Hãy dành thời gian cho bạn của ta vì nếu không ta sẽ mất bạn theo thời gian.
Tôi học trung học ở Đức và đương nhiên có bạn học Đức. Lâu lâu lại kêu gọi họp mặt kỷ niệm 10, 20, 25 năm đậu Tú tài, cụng ly bia – tôi không biết uống rượu nên đành cụng Cola với chúng nó vậy – rồi tán gẫu về tình hình chính trị hay tào lao thời tiết xấu đẹp. Xong chia tay ai về nhà nấy. Chẳng thấy nhớ nhung gì nhau cả.
Hệ thống giáo dục ở Việt Nam khác với Đức. Học trò học chung lớp với nhau từ lớp một cho đến lúc tốt nghiệp trung học nên thân thiết hơn do có nhiều kỷ niệm chung như cùng nhớ thầy giáo này khó, cô giáo kia dữ, cùng chung nỗi lo mỗi kỳ thi, nhớ thằng bạn này phá, con bạn kia nói chuyện nhiều trong lớp hay đơn giản cùng nhớ về cây phượng vĩ đỏ thắm góc sân trường mỗi độ hè về.Sau 1975 bạn bè chia ly tứ xứ. Đa số đi vượt biên rồi định cư ở Mỹ, Gia Nã Đại, Âu châu, Úc châu. Đứa kẹt lại Việt Nam. Đứa mất mạng trên đường tìm tự do.
Rồi Internet, Email, Facebook dần dần giúp bạn bè tìm lại nhau, nhắc ân oán xưa, ôn kỷ niệm cũ. Ngày gặp lại hồi hộp không biết bạn mình giờ nhìn ra sao, còn nhớ mình hay không ? Có nhiều người đi vào đời ta nhưng chỉ vài người để lại dấu ấn làm ta phải hồi hộp. Đó chính là những người bạn vĩnh cữu Friends-Forever.
Tôi cận thị nặng nên đọc câu ngạn ngữ này thấy thấm thía vô cùng: Bạn bè như kính áp tròng, mất nó vĩnh viễn không tìm lại được, vì vậy phải biết giữ gìn nó. Điều này có nghĩa là tôi sẽ phải đi du lịch nhiều hơn nữa vì bạn tôi sống rải rác ở khắp nơi trên thế giới.
Nimm dir Zeit für deine Freunde, ansonsten nimmt die Zeit dir deine Freunde.
Ich bin hier zur Schule gegangen und habe deutsche Schulfreunde. Aber man trifft sich vielleicht zum 10-, 20-, 25-jährigen Jubiläum, redet über die Politik oder über das Wetter, trinkt ein Glas Bier zusammen (ich eher Cola, da ich keinen Alkohol vertrage) und verabschiedet sich. Keine tiefe Bindungen.
Die Schulbildung in Vietnam ist etwas anders. Man bleibt – wenn nicht dazwischen kommt – von der ersten Klasse bis zum Abitur mit denselben Mitschülern und Mitschülerinnen zusammen. Auf dieser Weise entstehen Freundschaften, die über Jahre andauern, weil man die gleichen Erinnerungen hat: strenge Lehrer oder Lehrerin, alberne Mitschüler, Prüfungsängste oder einfach den Flammenbaum (phượng vĩ) auf dem Schulhof, der mit seinen roten Blüten die Sommerferien ankündigte.
Nach 1975 trennten sich unsere Wege. Die meistens sind geflüchtet und leben jetzt in Amerika, Canada, Europa oder Australien. Einige blieben in Vietnam. Viele haben bei der Flucht ihr Leben verloren.
Mit Internet, Email, Facebook wurden die Kontakte nach und nach wieder hergestellt, alte Freundschaften wiederbelebt, verblasste Erinnerungen wachgerüttelt. Herzklopfen beim ersten Wiedersehen nach so vielen Jahren: wie sieht meine Freundin jetzt aus, würdet sie mich wieder erkennen? Viele Menschen treten in dein Leben ein, aber nur ein paar besondere Menschen hinterlassen auch Spuren in deinem Herzen und verursachen Herzklopfen. Das sind die Friends-Forever.
Ich bin kurzsichtig, daher finde ich diesen Spruch besonders passend: Freunde sind wie Kontaktlinsen – Wenn man sie verliert, findet man sie nie wieder, darum pflege deine Freundschaft. Ich werde diesen Rat befolgen, das bedeutet ich werde öfter verreisen müssen, denn die meistens meiner Freunde leben ja im Ausland!!!
Theo gia phả, 13 đời trước bên ngoại tôi là người Tàu. Nhiều người cho rằng phải kêu là „người Hoa“ vì „Tàu“ nghe không được lịch sự. Một bạn học cũ, Lê Anh Dũng, đã bỏ công tìm tòi và giải thích cặn kẽ cái gốc gác „ba Tàu“ của tôi. Tôi mạn phép đăng lại những gì Don – tên „Ăng-Lê“ của hắn – đã chịu khó sưu tầm để „giải đáp thắc mắc“ cho đứa bạn không hiểu sao cứ thích ăn Điểm-Sấm (chú thích: tôi cũng thích ăn phở nhưng hủ tiếu mới là món khoái khẩu nhất của tôi).
„Ba Tàu còn có một giai thoại có thật, được kể từ miệng của mấy người bạn gốc Hoa của ba tui mà rất it ai biết tới, kể cả những bậc học giả Việt Nam lão thành. Khi những người dân các tỉnh Quảng, Phúc và Chiết không chấp nhận nhà Mãn Thanh, một số vùng lên khởi nghĩa, bị quân Thanh càn quét chạy ra biển, theo dân tị nạn chiến tranh, ùn ùn trốn sang Việt Nam. Khi họ đến cửa ải và các cảng Hội An, Hải Phòng, lính của mình hỏi họ là ai, từ đâu tới, thì họ bảo rằng họ là „bô đào dân“, có nghĩa là chạy trốn, đào vong trốn quân triều đình nhà Thanh, tức là người tị nạn, mà âm tiếng Quảng, tiếng Tiều khi nói lên nghe là „Pô Tàu“, quan quân mình nghe ra thành „ba Tàu“. Từ đó người Tàu bị chết tên là „ba Tàu“. Dân „bô đào“ tị nạn đi sang Việt Nam bằng đường bộ ồ ạt nhiều gấp chục ngàn lần dân đến bằng thuyền. Nhưng trên mạng cứ giải nghĩa dân Tàu đến Việt Nam bằng 3 chiếc tàu gọi là ba Tàu, thiệt là bậy hết sức.
Tóm lại, „ba Tàu“ là 3 sắc dân Quảng, Tiều và Chệt (Chiết), đồng thời còn phát xuất từ chữ „bô đào“, tức là dân đi tị nạn. Ba sắc dân này sợ hai nhà Trịnh-Nguyễn đuổi họ về Tàu, cho nên khi hai chúa Nguyễn Phúc Tần và Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mở mang bờ cõi phía nam Thuận Hóa, họ xung phong đi liền. Đa số dân Quảng và Chệt dừng lại ở Saigon-Chợ Lớn, một số nhỏ theo đại đa số dân Tiều vào tận Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, Hà Tiên. Vì thế từ Long An, Tân Thuận trở về miền Tây toàn là dân Việt gốc Tiều. Rồi họ bỏ cách ăn mặc và chải tóc kiểu nhà Thanh, búi tóc như người Nam, mặc áo bà ba, áo dài, học nói tiếng Việt và học làm mắm. Họ tự bỏ quốc tánh của họ, quên đi dĩ vãng bô đào, xưng là „Duyệt-Làm-Dành“ (Việt-Nam-Nhân) và sống hòa mình với người Việt, nhưng người Việt mình vẫn cứ gọi họ là … „ba Tàu“.
