục trặc thì máy kia sẽ thay thế để tránh tình trạng „tiền ngưng chạy vào túi“.Hoặc trung tâm thương mại „Suntec City“ gồm 5 cao ốc, nhìn từ trên cao trông như bàn tay trái với chiếc nhẫn vàng nằm trong lòng bàn tay là „Đài phun nước Thịnh Vượng“ (The Fountain of Wealth) làm bằng đồng với niềm tin của sự kết hợp Kim – Thủy, biểu tượng cho thắng lợi, thành công. Điều đặc biệt là thay vì phun lên cao,  nước lại được phun xuống dưới và tụ vào trong với ý nghĩa của cải sẽ tụ hội về nơi này.

Khách du lịch đến Singapore hẳn ai cũng được nghe kể về huyền thoại đồng Đô-La-May-Mắn. Tương truyền, do việc kiến thiết đường tàu điện ngầm MRT (Mass Rapid Transit) gặp rất nhiều trục trặc, thủ tướng Lý Quang Diệu đã hỏi ý một thầy phong thủy và được ông ta bấm quẻ cho biết khu vực có địa chất phức tạp gây trở ngại trong việc xây dựng chính là lưng của một con rồng lớn. Mũi khoan đụng vào là nó cựa mình nên mọi thứ đều đổ bể. Để trấn yểm rồng ngủ yên, toàn dân Singapore ra đường đều phải đeo một hình bát quái trên người. Nhưng ở Singapore khá nhiều người theo Ấn độ giáo và sẽ không đời nào chấp nhận phong tục đậm màu Phật giáo này. Sau một thời gian bàn luận với nội các, Lý Quang Diệu đã cho đúc một loại tiền xu 1 Đô-La có hình bát quái, như vậy người dân từ giàu tới nghèo ai cũng mang trong mình lá bùa yểm rồng.
Tôi được khuyên nếu đến Singapore du lịch và sở hữu một đồng xu bát quái hãy giữ nó như bảo vật vì nó sẽ mang lại may mắn cho mình.
Thật tình mà nói, tôi luôn tìm cách giải thích một cách khoa học, hợp lý những lời truyền miệng của người xưa, chẳng hạn như câu „có kiêng, có lành“ nếu giải thích theo toán học về thống kê và xác xuất (Statistik, Stochastik) thì khi tránh làm việc gì, xác xuất hậu quả xấu mà việc đó có thể gây ra đương nhiên cũng sẽ thấp hơn. Phong thủy đối với tôi không phải là sự mê tín mà là cách kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và địa lý để tạo dựng một kiến trúc vừa đẹp về thẩm mỹ, vừa có lợi cho sự sinh hoạt, phát triển của con người.

Lý Quang Diệu là một thiên tài chính trị gia với một tấm lòng yêu nước tha thiết. Ông đã dùng niềm tin phong thủy để khích lệ người dân Singapore chung tay góp sức xây dựng tân quốc gia nhỏ bé, không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước, không có khả năng quốc phòng, vươn mình trở thành một cường quốc tại Đông-Nam-Á.
Có niềm tin, con người có thể vượt qua đau khổ, bệnh tật, mất mát.
Có niềm tin, con người có thể đưa đất nước từ nghèo khó, nhược tiểu, đến giàu mạnh, hùng cường, một „Con sư tử châu Á“.
Vì vậy tôi chọn tựa đề cho bài Blog này là „Singapore – Niềm tin phong thủy“.

À quên, trong chuyến đi vừa qua tôi vô tình nhận được một đồng Đô-La Singapore mới toanh và một đồng Đô-La cũ hình bát quái.

Tôi sẽ luôn mang nó trong ví của mình, với hy vọng có ngày niềm tin phong thủy cũng sẽ đem thịnh vượng đến cho quê hương tôi.

Cháo

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh thiên lý, nấu chè hạt sen

Tôi chưa hề được ăn cháo le le có lẽ vì tôi sinh ra và lớn lên ở thành đô, làm sao có vịt trời để mà đuổi bắt, nói chi đến được ăn thịt của nó. Tôi cũng không thích ăn cháo lắm, tôi thích những món có nước lèo hơn như hủ tiếu, phở, mì quảng, bún riêu, bánh canh v.v.
Trong đời, có 2 lần tôi được ăn cháo mà tôi nhớ mãi không quên.

Lần thứ nhất lúc tôi mang bầu 6 tháng, sang thăm nhỏ bạn bên Canada. Bữa cơm ngày đầu tiên nó dọn ra cho tôi bát cháo nấu với hạt sen và … gà ác. Nó nói gà ác rất bổ cho bà bầu lẫn thai nhi. Tôi nhìn bát cháo nghẹn ngào vì lần đầu trong đời biết thịt gà ác … đen như than, đen thùi lùi, đen phát sợ. Nể bạn, tôi chỉ múc cháo ăn và lặng lẽ đẩy thịt gà ra phía thành chén. Sau vài muỗng cháo tôi đành gác muỗng thú tội với nó là mình không tài nào nuốt trôi cái món cháo với thịt gà đen như bồ hóng ấy.

Cháo gà ác (source http://mevaobep.com/mon-an/chao-ga-ac-mon-an-bo-duong-cho-gia-dinh/)

Lần thứ hai tôi sang thăm nhỏ bạn bên Pháp. Chẳng may vài ngày trước đó răng tôi bị lấy tủy không thành công nên đau nhức, không nhai gì được, chỉ … húp cháo. Nó nghe tôi kể đau răng, nấu một nồi cháo cao lương mỹ vị, có hến, có tôm và đủ thứ lỉnh kỉnh, ăn bổ đông, bổ tây, bổ … bố vì mấy ngày ở đó mình tôi ôm nồi cháo, sáng cháo, trưa cháo, chiều cháo. Lúc lên xe lửa về lại Đức nó cũng gói cháo bỏ bịch kêu „mang về bển ăn“.

Người Đức hỏi tôi cháo là món gì ? Tôi nói „Reissuppe“. Cháo gà là „Reissuppe mit Huhn“, cháo vịt là „Reissuppe mit Ente“, cháo lòng là „Reissuppe mit Blutwurst“. Từ bao nhiêu năm nay tôi cứ chắc mẩm là đúng, chẳng thắc mắc gì.
Cho đến một hôm tôi nhờ một con nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố – dịch sang tiếng anh một đoạn trong bản tường trình về chuyến đi phát học bổng tại Tây Ninh của Greenleaves (xem thông tin về chương trình này ở đây):
Ba mẹ em Trần Quốc Hào (lớp 6) chia tay, ba không chu cấp cho con, mẹ đi lấy chồng. Em và hai người em ở với ông bà ngoại. Ông bà ngoại bán cháo vịt ven đường để sinh sống. Học phí cả năm lớp 7 của em là 585.000 đồng. Em thích đọc truyện cổ tích, và mơ ước trở thành bác sĩ.

Trần Quốc Hào

Nó dịch như sau:
Trần Quốc Hào (6th grade)’s parents are divorced.This kid has received no child support from his father; then his mother left him after being remarried. Hào and his two younger siblings currently live with their grandparents who sell congee on the street. His school fee for the whole school year is 585.000 VND. Hào likes to read fairy tales and dreams to be a doctor.

Cũng lần đầu trong đời tôi được biết tiếng anh không gọi cháo là „rice soup“ mà kêu là „congee.“ Tiếng Đức dịch đúng ra là Reis-Congee, không phải Reissuppe như tôi hằng dùng.

Hôm qua gọi điện thoại cho một nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố, cũng không không phải đứa dịch dùm tôi bài tường trình – để hỏi cảm tưởng ăn cháo vịt ở nhà em Trần Quốc Hào, thì nó trả lời như sau:
Nghe cháo vịt tưởng tượng ra một một món ăn đặc biệt hấp dẫn, ai dè vừa tới nhà em Hào mùi nước mắm nấu xông lên nhức óc, nồi cháo to đùng, đường kính hơn nửa thước. Nhà thì tối tăm, xập xệ. Bước ra khỏi nhà ngồi trên xe phải chạy qua cái cống đen xì thúi nhức mũi, chưa hề thấy cảnh nghèo như vậy, tội thiệt !!!“

Không riêng gì tôi, từ „cháo“ có lẽ đã để lại ấn tượng khá sâu trong ký ức nó.

Jupe ngắn Lê-Quí-Đôn

Trên trang Facebook „Một mảnh vườn thơ“ có đăng 2 bài của thi sĩ Vũ Minh Tuấn về hai trường nữ trung học Gia-Long và Trưng-Vương, với hình ảnh chiếc áo dài thướt tha từng làm ngơ ngẩn bao nam sinh Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký …

Tà áo Gia Long
Tôi bước chân về qua Gia Long
Cổng cũ trường xưa chợt hỏi lòng
„Giữa bao áo trắng tung bay ấy
Có tà áo nào của em không ?“

Tà áo em xưa thuở bụi hồng
Vờn bay trong gió những ước mong
Tôi theo áo ấy về qua ngõ
Đứng lặng chờ người khuất bên song

Tôi theo áo ấy, ngày lại ngày
Mộng lòng theo tà áo tung bay
Bước chân người cũ trên đường cũ
Giờ đã xa rồi chẳng ai hay

Nay tôi lại về qua Gia Long
Tìm chút hương xưa dấu trong lòng
Đâu người áo trắng ngày xưa ấy
Đã ghé bờ nào, trả bến sông
Vũ Minh Tuấn – 2017

Trường Gia-Long

Tôi „hậm hực“ lắm bởi tôi không là nữ sinh áo trắng vì tôi học trường Lê-Quí-Đôn[1], mặc đầm … „Mini-Díp“ ngắn hững hờ „trên“ đầu gối, còn „trên“ tới đâu thì không có quy định, nếu mà ngắn quá sẽ tự động được thầy cô giám thị hỏi thăm sức khỏe, sợ học sinh ăn mặc không đủ ấm dễ lây cảm thương … hàn, nhất là cho các … nam học sinh.
Đành nhủ lòng thôi „giả bộ“ làm người tình áo trắng vậy.