„ba Tàu“ đời thứ 17
Thật ra người Việt cổ sinh sống gần miền Nam nước Tàu ngày nay, xưa là vùng Lĩnh Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) và một phần của Lĩnh Tây, tức là Vân Nam và Quảng Tây, gồm các tộc Mân Việt, Uông Việt, Bách Việt, Lạc Việt. Vùng đất rộng lớn này một bên là núi Ngũ Lĩnh, một bên là biển, cho nên mới có huyền sử 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Ba miền đất lớn phía nam núi Ngũ Lĩnh là đất Quảng, bây giờ là Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây. Đất Mân bây giờ là Phúc Kiến, Triều Châu và Chiết Giang.
Bộ Lạc đầu tiên có chính sử, có chủ quân là vua Thuần Nghiêu, chính là bộ lạc Tào. Đất họ ở là đất Tào. Dân tộc Tàu là Tào dân – Tào mánh, Tào mán, Tào mín theo âm đọc tiếng Quảng Đông và Tiều. Mình gọi họ là Tàu bắt đầu từ đó. Đổi lại dân Tàu gọi chung các tộc Việt sống phía Nam núi Ngũ Lĩnh là Nam Mân (đất Mân phía Nam núi Ngũ Lĩnh, nơi dân Mân Việt ở đông nhất), Mân dân (Mần mánh, Mần mán, Mần mín) hay gọi là Nam dân (Nàm mánh, Nàm mán, Nàm mín theo âm tiếng Quảng và Tiều). Sau nàu bị hai bà Trưng đánh bại năm 40 mới ghét dân Việt quá đọc trại thành Nam Man.
Các nước Sở, Việt, Ngô thời Xuân Thu xưa lắc toàn là những vùng đất của các chủng Việt mà hai chủng lớn nhất là Thái-Mường (Tais, Tây Âu) và Việt (yue, yueh), như Bách Việt, Bộc Việt, Điền Việt, ở rải rác phía Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh, tức là vùng Mân Nam, đảo Đài Loan, Hải Nam và miền bắc của Việt Nam bây giờ. Ngôn ngữ của dân Việt mình và dân Thái có gốc Việt cổ, cũng là tiếng Sở-Việt-Ngô ngày xưa. Tiếng Quảng và tiếng Tiều nghe khá giống với tiếng Việt, khác xa tiếng Phổ thông (Mandarin). Dân Việt cổ sinh sống từ phía nam sông Dương Tử xuống đến miền bắc Việt Nam và phía đông đến tận biển Đông Hải. Nếu không bị các nhà Tần, Hán lấn chiếm thì đất nước của dân Việt lên đến tận sông Dương Tử.
Năm 1965, trong một cuộc khai quật khảo cổ tại Hồ Bắc – là địa bàn nước Việt ngày xưa trước khi bị Sở diệt – người ta đào được cây kiếm của Việt Vương Câu Tiễn, đúc bằng đồng điếu, có hoa văn và các đường chạm kỷ hà giống như hoa văn ở các thạp đồng Đông Sơn. Câu-Tiễn-Kiếm khắc chữ Việt cổ mà chính những nhà học giả nổi tiếng của Tàu cũng vò đầu bứt tai không giải mã nổi (chú thích: lúc đọc tới khúc này tôi hình tượng đến cảnh ông A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ – Alexandre de Rhodes – ngồi ngơ ngẩn thẩn thờ không giải mã được chữ Việt bèn tìm cách chuyển đổi sang tiếng Latin quen thuộc với ông hơn).
Trở lại „Câu-Tiễn-Kiếm“. Người Tàu phía bắc như các nước Tần, Tề, Trịnh, Ngụy, Yên, Hàn, Lỗ, Tấn đâu có đồng đâu mà làm kiếm, toàn là kiếm thép, và cũng không có kỹ thuật làm đồ đồng như dân Việt. Nếu có chạm trổ thì đường nét cong cong, uốn lượn chứ không thẳng như kiếm Câu-Tiễn. Sử Tàu cũng có nhắc đến 2 cây kiếm Thư Hùng của vợ chồng Can Tương – Mạc Tà dâng lên cho vua Ngô Hạp Lư, mà Kim Dung có nhắc tới trong cuốn Việt-Nữ-Kiếm. Sách viết là 2 cây kiếm rèn bằng sắt, nhưng sau này người ta bảo là ngộ nhận, vì vùng Chiết giang – Nam Lĩnh không có mỏ sắt, chỉ có các mỏ đồng thau, thế thì 2 cây này cũng như cây của Câu Tiễn phải là cùng làm bằng đồng điếu, tức là mỏ kim loại ở địa phương. Tiếc rằng 3 cây kiếm này giờ nằm ở bên Tàu thì thuộc quyền sở hữu của nó, nếu không thì mình đã có niềm tự hào là tổ tiên dân Việt có nghề làm kiếm tinh vi.
Câu-Tiễn-Kiếm
Xưa có câu „Tề dân phục thương ngọc, Sở chúng ý tạp y“, có nghĩa là „dân Tề đeo ngọc xanh, dân Sở mặc áo ráp nối vá víu“. Nhiều người diễn giải là ý nói người Sở không giàu có như người Tề. Thực sự „tạp y“ – còn có nghĩa là „bách kết y“ – là áo ráp lại từ những miếng nhỏ.
Khu vực các nước Trung thổ như Tề, Tấn, Trịnh có sông Hoàng Hà chảy ngang qua, hai bên bờ và dưới đáy sông người ta tìm được „jade nephrite“ là một loại ngọc quý mà mình thường gọi là cẩm thạch, đá trang sức. Có 2 loại đá khác cũng quý hiếm nhưng thua nephrite là agate, tức mã não màu đỏ (Kỳ-Thạch) và turquoise, tức Lục-Tùng-Thạch màu xanh (khôi thạch). Mình hay nói một người nào có tính tình „kỳ khôi“ tức là tên này „hành sự“ quái gỡ, bất bình thường, nhưng thực sự „KỲ KHÔI“ là tiếng Hán-Việt, tên gọi chung cho 2 loại đá quý này.
Cẩm thạch được dùng làm đồ trang sức và đặc biệt là làm áo quan với những miếng ngọc hình chữ nhật kết với nhau bằng tơ lụa, bọc kín xác chết, vì Cẩm-Thạch được cho là bảo quản xác chết không bị hư thối, hồn được yên tĩnh về nơi cõi lành. Vào thời cổ xưa, dân Tàu, Ấn, dân Lưỡng-Hà-Địa và người da đỏ Inca ở Peru chỉ đeo lẩn quẩn 3 thứ đá này, họa may là có thêm jadeite và opal. Đeo ngọc là cách trang sức của dân Tàu Trung thổ, mà có được ngọc xanh lại càng quý, tức là một kiểu khoe của, ta đây là … đại gia.
Áo quan bằng ngọc thạch
Dân Thái-Lan, Mường, các dân thiểu số ở Việt Nam như Tày, Nùng, Miêu, Ê-Đê v.v. mặc áo đủ màu sắc lòe loẹt, cổ, ngực, tay, vai ráp bằng nhiều thứ vải, hoa văn, chỉ nổi, đăng ten thêu thùa lung tung, đầu kết lông chim, kết khăn đội. Nhưng không phải tại họ thiếu vải, mà chỉ là thời trang „hippy“ của dân Sở ngày xưa. Có nhóm mặc váy dài như dân Lào và Thái Lan. Cũng có nhóm mặc váy ngắn ngang đầu gối như H’Mông, Ê-Đê để dễ dàng đi lại trên vùng rừng núi. Dân Sở, Việt ở đất Kinh và Dương, du nhập cách ăn mặc của người Trung thổ, nhưng áo dài tay rộng, mặc nhiều lớp vì ở miền lạnh hơn. Còn trang phục của dân Tây Nguyên thì cũng giống dân Văn Lang tức là đóng khố. Tóm lại từ trang phục của dân các nước Sở, Việt, Ngô và khu vực Mân Nam (tức Lĩnh Nam) mà các chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc) có phong cách trang phục như vậy. Ngay cả áo tứ thân cũng là tạp y, nhiều mảnh ráp lại. Hoa văn và các hình trang trí của dân Thượng, Thái, Tây Nguyên giống y hệt hoa văn trên cây kiếm Câu Tiễn và các thạp đồng Đông Sơn – Hòa bình, đa số là những đường thẳng chéo qua chéo lại. Còn hoa văn và hình trang trí của Tàu thì cong, dợn sóng mềm mại như mây, hoa, lá chứ không có các đường thẳng kỷ hà.
Y phục người H’Mông
Sở dĩ các tộc Thái, Việt ăn mặc màu mè lòe loẹt vì bị ảnh hưởng của thiên nhiên, cây trái, hoa quả đủ màu sắc, thi nhau nở quanh năm. Vì không có mùa Đông nên dân bản xứ thích màu mè. Họ xâm mình và dùng màu của các hoa quả thoa lên mặt, lên người, giống như bây giờ thiên hạ trổ tattoo và xài make up … Lancôme. Rồi họ dệt vải đủ màu cho đẹp, đem màu sắc vào trang phục. Họ giỏi làm những dãy băng viền áo đủ màu. Trong lúc đó thì quần áo của người Tàu ở lưu vực sông Hoàng Hà làm bằng vải cây gai, cây bông gòn, rất đơn sơ chứ không „hoành tráng“ như phim Tàu bây giờ. Thời Xuân Thu là xa xưa lắm, bất quá là họ thêu viền cổ hay viền ống tay, nên nếu cho rằng dân Sở, Việt mặc bách kết y, tạp y, là dân nghèo ăn bận vá víu thì … bậy quá !!!
Trước khi các nước Sở, Việt, Ngô, Hán, Tề, Tàu đánh nhau họ cũng giao lưu „fashion show“ ì xèo, bắt chước nhau ăn mặc. Nhưng quốc phục dân Thái, Việt là … technicolor, giống như theo kiểu nhà thiết kế thời trang Tây-Ban-Nha Custo Dalmau, còn dân Tề đeo ngọc xanh thì cũng giống như bây giờ người ta đeo iwatch vậy đó mà“.
Slava Zaitsev fashion show
Tôi không đeo iwatch, cũng chẳng thích cẩm thạch.
Có lẽ bên nội tôi gốc người H’Mông không biết chừng.
Sáng thứ Hai, trên đường đi làm, tôi lại nghe radio báo tin khủng bố nổ bom tại khu xe điện ngầm ở Sankt Petersburg của Nga (mang tên tiếng Việt là Thành Bỉ Đắc), làm 11 người thiệt mạng, hơn 50 người bị thương.
Ở châu Âu, những vụ khủng bố gây tử vong ngày càng xảy ra nhiều hơn. Trong khi trước kia mục tiêu thường là những khu có tầm chính trị quan trọng như cơ quan hành chánh hay đài truyền thanh, truyền hình, tòa báo v.v. (vụ tấn công tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Paris 2 năm trước), thì sau này đa số nạn nhân là thường dân, thanh thiếu niên, trẻ em vô tội.
Các vụ khủng bố nổ bom và tự sát đều mang dấu ấn Hồi giáo.
Châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng đa số theo đạo Công giáo. Nhưng họ đã mở rộng vòng tay chấp nhận cho người không cùng tôn giáo như người Việt (đa số theo đạo Phật), người Syria đến tị nạn tại xứ sở của họ, một đất nước an lạc, tự do, dân chủ, bình đẳng.
Người Việt trước kia tị nạn chính trị, sau này tị nạn kinh tế, hai lý do chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Người Syria tị nạn chiến tranh Hồi giáo, cũng chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Vậy tại sao lại xảy ra vụ khủng bố tấn công bằng xe vận tải vào chợ Giáng Sinh ở Berlin ngày 19.12.2016 khiến 12 người mạng vong ?
Và những vụ khủng bố ở các nước khác như Anh, Bỉ, Nga, Pháp, Mỹ ?
Và tại sao đa số các vụ khủng bố thường dưới hình thức ôm bom tự sát (Selbstmordanschlag, suicide bombing) ?
Khi con người đi vào tuyệt lộ, nhất là khi phải chịu đựng đau khổ về tinh thần hay thể xác, người ta dễ dàng quyết định chọn cái chết để tự giải thoát.
Năm 2009, trong quyển sách „Tội phạm tín đồ Hồi giáo“ (Unter kriminellen Muslimen) nhà tâm lý học Nicolai Sennels phân tích sự bộc lộ cảm xúc, tức giận phát sinh từ nền văn hóa Hồi giáo. Nghiên cứu của ông được dựa trên các cuộc thảo luận, điều trị với khoảng 150 thanh niên Hồi giáo trong nhà tù dành cho thanh thiếu niên (Jugendgefängnis) ở Kopenhagen, Đan-Mạch. Tại đây, khoảng 70% tù nhân xuất thân từ gia đình theo đạo Hồi.
Theo Sennels, loạn luân (Inzucht) giữa người Hồi giáo rất phổ biến. Khoảng 70% người Pakistan, 45% người Ả-Rập và 25-30% người Thổ-Nhĩ-Kỳ có cha mẹ là bà con với nhau, thường là kết hôn với anh chị em họ. Việc này ảnh hưởng lớn đến trí thông minh, sức khỏe thể chất, tâm lý và xã hội Hồi giáo rất lớn. Trẻ em sinh ra có trí thông minh thấp, bệnh hoạn, mang dị tật hay các bệnh tâm thần. Những người này dễ dàng trở thành kẻ đánh bom tự sát. Tử đạo là một cách xứng đáng để kết thúc cuộc sống đau đớn về thể chất hay địa vị xã hội thấp, bị khinh rẻ vì tật nguyền.
Điều này giải thích phần nào hai phần ba trẻ em nhập cư ở Đức có học lực kém ở trường, đưa đến việc không tìm được việc làm tốt hay thất nghiệp dài hạn và phải sống dựa vào trợ cấp. Thêm vào đó, nhiều gia đình Hồi giáo không cho phép con cái của họ hội nhập văn hóa Tây phương với tự do ngôn luận, dân chủ, bình đẳng nam nữ, là những điều đi ngược lại văn hóa Hồi giáo.