Tôi bước chân về qua Gia Long
Cổng cũ trường xưa chợt hỏi lòng
„Giữa bao áo trắng ngày xưa ấy
Có tà áo nào anh nhớ không ?“

Tà áo em xưa thuở bụi hồng
Vờn bay gởi gió tình trắng trong
Nón lá che ngang làn mắt biếc
Dõi nhìn ai đó có biết không ?

Anh theo áo ấy, ngày lại ngày
Vòng xe tuổi ngọc mộng trong tay
Thư tình không gởi, lời chẳng ngỏ
Áo trắng ôm sầu anh có hay ?

Nay tôi lại về qua Gia Long
Tìm chút hương xưa dấu trong lòng
Áo trắng năm nao giờ xếp lại
Hương tình ngày cũ … thả trôi sông

(Chú thích: Độc giả nào không muốn làm
Em như „gì đấy“ trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ
thì có thể thay câu cuối bằng
Anh ở phương nào, còn nhớ không ?)

Nhưng tôi là
Học sinh Lê-Quí-Đôn
Như ánh thái dương bình minh[2]
cơ mà !!! Chả nhẽ „Mini-Díp“ không „nên thơ“ sao ?

Khác với Gia-Long hay Trưng-Vương, trường Lê-Quí-Đôn là một trường rất văn minh, dân chủ, tự do, không phân biệt chủng tộc, giới tính, nên tránh được khá nhiều tai nạn do mấy anh Pétrus Ký tan học phải đạp xe thục mạng băng qua đường Hồng-Thập-Tự cho kịp giờ tan trường của các em „áo trắng“, lơ tơ mơ là „binh sĩ sẽ nổ súng“ theo như lời cảnh cáo ghi trên những bảng ở hàng rào quanh dinh Độc Lập.
Lê-Quí-Đôn
đâu thiếu gì hoa khôi, đâu thiếu gì những nam sinh cùng trường – và của các trường „bạn“ (với nữ sinh là bạn, nhưng đối với nam sinh có thể khác) Pétrus Ký, La San Taberd v.v. – ngày ngày choảng nhau trước cổng trường mặc kệ binh sĩ có nổ súng hay không.
Tôi càng „hậm hực“ hơn vì làm thơ „Mini-Díp“ không phải đơn giản. Tên trường tôi „Quí“, vần trắc. Những con đường „ôm“ trường tôi như Hồng-Thập-Tự, Trần-Quí-Cáp, Công-Lý đều mang vần trắc thì làm sao mà ghép vào thơ „Thuở yêu em váy ngắn hững hờ … bay“ đây ? Cũng nên nói thêm là „Mini-Díp“ rất quyến rũ dù chỉ được mặc như đồng phục. Tôi có viết một bài về chiếc váy rồi (đọc ở đây). Nghĩ nát óc không ra được vần thơ nào thật là du dương nên tôi đành chọn vần trắc làm „Phố Cụt“ (Fokus) vậy.

Váy cụt Lê-Quí-Đôn

Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy cụt
Nơi sân trường phượng vĩ thắm sắc hoa
Lời tự tình anh gởi gió thoảng qua
Vờn tóc mây, đùa vai gầy gọi nắng

Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy ngắn
Không đủ dài nên thiếu chữ yêu đương
Cho anh về trọn kiếp phải vấn vương
Sáo Trương Chi thôi đành vang xó bếp

Lê-Quí-Đôn thuở yêu em váy xếp
Ôm chân son, gói trọn tuổi mộng mơ
Váy em xanh là cả một trời thơ
Anh về nhớ Lê-Quí-Đôn váy cụt

Vì ngẫu hứng nên không có hình hoa khôi Lê-Quí-Đôn để minh họa. Tạm thời tôi đăng hình của mình vậy, khi nào được cho phép sẽ thay bằng hình những hoa khôi Lê-Quí-Đôn. Nhiều lắm độc giả ạ !

Niên khóa 1969-1970

lanhthuongLễ phát phần thưởng niên khóa 1972–1973
tại sân trường tiểu học Lê Quí Đôn

[1] Hình trường Lê Quí Đôn thuộc về „Sài Gòn Vi Vu

[2] Lê Quí Đôn hành khúc

Hú em ai ?

Hè năm nay nhiều đứa bạn tôi dẫn gia đình đi du lịch khắp nơi, có lẽ do mấy đứa con tụi nó sàn sàn tuổi nhau, tức là ở tuổi từ giã mái trường, nên cha mẹ vớt vát chuyến du lịch chót với con trước khi chúng nó bắt đầu tập làm người lớn không còn

Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê …
(Đồng dao)

nữa rồi.