Cho phép loạn luân trong nền văn hóa Hồi giáo trong suốt 1.400 năm qua đã để lại thiệt hại thảm khốc đến các tố chất di truyền của họ. Ví dụ nổi tiếng nhất là Ai-Cập, triều đại huy hoàng Pharao hoàn toàn sụp đổ sau vài trăm năm. Để giữ tài sản và quyền lực, các Pharao thường kết hôn với chị em ruột hay chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Sau vài thế hệ, hậu duệ của họ không còn chiếm ưu thế về trí tuệ lẫn thể chất để tiếp tục giữ vững quyền lực cai trị. Một ví dụ lịch sử khác là vua chúa châu Âu cũng thường kết hôn trong nội tộc vì truyền thống không cho phép họ kết hôn với người không thuộc giai cấp hoàng gia. Tỷ lệ cao của giới quý tộc bị bệnh tâm thần và dị tật trong lịch sử châu Âu cho thấy những hậu quả không lành mạnh của truyền thống này.
Theo thống kê, 80% các cuộc hôn nhân tại Nubien (khu vực phía Nam Ai-Cập) có liên quan huyết thống, 67% ở Ả-Rập Saudi, 63% ở Sudan, 64% ở Jordan, 63% tại Kuwait, 60% ở Iraq, 54% ở Qatar, 54% trong khối Vương quốc Ả-Rập Thống nhất (Vereinigte Arabische Emirate), 48% ở Libya, 47% ở Mauritania, 46% ở Bahrain, 45% ở Yemen, 42% ở Lebanon, 40% ở Syria, 39% ở Tunisia, 34% ở Algeria, 33% ở Ai Cập.
Loạn luân có ảnh hưởng tiêu cực đến chủ nghĩa khủng bố nhưng được giáo chủ Mohammed cho phép. Năm 626, Mohammed, 56 tuổi, lấy Hafsah, 20 tuổi, con của Umar, làm vợ bé. Aischa, vợ chính thức (vợ thứ 3) của Mohammed, con gái của Abu Bakr, mới lên 10. Cả hai cha vợ là Umar và Abu Bakr đều xin cưới con gái út của Mohammed là Fatima nhưng Mohammed không chịu vì ông quá yêu thương Ali là em họ (con của chú ruột) nên ông đã gả Fatima cho Ali. Sau này Ali và Fatima trở nên „thánh tổ“ của giáo phái Schia. Cũng khoảng năm 626, Mohammed hợp thức hóa loạn luân trong thánk kinh Koran, ép con trai nuôi của mình là Zaid phải ly dị vợ để ông lấy Zainab, cô em họ của mình làm vợ.
Một lý do khác là với hôn nhân trong bộ tộc thì do „không gả con xa“ cha mẹ dễ quản thúc con gái tuân thủ giáo lý Sharia, nữ giới phải chịu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân. Iran theo giáo phái Schia, nổi tiếng bảo thủ và cực đoan. Luật hôn nhân của Iran công nhận chế độ đa thê. Đàn ông muốn ly dị vợ lúc nào cũng được. Thủ tục ly dị vô cùng đơn giản, người chồng chỉ cần nói với vợ ba lần: „Tôi ly dị cô !“. Sau khi được tòa cho ly dị, người chồng có quyền giữ con trai trên 6 tuổi và con gái trên 12 tuổi. Người vợ chỉ được nhận tiền của chồng trợ cấp trong 3 tháng mà thôi. Tệ hơn nữa, sau khi ly dị rồi đàn ông Hồi giáo có quyền cưới con gái mình.
Theo y học, kết hôn với người cùng huyết thống có xác xuất bị dị tật rất cao, anh chị em ruột từ 40-50% do thừa hưởng 50% di tố của cha và 50% của mẹ. Nếu chẳng may gặp nhầm di tố bị đột biến, đứa trẻ sanh ra sẽ mang dị tật như trí tuệ kém phát triển, đui mù hay bị những khiếm khuyết, bệnh tật khác. Cộng thêm sự nghèo đói, thất bại trong xã hội đưa đến việc từ thập niên 1980, các vụ khủng bố dưới hình thức ôm bom tự sát gia tăng. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng tại các trại tị nạn. Họ được hứa hẹn lên thiên đàng hưởng lạc thú với 72 cô gái đẹp đến muôn đời hay thân nhân được trợ cấp một số tiền lớn.
Nhận thức của Sennels cũng như những tài liệu tham khảo về loạn luân cho thấy đạo Hồi và nền văn minh phương Tây với ý thức tự do, bình đẳng nam nữ không thể hòa nhập, trừ khi người theo Hồi giáo ý thức được phụ nữ cũng là người chứ không phải nô lệ. Algeria là thuộc địa của Pháp từ năm 1830. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đem lại hứng khởi cho nhân dân Algeria trong quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập. Niềm hứng khởi đó đã thúc đẩy trên 10.000 phụ nữ Algeria gia nhập hàng ngũ kháng chiến quân võ trang. Họ lợi dụng những chiếc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân để dấu vũ khí, thuốc men, lương thực tiếp tế cho quân kháng chiến. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến thành công năm 1962 thì chính quyền Algeria bị rơi vào tay của giới lãnh đạo Hồi Giáo cực đoan. Chính quyền này muốn đưa Algeria trở về thời Trung Cổ bằng cách tước đoạt mọi quyền tự do của phụ nữ. Phụ nữ Algeria ngao ngán thở dài hối tiếc thời Pháp thuộc vì dưới ách thống trị của thực dân, họ đã được hưởng rất nhiều quyền tự do và nhân phẩm của họ đã được kẻ địch tôn trọng còn hơn những kẻ lãnh đạo đồng hương của họ.
Vào năm 1980, một đảng Hồi Giáo cực đoan khác lên nắm chính quyền ở Algeria. Năm 1984, chính quyền này ban hành luật công nhận chế độ đa thê. Nhiều phụ nữ biểu tình chống lại luật này. Chính quyền quá khích ra lệnh cho cảnh sát nổ súng khiến cho 48 phụ nữ bi thiệt mạng.
Sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi Giáo cuồng tín đã làm bùng lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ hơn. Chính quyền liền ban hành luật thị uy với những hình phạt thật nghiêm khắc đối với những người xách động biểu tình: đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị thiêu sống. Bộ luật chống biểu tình này được áp dụng liền trong 10 năm, từ 1984 đến 1993, đã giết chết khoảng 7000 người!. Mặc dầu vậy, phụ nữ Algeria vẫn không nản chí, họ tiếp tục tranh đấu cho tự do một cách thật kiên cường khiến cho thế giới phải khâm phục. Ngày lịch sử 22-3-1993, một nửa triệu phụ nữ Algeria vứt bỏ áo choàng và khăn che mặt từ khắp nơi đổ về thủ đô với khẩu hiệu: „Chúng tôi không nhượng bộ“ (We will not yield!). Trước khí thế quá mạnh mẽ và can trường của nửa triệu phụ nữ, chính quyền Hồi Giáo cực đoan đã phải chùn tay không dám bắn và cuối cùng họ đã phải nhượng bộ bằng cách hủy bỏ các luật lệ bất công đối với phụ nữ (trích từ „Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay“ của Charlie Nguyễn).
Tự do tín ngưỡng là một trong những quyền cơ bản của con người. Nhưng tự do cũng có nghĩa phải tôn trọng tự do của người khác. Chưa nói đến việc „nhập gia tùy tục“. Là khách ta không thể tùy tiện thay đổi cách trưng bày của chủ nhà theo ý riêng hay, tệ hại hơn nữa, đập phá đồ đạc khi thấy nó chướng mắt mình.