Trong đám du lịch „vớt vát“ này có một gia đình chọn Pháp, Ý với những viện bảo tàng nổi tiếng thế giới, riêng Florence mà còn có khoảng 60 cái viện bảo tàng lớn nhỏ rồi nói chi đến Paris, Rom. Đi đâu nó (bạn tôi, tạm gọi là „nó“ theo như đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba chỉ người … vắng mặt) cũng lần mò để tìm xem nước Văn-Lang ở mô tề.
Về nhà, chưa kịp hoàn hồn sau chuyến đi mòn đế giày, nó phải trả lời Email của tôi rằng „kiếm lõ con mắt mà chẳng thấy nước Văn-Lang đâu cả. Chẳng lẽ tất cả các nước trên thế giới hùa theo Trung-Quốc sửa sai lịch sử Việt-Nam, rồi cho vào viện bảo tàng của họ ? Xưa mình được dạy là nước Văn-Lang hồi 4000 trước lãnh thổ kéo dài lên đến tận phía nam sông Dương-Tử và phía nam Động-Đình-Hồ, đất đai ra đến tận biển Đông-Hải. Nhìn lại bản đồ trong các viện bảo tàng thì vào thời Xuân-Thu chỉ có 3 nước Sở, Ngô và Việt !!! Vua nước Văn-Lang là các vua họ Hùng. Nhìn trên bản đồ thấy mấy chục vua nước Sở đều là họ … Hùng. Một đằng là truyền thuyết mơ hồ vua Hùng và nước Văn-Lang mà mình cứ khư khư ôm giữ, một đằng là chứng tích các vua Hùng của nước Sở ở các viện bảo tàng và thư khố trên thế giới, bạn nghĩ cái nào đúng ?

Thảng thốt.
Vậy là sao ? Vậy là sao ? Nước của chúng ta thời khai thiên lập địa thật ra là ở mô tề ?

Nó điềm tĩnh viết Email tiếp:
Nước của chúng ta thời khai thiên lập địa là thời … Xuân-Thu xưa lắc xưa lơ, từ miền bắc của Việt-Nam ngày nay trải dài đến phía bắc Động-Đình-Hồ và sông Dương-Tử, có tên là … Sở, là nước lớn nhất, hùng mạnh nhất trong Xuân-Thu Chiến-Quốc Thất-Hùng (hay gọi tắt là Chiến-Quốc Thất-Hùng) gồm: Tần, Tề, Sở, Ngụy, Triệu, Yên và Hàn. Sở là một nước chư hầu có từ hồi Tây-Chu. Sau đó là thời Đông-Chu chia là 2 giai đoạn: Xuân -hu (Spring Autumn Period) gồm gần 100 nước chư hầu của Đông-Chu và kế tiếp là Chiến-Quốc (Warring State Period) gồm 7 nước được gọi là Chiến-Quốc Thất-Hùng. Cuối thời Chiến-Quốc Sở bị Tần diệt, rồi Tần bị Hán diệt. Xuân-Thu Chiến-Quốc chỉ thời đại Đông-Chu các nước lớn nhỏ đánh nhau để tranh ngôi bá. Bộ sử thi Đông-Chu Liệt-Quốc chính là nói về hai thời kỳ này.
Trước 1975 nhà tui có một cuốn sách cổ xưa mà tui nhớ tác giả là một học giả người Việt gốc Hoa, tên Vương Hồng Trực, không biết có họ hàng gì với Vương Hồng Sển không, viết về gốc gác của các tộc Việt, có cả một chương viết về nước Sở. Sách do đánh máy và quay ronéo nên giấy vàng khè, bìa chỉ là giấy màu hồng chữ đen đóng lại bằng chỉ cotton chứ chưa có đóng gáy như bây giờ. Sau 75 nhà tui đem đốt hết một số sách vì sợ bị bắt tội tàng trữ sách báo Mỹ Ngụy. Mà phải chờ tối mang sách lên ruộng nhà ở An-Nhơn đốt chung với lá, vừa đốt vừa tiếc. Có những cuốn sách cổ nói về các nước Sở-Ngô-Việt và vùng đất Quảng-Phúc-Chiết, tạp chí Nam-Phong, Thằng Bờm … Vài năm sau xuống chợ sách cũ ở đường Đặng thị Nhu gần ga xe lửa kiếm lại sách mình từng đốt thì kiếm không ra. Thời đó đọc cho biết nhưng không tin tổ tiên mình có nguồn gốc từ Sở-Ngô-Việt vì cứ đinh ninh nước của tổ tiên mình là Văn-Lang.