„Religion is like a pair of shoes. Find one that fits for you, but don’t make me wear your shoes.” ― George Carlin ―
Tôn giáo giống như một đôi giày. Hãy tìm cho bạn đôi nào vừa ý, nhưng đừng ép tôi phải mang giày của bạn.
Cuối tuần, tự nhiên nổi hứng muốn đi xem chiếu bóng. Sực nhớ phim „La La Land“ vừa nhận một đống Oscar, tôi rủ ông chồng đáng yêu nhất trên đời này mua 2 vé ở rạp Eden, xuất 17 giờ, hạng Loge, 8€ một vé, còn được khuyến mãi bớt 15% cho 2 vé đi tắm hồ nước nóng Carolus Thermen Aachen.
Xem phim ở rạp có cái thú riêng của nó, khác hẳn xem ở nhà dù Ti-Vi to hơn nửa bức tường và không mất tiền vé vào cửa. Chẳng hạn phải ăn mặc chỉnh tề, không được lâu lâu lại đứng lên đi rót ly nước, vào Facebook bấm „like“, hoặc xuống bếp tắt nồi phở đang chuẩn bị sôi trào.
Phim khá hay, màu sắc rực rỡ, cảnh quay tuyệt đẹp, diễn viên xuất sắc, xứng đáng đoạt 6 Oscar. Nội dung xoay quanh chuyện tình của Mia, làm việc tại một quán cà phê trong phim trường Warner Bros với giấc mơ trở thành minh tinh màn bạc, và Seb, một nhạc sĩ dương cầm ương gàn, ấp ủ hoài bão mở phòng trà cho loại nhạc Jazz mà chàng say mê.
Mia & Sebastian trong phim „La La Land“
Tại sao tôi viết Blog về „La La Land“ ?
Trong phim có đoạn khi Mia được yêu cầu diễn xuất thử vai, cô kể lại câu chuyện về người dì sống tại Paris, người đã ủng hộ giấc mơ trở thành diễn viên của cô. Đoạn này được trình bày qua khúc ca nhạc kịch với bài „The Fools Who Dream“. Có cái gì đó làm con tim tôi rung động khi nghe Emma Stone – người thủ vai Mia – cất tiếng hát:
Here’s to the ones who dream
Foolish as they may seem
Here’s to the hearts that ache
Here’s to the mess we make
She captured a feeling
Sky with no ceiling
The sunset inside a frame
A bit of madness is key
To give us new colors to see
Who knows where it will lead us?
And that’s why they need us
Tạm dịch là
Tuyệt vời thay những kẻ biết mộng mơ
Mặc ai chê ta điên dại khù khờ
Tuyệt vời thay những trái tim rạn vỡ
Với rối ren vương mắc đến vô bờ
Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung
Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ !
Tôi cũng điên rồ như Mia.
Nhưng không phải muốn trở thành minh tinh màn bạc. Tôi muốn người Việt xử dụng đúng cái tiếng Việt hoa mỹ ngày xưa.
Đơn giản như chữ „Hội trưởng Hội người Việt“ thay vì „chủ tịch“.
Xưa có xài, nhưng xài đúng chỗ, giống tiếng Anh, chủ tịch là „xếp sòng“ (chairman), là người nắm quyền quyết định, thường là người có đa số cổ phần của một công ty.
Chủ tịch có thể được dùng cho Ủy Ban (Committee), Hội đồng quản trị (Board of director), Hội đồng giám khảo (Council of examiners). Tuy nhiên ngày xưa có rất nhiều trường hợp không xài chủ tịch như Tổng Công ty Điện Lực không có chủ tịch mà chỉ có Tổng giám đốc.
Ngày xưa có Trưởng phòng Phòng Thông Tin, Trưởng Phòng Chiêu Hồi. Trưởng phòng là chức vụ của „chủ tịch“.
Ty Cảnh Sát có Trưởng Ty Cảnh Sát, Ty Công Chánh có Trưởng Ty Công chánh, Ty Quan thuế có Trưởng Ty Quan Thuế.
Nha Lộ Vận, Nha Quan Thuế có Tổng Nha tương đương với Giám đốc, Tổng giám đốc.
Một công ty có nhiều ban ngành thì có Trưởng Ban.
Đài truyền thanh, truyền hình chỉ có giám đốc, không có „chủ tịch Đài truyền hình“ như bây giờ.
Phường Trưởng, Xã trưởng, Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng, Đô Trưởng, Quân Khu Trưởng, không có các „chủ tịch ủy ban“.
Thủ tướng đứng đầu cái mà tiếng Việt hoa mỹ đặt tên là „Nội Các“, không phải gọi là … „Hội Đồng Bộ Trưởng“.
Hội thì có hội trưởng, không có chủ tịch hội.
Tóm lại chữ „chủ tịch“ rất ít xài vì có đủ chữ để xài cho các chức vụ.
Bây giờ ở nước ngoài bắt chước trong nước xài „chủ tịch Hội Người Việt“, „chủ tịch Hội Phụ Nữ“, „chủ tịch Hội Sinh Viên Đại Học Há-Vợt (Havard)“ v.v. Nghe danh từ đao to búa lớn mà hội chỉ là association (Vereinigung), club (Zusammenkunft), group (Gruppe) v.v. và chẳng có chủ tịch nào có nhiều cổ phần trong hội, vì hội là đoàn thể bất vụ lợi, làm gì có cổ phần (shares) hay được quyền quyết định tối cao mà gọi là chủ tịch ?
Tham mưu Trưởng là trưởng phòng hay trưởng ban cố vấn của quân khu, hay của quân đoàn, của sư đoàn. Bây giờ thì dùng chữ „chủ tịch hội đồng cố vấn“.
Chỉ huy trưởng là người đứng đầu trung tâm huyến luyện quân sự hay bộ chỉ huy hành quân. Thiếu tướng Đoàn văn Quảng – ba của bạn tôi, tôi rất hãnh diện về ông – từng là Chỉ huy Trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Còn bây giờ thì dùng „chủ tịch trường đào tạo quân đội nhân dân“, nghe rất lủng củng trục trặc.
Ngày xưa nhóm công tố, biện lý của tòa án thành phố có một người đứng đầu gọi là Biện Lý Trưởng, phụ tá của ông này gọi là Tham Biện, Tham Lý. Bây giờ gọi là chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban công tố. Ngày xưa chức công tố được gọi là Biện Lý, bây giờ gọi là Ủy Viên Công Tố, tại sao lại phải dài dòng như vậy ?
Còn ông „attorney general“ của ngành tư pháp của một nước thì xưa gọi là Chánh Biện, Chánh Biện Lý (attorney principal), bây giờ gọi là „chủ Tịch Hội Đồng Tư pháp Trung Ương“.
Cái gì cũng xài chủ tịch hội đồng cả thì tiếng Việt nó nghèo nàn cỡ nào ?
Có thể tôi không được diễm phúc thấy lúc tiếng Việt hồi phục phong phú như xưa, nhưng nếu tôi làm ngơ, cứ „vô tư“ bắt chước gọi „anh chủ tịch, ơi, cho em nhờ tí nào“, thì chính tôi tự cảm thấy lòng mình không yên, có gì đó mãi khắc khoải trong tim.
My aunt used to live in Paris.
I remember, she used to come home and tell us these stories about being abroad
And I remember she told us that she jumped into the river once,
barefoot.
She smiled. ..