Tui nhớ cuốn sách đó nhắc đến hơn trăm tộc Việt, mà mình thường gọi chung là nhóm Bách-Việt. Bây giờ ở Việt-Nam xác nhận là có 54 tộc Việt mà mình gọi là đồng bào thiểu số, tức là 50 tộc đã biến mất, hay vẫn còn ở bên 3 tỉnh Quảng-Phúc-Chiết và bị buộc phải dùng ngôn ngữ thống nhất là tiếng Quan-Thoại, tức là tiếng Mãn-Châu, Mandarin (關 = quan = cửa ải = bên kia biên giới, 話 = Thoại = ngôn ngữ, Quan-Thoại = ngôn ngữ phía bên kia biên giới, vì Mãn-Châu lúc xưa là Đại-Kim, rồi Đại-Thanh, phía bên kia biên giới của nhà Minh). Còn bên Tàu xác nhận họ có 50 tộc thiểu số không phải tộc Hán, trong đó đa số là các tộc Yue (Việt).
Nếu cộng 50 tộc bên Tàu và 54 tộc Việt ở bên Việt-Nam thì vừa vặn trùng hợp với con số mà cụ Vương Hồng Trực ước tính. Đồng bào sắc tộc ở Việt-Nam nhiều lắm: Thái, Mèo, Mường, H’Mông, Mông, Lô-Lô, Nùng, Ê-Đê, Xơ-Đan, Cơ-Tu, Gia-Rai, Hà-Nhì, Ba-Na, Chơ-Ro … gồm hai chủng nguyên thủy là Thái và Việt. Mình gọi dân mình là người Kinh để phân biệt với người Thượng là đồng bào Việt thiểu số ở cao nguyên. Chủng Thái có nhiều tiểu chủng Thái, đa số là các chủng đẹp, một số nhỏ có bề ngoài không đẹp. Chủng Việt cũng có nhiều tiểu chủng, và ngược lại với chủng Thái, đa số có hình dạng không bắt mắt nhưng thiểu số thì đẹp.
Người Kinh, theo ý kiến của cụ Vương Hồng Trực, là sự kết hợp giữa các tiểu chủng đẹp của Thái và Việt. Đại khái những ý kiến có vẻ như trái ngược những gì mình học trong trường, và có lẽ cũng chính vì vậy mà chả có nhà xuất bản nào nhận đăng, cho nên cụ Vương Hồng Trực phải tự đánh máy quay ronéo, tự đóng bìa phát hành (cái này cũng do mấy ông bạn của ba tui đoán chứ thực tế như thế nào thì mình cũng không biết được). Tuy nhiên trải qua mấy ngàn năm các chủng Việt ở trên cao nguyên bây giờ cũng đẹp dần ra, giống như đám con nít thế hệ sau của mình đẹp mê hồn, nếu đem so với ông bà mình chừng hơn 100 năm trước khác nhau một trời một vực.
Bây giờ ra nước ngoài có dịp tìm hiểu và đi viếng các viện bảo tàng nổi tiếng thì tìm hoài chẳng thấy nước Văn-Lang mà chỉ thấy Sở-Ngô-Việt. Mà nói thiệt, nếu thật sự tổ tiên mình là Sở-Ngô-Việt thì cũng chả có gì xấu cả.“

An ủi. Tổ tiên mà xấu thì làm sao có được hậu duệ đẹp như mình ?

Nó đánh máy tiếp:
Đúng đó. Tui nhớ trong cuốn của cụ Vương Hồng Trực có đề cập đến người trung nguyên như Tề, Ngụy, Yên Hàn … thích mặc y phục màu trắng, giống Tiểu Long Nữ trong Thần Điêu Đại Hiệp (chú thích: bộ truyện chưởng mà „tôi“, không phải „nó“, khoái nhất trong số các truyện của Kim Dung). Tần ở tuốt trong Ba-Thục thích mặc nâu. Sở và Triệu thích mặc vải đen. Riêng dân Sở lại thích dệt vải thổ cẩm sặc sỡ, rồi may lên y phục các miếng thổ cẩm đó như là fashion design, United Colors of … Benetton thời nay, cho nên mới bị người Tề ở trung nguyên chê là mặc „bách kết y“ (ráp nhiều miếng vô) hay „tạp y“ (nhà quê, ăn mặc không thanh tao, xin xem bài Ba Tàu và Câu-Tiễn-Kiếm). Người trung nguyên thích mặc màu trắng, có thể là vì mặc áo dệt từ tơ tằm mà tơ màu trắng rất khó nhuộm màu, và vào thời đó kỹ thuật nhuộm tơ còn phôi thai, cho nên không thích mặc màu trắng cũng phải mặc vì … Tiểu Long Nữ chưa xuống núi học nghề nhuộm.
Người Thái và Việt mặc vải xúc, dệt từ sợi cây gạo và các cây nhiệt đới rồi nhuộm chàm (nhuộm chàm màu đen để tăng độ bền cho vải), các màu nhuộm là khoáng tố trong lòng đất (khi họ rèn đồng thau) và cây cỏ. Rồi họ xăm mình, nhuộm răng đen, móng tay móng chân cũng nhuộm, nhuộm tứ lung tung. Thổ cẩm là những tấm vải dệt đủ hình hoa văn, đủ màu sắc, dệt rất công phu.  Họ đem thổ cẩm may đắp lên viền ống tay, viền váy, bâu áo, xà cạ …. để hình thành những bộ trang phục rực rỡ, cầu kỳ thiết kế theo tín ngưỡng văn hoá dòng tộc của họ. Cho nên hình thành một bộ trang phục mắc tiền chứ không phải rẻ. Vào thời đó, Sở là nước có cương thổ rộng lớn nhất trong Thất-Hùng, dân giàu có, còn Tần thì nghèo kinh khủng, cho nên mới có câu: Làm quan nước Tần còn thua làm dân nước Sở (Tần Quan Khả Bì Sở Dân). Giờ nhìn lại y phục của đồng bào thiểu số mới thấy quần áo của họ nền đen là chính, còn thổ cẩm viền ống tay ống chân là may vào thêm cho sặc sỡ. Sở dĩ các sắc tộc đó còn giữ được trang phục truyền thống vì có tín ngưỡng văn hóa trên trang phục. Khăn, nón, áo, váy, quần và các hoa văn trang trí trên thổ cẩm đều mang những ý nghĩa tín ngưỡng trong văn hóa dân tộc.  Trong số này dân tộc Mông, H’Mông, Lô Lô và Hà Nhì ăn mặc lòe loẹt nhất. Có lẽ các tộc này là đại diện cho dân Sở ngày xưa.