Leapt, without looking
And tumbled into the Seine
The water was freezing
She spent a month sneezing
But said she would do it again
Dì tôi sống ở Paris
Dì kể tôi nghe chuyện có lần dì nhảy ùm xuống sông Seine
Chân trần
Dì cười …
Nhảy đại không nhìn trước sau
Vùng vẫy trên sông Seine
Nước lạnh cắt da
Cả tháng trời dì cảm bịnh
Nhưng dì quả quyết
Dì sẽ làm chuyện điên rồ ấy lần nữa
La Seine
Tôi cũng muốn chân trần nhảy xuống sông Seine như dì của Mia.
Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung
Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ ! Bài „Fools Who Dream“ do Emma Stone trình bày
Mới đây tôi được giao nhiệm vụ dịch bài diễn văn khai mạc Tết Đinh Dậu tại Mönchengladbach với hình ảnh ông đồ già của thi sĩ Vũ Đình Liên.
Ông đồ không làm tôi sụt ký tuy cũng nan giải như phương trình Diophantos von Alexandria f(x1;x2;x3;…;xn) = 0, bài số 10 trong danh sách 23 bài toán chưa tìm ra đáp số của nhà toán học người Đức David Hilbert.
David Hilbert (1862-1943)
Nhưng dịch lời giới thiệu các chính khách Đức được mời đến dự như ông Reiners, Oberbürgermeister của thành phố Mönchengladbach, đã làm tôi đầu bạc vì không còn thì giờ đi nhuộm tóc, miệng khô vì liếm nước miếng tra tự điển liền tay, ngón trỏ cứng đơ vì líu lo với cụ Gồ (google) như … chim hót bên bụi mận gai.
Vấn đề là hiện nay ở Việt Nam toàn gọi những người đứng đầu bộ phận hành chính ở các nước theo chế độ dân chủ là „thị trưởng“ dù chức vụ của họ là tỉnh trưởng, quận trưởng hay xã trưởng. Không phân biệt giai cấp, quyền hạn, lương lậu gì sất. Me nào cũng là me, „me dốt cũng như me ngào đường“, Maire de Paris, Maire d’Antony, Maire de … Sài-Gòn.
Thời pháp thuộc, Nam kỳ lục tỉnh là vùng đất người Pháp chiếm được và lập nền cai trị đầu tiên ở Đông Dương, với tổ chức hành chính chia làm 19 tỉnh và duy nhất một„thành phố“ hoa lệ „Ville de Saigon“. Ngày 8 tháng 1 năm 1877, Tổng thống Pháp Mac Mahon ra „Sắc lệnh về tổ chức của Sài-Gòn“, nâng cấp Sài-Gòn lên thành công xã (Décret concernant l’organissation municipale de la Ville de Saigon, la Ville de Saigon est érigée en commune), cho phép Sài-Gòn được hưởng quy chế như các thành phố lớn ở bên Pháp. „Maire de Sàigòn“ thời ấy là Đốc lý Charles Marie Louis Turc. Đến 1888 Pháp chiếm toàn bộ Bắc kỳ, lập thêm 2 „thành phố“ lớn là Hà-Nội (maire là Đốc lý Trần Văn Lai) và Hải-Phòng (maire là Đốc lý Vũ Trọng Khánh).
Ngày 27 tháng 4 năm 1931, tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất hai thành phố Sài-Gòn và Chợ-Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là khu Sài-Gòn – Chợ-Lớn (région Saigon – Cholon). Cho đến 1945, chức vụ đứng đầu đơn vị hành chính Sài-Gòn (administrateur de la région) đều do người Pháp nắm giữ, gọi là chánh tham biện hay khu trưởng Sài-Gòn – Chợ-Lớn. Ngày 26 tháng 9 năm 1947 chức danh người đứng đầu chính quyền khu Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành đô-trưởng. Giai đoạn này Hà-Nội vẫn là thủ đô, tức là từ „đô trưởng Sài-Gòn“ không dính dáng gì đến từ „thủ đô“ cả như nhiều người diễn giải.
Đi ngược dòng lịch sử để tìm đáp số cho phương trình Diophantos là: Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến lúc bị chặt ngang khúc ba sườn chỉ có 3 „đô-thị“. Theo tự điển Khai trí Tiến-Đức „thị“ là chợ, nơi đô-hội có người ở đông đúc (thành thị). Thị xã là nơi đô-hội có tổ chức thành một cơ quan như một xã. Hà-Nội, Sài-Gòn đều là thị xã trước khi được „văn minh hóa“ thành đô-thị, để Nguyễn Bính phải ôm sầu „cái yếm lụa sồi“
Hôm qua em đi „tỉnh“ về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi Nào đâu cái áo tứ thân ? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ?
Riêng Sài-Gòn là thủ đô nước Việt-Nam-Cộng-Hòa nên còn được gọi là đô-thành (chỗ kinh thành nhà vua). Vì vậy nhiều khi bị nhầm lẫn cho rằng người giữ chức hành chính cao nhất Sài-Gòn được gọi là đô-trưởng vì Sài-Gòn là thủ đô. Thật ra đô trưởng là người đứng đầu hệ thống quản lý hành chính của một đô-thị. Nơi làm việc của chính quyền đô-thị gọi là tòa đô chánh (Rathaus, Hôtel de Ville, City Hall) nghe rất là văn chương, lịch sự, đầy vẻ uy nghi của một nước theo chính thể cộng hòa dân chủ.
Xã có nghĩa là đất, là sơn hà xã tắc, là chủ quyền nước non. Xã xưa là khu vực hành chính thuộc quyền lý trưởng (một xã ba thôn), nay đông dân lên thì thành thị xã (đất đã có chợ). Cần-Thơ, Cà-Mau, Vũng-Tàu với „Tour du lịch có xe ô-tô phục vụ theo chương trình, ca-nô cao tốc tham quan Đất Mũi, khách sạn tiêu chuẩn điều hòa máy nóng lạnh, Ti-Vi, thuyền đi chợ nổi Cái-Răng, khách sạn khu sinh thái biển“ thì không còn là 3 thôn với lý trưởng nữa mà phải „nâng cấp“ lên thành … Thị trưởng thị xã Cần-Thơ, Thị trưởng thị xã Cà-Mau, Thị trưởng thị xã Vũng-Tàu.
Còn Mönchengladbach với hơn 250.000 dân cư mà xướng „Kính chào Ông … Thị trưởng Reiners“ thì … buồn cho ổng quá !!! Hổng lẽ ổng phải về Cà-Mau, tối vỗ vỗ hai lòng bàn chân bạch bạch vào với nhau rồi chui vô mùng ngồi nghe muỗi vo ve sao ?
Nước Đức theo nền dân chủ lập hiến, có guồng máy hành chính chặt chẽ cho … 2060 tỉnh (Stadt), trong đó 79 là thành phố lớn (Großstadt) với trên 100.000 dân cư, 4 đại-đô-thị (Metropol) là Berlin, Hamburg, München, Köln với trên 1.000.000 dân cư. Dưới cấp tỉnh của Đức là 11.091 thị xã (Gemeinde), đảm nhiệm hành chính cho nhiều làng nhỏ. Nghe có vẻ lạ lẫm nhưng ở Đức cũng có làng (Dorf), chẳng hạn bà cô giáo dạy Pháp văn của tôi thời trung học sống ở làng Meinsen, thuộc thị xã Hülsede, chỉ vỏn vẹn hơn 1.000 dân cư, „đi dăm bước đã về … nhà bả“.
Năm 2017 là năm tái bầu cử Quốc hội Liên bang Đức nên hôm Tết có rất nhiều chính khách cỡ bự như thứ trưởng Bộ Nội Vụ, nghị sĩ, dân biểu, đảng trưởng các đảng lớn CDU, SPD v.v. đến tham dự, trước lấy lòng cử tri (dù người Việt ở Đức chỉ là thiểu số nhưng vẫn được coi trọng như thường), sau để xem múa lân, chào cờ. Bạn đừng cho là nói phét nhé, chính mắt tôi thấy các chính khách cất tiếng hát theo quốc ca Đức một cách hùng hồn, trang trọng, làm tôi cũng phải … hát theo.
Ông Hans Wilhelm Reiners, Đô-trưởng thành phố Mönchengladbach
Ông Reiners, Oberbürgermeister của Mönchengladbach, đương nhiên cũng là khách danh dự nên không thể để ổng vỗ vỗ hai lòng bàn chân bạch bạch vào với nhau rồi chui vô mùng ngồi nghe muỗi vo ve được vì ổng là …. ĐÔ-TRƯỞNG.
Đến đây là chấm dứt lời giới thiệu khách danh dự. Xin quý vị cho tràng pháo tay. Xin thành thật cám ơn quý vị.
Thanks to Don Le for the New Year’s card design, Toronto 2017
Chắc hẳn ai cũng nhớ mấy câu thơ của thi sĩ Vũ Đình Liên:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua …
Từ hơn 40 năm nay chúng ta chỉ thấy hình ảnh cụ đồ ngày Tết trên sân khấu của các hội người Việt tị nạn ở Đức. Cũng từ hơn 40 năm nay chúng ta đón Tết với người Đức trên quê hương của họ, nhớ về không khí Tết Nguyên Đán cổ truyền với sắc hoa mai vàng, hoa đào hồng thắm, với bánh chưng xanh, câu đối, cành nêu lủng lẳng những bao lì xì đỏ rộ.
Người Đức mừng Giáng sinh từ tối 24 đến 26 tháng 12, tức là chỉ có 2 ngày rưỡi thôi. Người Việt „ăn“ Tết đến 3 ngày lận. Theo phong tục Việt Nam thì ngày mùng Một là ngày con cháu đến thăm ông bà, họ hàng bên nội, ngày mùng Hai dành cho bên mẹ. Ngày mùng ba học trò đi thăm thầy cô.
Mùng một là Tết nhà cha
Mùng hai nhà mẹ, mùng ba nhà Thầy
Trẻ con xúng xính áo mới, trong nhà bánh mứt đầy mâm, ngoài đường trống lân rộn rã, pháo nổ đì đùng, sân chùa nghi ngút khói hương trầm ngày Tết. Mọi người hân hoan chúc nhau năm mới an khang, thịnh vượng.
Mặc dù năm Đinh Dậu tiếp tục chịu những sự kiện biến động như khủng hoảng làn sóng tị nạn ở châu Âu, Formosa gây ô nhiễm biển miền Trung, nguy cơ xâm lăng lãnh thổ Việt Nam của Trung Cộng v.v. chúng ta vẫn hy vọng một ngày mai tươi sáng theo như một câu ngạn ngữ của Ấn Độ: Dù có giam gà trống dưới hầm sâu bao nhiêu đi nữa, bình minh vẫn rạng sáng.
Với niềm lạc quan này, Hồng mến chúc các bạn một năm mới an khang, thịnh vượng, sức khỏe dồi dào, gặp nhiều may mắn.
Jeder Vietnamese kennt die poetischen Bilder des Neujahrsfestes
Wenn die Kirschblüte auf den Bäumen lacht,
der Markt in bunten Farben erwacht,
der alte Gelehrte über seine Kaligraphien bückt
Dann kehrt das Neujahr wieder zurück!
Seit mehr als 40 Jahren bleiben uns diese Bilder nur als Nachbildung auf der Bühne der jährlichen Neujahrsfeier der Vereine vietnamesischer Flüchtlinge in Deutschland. Seit mehr als 40 Jahren feiern wir zusammen mit unseren deutschen Freunden das Neujahrsfest, mit Sehnsucht nach der traditionellen Atmosphäre in der gelben Farbe der Mai-Blüten, der Rosafarbe der Kirchblüten, der grünen Farbe des Neujahrskuchen und insbesondere der roten Farbe der am Neujahrbaum hängenden Tüten mit „Glücksgeld“.
Wenn Weihnachten „das“ Fest der Europäer ist, dann ist Neujahrfest (nach dem Mondkalender) das wichtigste Jahresereignis der Vietnamesen. Die Deutschen feiern Weihnachten vom 24.12. abends bis zum 26. Dezember, also 2 ½ Tage. Wir feiern 3 Tage lang. Für die Vietnamesen ist das Neujahrsfest, bekannt als Tet-Fest, wie eine Mischung aus dem westlichen Weihnachten, Silvester, dem Neujahrstag, Ostern und Erntedank. Traditionell besuchen Vietnamesen an den ersten beiden Tagen ihre Familie und Verwandten, am dritten Tag die Lehrer. Es wird festlich gekleidet, bekömmlich gegessen; auf den Straßen werden Löwentänze vorgeführt, in den Tempeln steigt Räucherstäbchenqualm aus duftendem Adlerholz hoch. Man wünscht einander Glück, Gesundheit und Wohlstand.
Selbst wenn das Jahr des Hahns viele Schatten abwirft, wie die Flüchtlingskrise in Europa, Umweltverschmutzung durch Formosa in Vietnam, die Gefahr der Verletzung des vietnamesischen Territoriums durch China usw., lässt sich ein indisches Sprichwort viel Hoffnung schöpfen: Wenn du den „Hahn“ einsperrst, geht die Sonne doch auf!
In diesem Sinne wünsche ich Euch allen im Neuen Jahr Geborgenheit, Erfolg und Reichtum, Glück und Gesundheit.