Trẻ em người H’Mông

Tối nằm vắt tay lên trán trăn trở với câu hỏi „Hú em ai ?“. Tôi là em của ai ? Hậu duệ của ai ? Gốc gác từ đâu ra ?
Who am I ? Who am I ? Who am I ?
Trong giấc mơ thấy giấy khai sinh của tôi với tên „Sở Dục Hùng“ được trưng trong tủ kiếng tại viện bảo tàng Louvre, bên cạnh Mona Lisa.

Chuột tây, chuột ta

Sáng nay đám bạn Facebook bàn chuyện chó như sau: Con chó này hồi mới đẻ ở Việt Nam gọi là Bít La (3 lít), tới chừng trưởng thành thì gọi là Năm Can, tức là khoảng 5 gallons … rượu đế.
Tôi phát phì cười vì thật ra câu chuyện bắt đầu từ việc thằng con trai của một người bạn cứu một con chó hoang – hay đi lạc thì không rõ lắm vì không thấy đề cập ở khúc sau là có ai đến nhận lại hay không. Hành động nghĩa hiệp này được kết thúc bằng 5 lít rượu đế làm tôi nhớ chuyện „chuột tây, chuột ta“ của mình.
Hôm nọ đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đòi vào tiệm bán thú vật xem cá. Nó thích nuôi cá nhưng tôi không cho phép vì biết rằng mình sẽ không có thì giờ chăm sóc, thay hồ, rửa hồ v.v. Chưa kể những kỳ nghỉ phải đi xa thăm bà con họ hàng bỏ cá chết đói sao ? Thơ thẩn trong tiệm tôi thấy có bán cả chuột. Mấy con chuột rao bán này trông không có vẻ gì là thuộc họ hàng nhà chuột cả, tức là trông chúng không có vẻ gì bẩn thỉu, đầy hung họa truyền bịnh dịch như hình ảnh con chuột trong trí nhớ của tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt nam, nơi mà chuột bị liệt vào loại thú vật „cần phải tiêu diệt“ vì chúng toàn làm ổ ở những nơi bẩn thỉu nên trên mình mang đầy vi trùng của đủ các loại bệnh tật dễ lây lan như dịch tả, dịch hạch chẳng hạn. Tôi tạm gọi chúng là „chuột ta“ để phân biệt với „chuột tây“ mà tôi đang quan sát trong tiệm bán thú vật.
„Chuột tây“ thì đa số bé tẻo tèo teo, có khi còn nhỏ hơn con chuột nhắt bên mình. Chúng có bộ lông thật mượt mà khác hẳn với những con chuột chù, chuột cống lúc nào lông lá cũng xù xì và bết lại do chui luồn ở các cống rãnh. Tôi không biết các chú „chuột tây“ có thơm tho hay không (chắc là có, vì tôi thấy có mấy đứa bé ôm con „chuột tây“ đưa lên mũi hít hà như hôn các chú gấu bông vậy), nhưng các chú „chuột ta“ thì khỏi kể chúng ta cũng biết chúng hôi như … chuột.
Một ngoại lệ có lẽ là chuột đồng.
Chúng là một loài chuột đáng được … đem lên chảo. Trước kia thì chuột đồng được xem là một đặc sản „đồng quê“, nhưng bây giờ ở Việt nam mọc lên nhan nhản những quán bán các món ăn làm từ chuột đồng như lẩu chuột, chuột cà ri, chuột giả cầy, chuột nướng lá lốt, chuột xé phay … v.v. Trông những chú „chuột tây“ xinh xắn kia, tôi nghĩ bụng nếu mình mở một quán bán thịt chuột ở bên này chắc sẽ bị án tù chung thân không tại ngoại.
Càng quan sát tôi càng thấy nghi ngờ xuất xứ của các chú „chuột tây“ này. Chỉ cần nhử một miếng đồ ăn gì đó là chúng đã nhanh chân chui ra khỏi chỗ trốn để đớp mồi. Tôi còn nhớ lúc ở Việt nam nhà tôi ngoài việc nuôi mèo bắt chuột còn sắm thêm vài cái bẫy chuột to cỡ bằng hộp đựng giày, nhưng chả mấy khi tôi thấy có con chuột nào sa bẫy cả. Tôi cũng tự hỏi không biết các chú „chuột tây“ có sợ mèo không nhỉ, hoặc cả đời đã từng thấy con mèo ra sao chưa ? Có lẽ là không, mà đôi khi chúng còn có thể là bạn thân thiết với nhau nữa nếu có một cô bé nào đó nảy ra ý định nuôi cả mèo lẫn chuột trong nhà cho vui vì cô bé là con một (như đa số các trẻ em bên này) nên buồn bởi không có anh em để chọc ghẹo lẫn nhau. Tôi còn nhớ một bài đồng dao Việt nam nói về quan hệ mèo chuột:
Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà ?
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo

Mèo bên này không ăn mắm mà ăn … KiteKat nên „chuột tây“ cũng không phải cực khổ lặn lội đường xa đi sứ như „chuột ta“.

Chuot
Tổng kết lại thì các bạn chắc sẽ nghĩ rằng làm „chuột tây“ sướng hơn „chuột ta“ nhiều. Cũng có thể. Nhưng nếu so về tuổi thọ thì tôi không chắc lắm. Chả là kỳ nghỉ hè vừa rồi tôi đi thăm một người bạn. Con gái bạn ấy có nuôi một con „chuột tây“ xinh xắn đặt tên là Chewy. Tôi được tận mắt chứng kiến cảnh chú Chewy đấy bị con bé nựng nịu, vần lên vần xuống, rượt bắt quanh nhà, lục tung cả các tủ quần áo, xây chuồng bằng Lego rồi giam lỏng chú Chewy trong đó, và nhiều trò chơi quái đản khác mà tôi không thể diễn tả hết được. Một tuần sau hôm tôi về thì nhận được „i meo“ của bạn tôi „báo tử“ chú Chewy, chuyện mà tôi đã đoán trước rồi khi nhìn thấy con bé con chơi chuột. Không cần phải là bác sĩ thú y tôi cũng chẩn được bịnh án tử vong của chú „chuột tây“ này: chết vì đứt tim mạch.
Quanh đi quẩn lại thì chuột nào cũng là … chuột. Đã là chuột là thuộc về loài thú yểu mạng rồi. Vì vậy khi đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi xem chán chê chỗ hồ cá rồi quay sang hỏi:
– Mẹ ơi, cho con nuôi chuột nhé ?
thì tôi đã có đầy một bụng những lý do để gạt đi cái ý tưởng điên rồ ấy.

Kiên nhẫn à la 3D

Tiếng Đức có câu „Geduld ist der Schlüssel zum Erfolg“.
Tiếng Việt có câu „Kiên nhẫn là mẹ thành công“.
Nhưng người Đức và người Việt diễn giải câu này khác nhau.

Geduld của người Đức chỉ đơn giản là khả năng đợi chờ (die Fähigkeit zu warten), bắt đầu từ khả năng … đứng chờ xếp hàng ngoằn ngoèo như rắn dù biết có thể khi đến lượt mình thì
Giờ này Thương Xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang

(Chiều trên phá Tam Giang, Trần Thiện Thanh)

cho đến khả năng chờ … Marshmallow, một thí nghiệm vào thập niên 60 như sau: 562 trẻ em trai gái lẫn lộn được bỏ ngồi chung trong phòng, mỗi em được cho một cục kẹo Marshmallow xốp dẻo mà con nít rất thích, với điều kiện các em có quyền ăn cục kẹo đó bất cứ lúc nào, nhưng nếu chờ nổi đến lúc có người quay trở lại phòng mà vẫn chiến thắng không bị cục kẹo thơm phưng phức cám dỗ thì được thưởng thêm một cục nữa. Sau 20 năm theo dõi quá trình phát triển của các em này, họ nhận thấy các em nào thuở xưa kiên nhẫn chờ … thời đa số có điểm học cao hơn, ít béo phì hơn, để dành được nhiều tiền hơn và ít mê cờ bạc, rượu chè, hút sách hơn.

Người Việt định nghĩa – theo Wiki – „kiên nhẫn là trạng thái của sự chịu đựng trong những hoàn cảnh khó khăn, có nghĩa là kiên trì đối mặt với sự chậm trễ hoặc hành động khiêu khích mà không biểu hiện sự khó chịu hoặc giận dữ một cách tiêu cực, hoặc kiên nhẫn khi gặp căng thẳng, đặc biệt khi đối mặt với sự khó khăn lâu dài“.
Đấy các bạn thấy đấy, kiên nhẫn đối với con Rồng cháu Tiên được diễn giải là … „chịu đựng“, đồng nghĩa với với „leiden“ của tiếng Đức, là vò đầu bứt tai, lăn lộn đau khổ đi kiếm cái „quai“ (why).

Để giải thích về hai suy nghĩ khác nhau của từ „kiên nhẫn“ tôi xin dẫn chứng ví dụ như sau:
Hôm nọ thấy cô bạn đăng tấm hình „rau câu hoa 3D“ nhìn lác mắt luôn tôi bèn nảy ý định bắt chước, nhỡ có ai mời đến ăn sinh nhật, đầy tháng, tân gia (tân hôn thì không được vì hai họ chỉ nhận phong bì, không nhận thực phẩm) v.v. mang đến tặng là … hết ý vì bên này chỉ mới thấy đế đèn cầy bằng thủy tinh bên trong có hoa 3D mà thôi (xin xem hình).
teelichthalter
Do „mốt“ này tương đối mới, châu Âu chưa nhập, nên tôi i-meo nhờ con bạn ở Sài-Gòn hôm nào đi chợ mua cá lóc nấu canh chua tiện thể mua luôn dùm một bộ kim đặc biệt dành riêng làm „rau câu hoa 3D“. Sau khi hỏi đi hỏi lại „đã mua chưa ?“ – vì không thấy nó đả động đến nguyện vọng của mình gì cả – thì nó trả lời: „Mày xem cái link làm rau câu thì biết, ở đây cần sự tỉ mỉ, phải dùng ống chích bơm nước rau câu có màu vào rồi gắn vào cái đuôi lá hay cánh hoa gì đó. Tao thấy không hợp với mày rồi, làm giữa chừng chắc mày đổ hết nước màu vào làm thập cẩm luôn quá. Tao nhìn mà không hề muốn làm chút nào“.
Giời ơi, sao nó dám khinh thường cái „german mind“ của tôi quá !!! Tuy tôi không phải người Đức (chính) cống nhưng ít nhiều cũng bị ảnh hưởng cái suy nghĩ, cách hành động, lối làm việc, phong thái … ăn chơi của họ mất rồi vì đã sinh sống ở đây hơn nửa số tuổi đời của mình.
Và như thế tôi quyết định „chờ“. Tôi „chờ“ cả mấy tháng mới nhận được bộ kim 10 cái, khuyến mãi thêm 1 xi-lanh, 1 kim nhụy. Tôi lại „chờ“ mãi mới có dịp để làm, với ý định mang đến dự tiệc sinh nhật mẹ của một người bạn.
Ai cho rằng „sự chịu đựng trong những hoàn cảnh khó khăn“ của tôi kém cỏi thì họ đã lầm to. Sự nghiệp „rau câu hoa 3D“ có lẽ sẽ không bao giờ chấm dứt nếu con bạn tôi không la lên „trễ rồi, đi thôi“, sau khi tôi cặm cụi cả buổi mà vẫn không ra được sản phẩm „rau câu hoa 3D“ nào ra hồn cả.
Nhưng „trái tim á châu“ của tôi không ngủ yên. Hai tuần sau tôi lại bắc bếp, pha màu, bơm xi-lanh. Đi đong nguyên buổi chiều thứ bảy. Con bạn an ủi:
– Nhìn thấy đỡ hơn cái sương mù kỳ rồi !!!
raucau
Tôi đọc được đâu đó trên internet: „Cách thức thực hiện rau câu 3D khá phức tạp, nếu tự học bạn sẽ rất mất nhiều công sức và thời gian để có thể thực hiện được một phần rau câu 3D như ý. Nhưng điều mình nhận thấy rõ nhất sau khi làm thạch 3D là rèn luyện được tính kiên nhẫn, và thấy rõ một điều muốn làm bánh đẹp không thể vội vàng. Mỗi người đều có con mắt thẩm mỹ và tư duy khác nhau nên sức sáng tạo khi làm bánh là vô biên.“
Mèn đét ơi, thì ra từ bé tôi đã bị rèn đức tính kiên nhẫn, huỵch toẹt tiếng Việt „thuần túy“ là phải … „tự học“. Học hoài, học mãi, học miết mà dạ vẫn tối, đầu vẫn đặc, tư duy vẫn khác tư duy … Einstein. Người Đức khác. Cái kiên nhẫn của họ đi đôi với sức sáng tạo. Vì vậy khi thất bại họ không cho đó là vì „thiếu kiên nhẫn“, chỉ đánh giá kiên nhẫn là chìa khóa mở cửa thành công (Geduld ist der Schlüssel zum Erfolg), chứ không phải là „mẹ thành công“, là … „bà má Hậu Giang bất khuất, kiên cường, đảm đang“.

Xét cho cùng, tôi suýt cầm trong tay chìa khóa thành công rồi, vì nếu biết muốn làm „rau câu hoa 3D“ phải dùng loại bột đặc biệt, trong suốt, hoa mới nổi được, thì tệ lắm là lần thứ 2 tôi phải ra được sản phẩm như vầy:
raucau
Chú thích: Hình này do „cô bạn làm rau câu hoa 3D nhìn lác mắt luôn“ kể ở khúc đầu cung cấp, sau khi chỉ dẫn tường tận phải dùng „super clear & strong gelatin 285 bloom, made in Canada“ tại Jelly3D.com, 20 đô-la nửa ký, tha hồ mà mở chìa khóa.

Tiếc rằng xứ Cờ-Lá-Phong-Đỏ ở mãi bên kia bờ Đại-Tây-Dương, không biết bao giờ tôi mới cầm được chìa khóa Kiên-Nhẫn-à-la-3D trong tay đây ?