Sáng nay đám bạn Facebook bàn chuyện chó như sau: Con chó này hồi mới đẻ ở Việt Nam gọi là Bít La (3 lít), tới chừng trưởng thành thì gọi là Năm Can, tức là khoảng 5 gallons … rượu đế. Tôi phát phì cười vì thật ra câu chuyện bắt đầu từ việc thằng con trai của một người bạn cứu một con chó hoang – hay đi lạc thì không rõ lắm vì không thấy đề cập ở khúc sau là có ai đến nhận lại hay không. Hành động nghĩa hiệp này được kết thúc bằng 5 lít rượu đế làm tôi nhớ chuyện „chuột tây, chuột ta“ của mình. Hôm nọ đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đòi vào tiệm bán thú vật xem cá. Nó thích nuôi cá nhưng tôi không cho phép vì biết rằng mình sẽ không có thì giờ chăm sóc, thay hồ, rửa hồ v.v. Chưa kể những kỳ nghỉ phải đi xa thăm bà con họ hàng bỏ cá chết đói sao ? Thơ thẩn trong tiệm tôi thấy có bán cả chuột. Mấy con chuột rao bán này trông không có vẻ gì là thuộc họ hàng nhà chuột cả, tức là trông chúng không có vẻ gì bẩn thỉu, đầy hung họa truyền bịnh dịch như hình ảnh con chuột trong trí nhớ của tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt nam, nơi mà chuột bị liệt vào loại thú vật „cần phải tiêu diệt“ vì chúng toàn làm ổ ở những nơi bẩn thỉu nên trên mình mang đầy vi trùng của đủ các loại bệnh tật dễ lây lan như dịch tả, dịch hạch chẳng hạn. Tôi tạm gọi chúng là „chuột ta“ để phân biệt với „chuột tây“ mà tôi đang quan sát trong tiệm bán thú vật. „Chuột tây“ thì đa số bé tẻo tèo teo, có khi còn nhỏ hơn con chuột nhắt bên mình. Chúng có bộ lông thật mượt mà khác hẳn với những con chuột chù, chuột cống lúc nào lông lá cũng xù xì và bết lại do chui luồn ở các cống rãnh. Tôi không biết các chú „chuột tây“ có thơm tho hay không (chắc là có, vì tôi thấy có mấy đứa bé ôm con „chuột tây“ đưa lên mũi hít hà như hôn các chú gấu bông vậy), nhưng các chú „chuột ta“ thì khỏi kể chúng ta cũng biết chúng hôi như … chuột. Một ngoại lệ có lẽ là chuột đồng. Chúng là một loài chuột đáng được … đem lên chảo. Trước kia thì chuột đồng được xem là một đặc sản „đồng quê“, nhưng bây giờ ở Việt nam mọc lên nhan nhản những quán bán các món ăn làm từ chuột đồng như lẩu chuột, chuột cà ri, chuột giả cầy, chuột nướng lá lốt, chuột xé phay … v.v. Trông những chú „chuột tây“ xinh xắn kia, tôi nghĩ bụng nếu mình mở một quán bán thịt chuột ở bên này chắc sẽ bị án tù chung thân không tại ngoại. Càng quan sát tôi càng thấy nghi ngờ xuất xứ của các chú „chuột tây“ này. Chỉ cần nhử một miếng đồ ăn gì đó là chúng đã nhanh chân chui ra khỏi chỗ trốn để đớp mồi. Tôi còn nhớ lúc ở Việt nam nhà tôi ngoài việc nuôi mèo bắt chuột còn sắm thêm vài cái bẫy chuột to cỡ bằng hộp đựng giày, nhưng chả mấy khi tôi thấy có con chuột nào sa bẫy cả. Tôi cũng tự hỏi không biết các chú „chuột tây“ có sợ mèo không nhỉ, hoặc cả đời đã từng thấy con mèo ra sao chưa ? Có lẽ là không, mà đôi khi chúng còn có thể là bạn thân thiết với nhau nữa nếu có một cô bé nào đó nảy ra ý định nuôi cả mèo lẫn chuột trong nhà cho vui vì cô bé là con một (như đa số các trẻ em bên này) nên buồn bởi không có anh em để chọc ghẹo lẫn nhau. Tôi còn nhớ một bài đồng dao Việt nam nói về quan hệ mèo chuột: Con mèo mày trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà ? Chú chuột đi chợ đường xa Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo Mèo bên này không ăn mắm mà ăn … KiteKat nên „chuột tây“ cũng không phải cực khổ lặn lội đường xa đi sứ như „chuột ta“.
Tổng kết lại thì các bạn chắc sẽ nghĩ rằng làm „chuột tây“ sướng hơn „chuột ta“ nhiều. Cũng có thể. Nhưng nếu so về tuổi thọ thì tôi không chắc lắm. Chả là kỳ nghỉ hè vừa rồi tôi đi thăm một người bạn. Con gái bạn ấy có nuôi một con „chuột tây“ xinh xắn đặt tên là Chewy. Tôi được tận mắt chứng kiến cảnh chú Chewy đấy bị con bé nựng nịu, vần lên vần xuống, rượt bắt quanh nhà, lục tung cả các tủ quần áo, xây chuồng bằng Lego rồi giam lỏng chú Chewy trong đó, và nhiều trò chơi quái đản khác mà tôi không thể diễn tả hết được. Một tuần sau hôm tôi về thì nhận được „i meo“ của bạn tôi „báo tử“ chú Chewy, chuyện mà tôi đã đoán trước rồi khi nhìn thấy con bé con chơi chuột. Không cần phải là bác sĩ thú y tôi cũng chẩn được bịnh án tử vong của chú „chuột tây“ này: chết vì đứt tim mạch. Quanh đi quẩn lại thì chuột nào cũng là … chuột. Đã là chuột là thuộc về loài thú yểu mạng rồi. Vì vậy khi đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi xem chán chê chỗ hồ cá rồi quay sang hỏi: – Mẹ ơi, cho con nuôi chuột nhé ? thì tôi đã có đầy một bụng những lý do để gạt đi cái ý tưởng điên rồ ấy.
Mein Vater erzählte mir, dass am Neujahrstag ein Neujahrsschreiben Pflicht ist. Ich habe nie gefragt warum. Wahrscheinlich, weil wir sonst nichts Besseres zu tun hatten.
Und es gibt immer Etwas zum Schreiben, denn man hat ja die letzten 365 oder 366 Tage überlebt, und es ist verdammt viel passiert.
Als wir uns am Neujahrstag sportlich betätigen wollten, um das Geld für den Kauf neuer Hosen zu sparen, sagte ich zu dem liebsten Ehemann auf der ganzen Welt: – Die Deutschen holen am Neujahrstag Essen von der Fritenbude, und die Vietnamesen haben Angst, den Kühlschrank aufzumachen, da sie sonst vom Lebensmitteln überschüttet werden, die sie über die Feiertage gehortet haben. Eigentlich finde ich es gar nicht so schlecht, denn auswärts essen ist nicht immer billig … Aber ich muss schon zugeben, selbst kochen kostet viel Zeit und so gesehen ist es auch nicht viel billiger, oder?
Der neue deutsche Trend heißt „Kochbox“. Die hungerigen Personen bestellen zum Selberkochen per Mausklick eine Box mit Rezepten und Zutaten, die passend zum Rezept portioniert sind. Spart Zeit – zumindest den Weg zum Supermarkt und das Warten an der Kasse. Billiger bestimmt nicht, im Durschschnitt etwa 7€ pro Mahlzeit. Wenn wir weiter philosophieren, ist es die Zeit, die immer teuerer geworden ist, nicht die Lebensmitteln.
Ich musste an Herrn Menne denken. Als ich ihn fragte, was wir zur Förderung der geistigen Entwicklung unserer liebsten Tochter auf der ganzen Welt beitragen konnten, gab uns Herr Menne – der Grundschullehrer unserer liebsten Tochter auf der ganzen Welt – den Rat, sie sollte „Momo“ lesen, eher ich sollte es ihr „vorlesen“, da sie bis dato noch nicht in der Lage war, Buchstaben zu merken, geschweige denn lesen (aus Wiki: Momo ist ein im Jahr 1973 erschienener Roman von Michael Ende. Der Titel bezeichnet die Hauptperson, der Untertitel lautet: Die seltsame Geschichte von den Zeit-Dieben und von dem Kind, das den Menschen die gestohlene Zeit zurückbrachte).
In den 70er Jahren hatte Michael Ende die Vision, dass dem Menschen die Zeit geklaut wurde und schufte Momo.
Im einundzwanzigsten Jahrhundert ist Momo mit irgendwelchen Apps beschäftigt, dass sie selbst keine Zeit mehr hat, sich um die Stundenblume zu kümmern.
Der 24-Stunden-Tag gibt es immer noch, jedoch keine kostenlose Zeit mehr. Wir müssen sie kaufen.
Eine Stunde Fett-Verbrennen kostet umgerechnet etwa 3€, im Fitness-Studio.
Eine Stunde Shoppen in Maastricht kostet etwa 3,50€, im Parkhaus.
Eine Stunde Schlaf kostet etwa 9€, im Cineplex Aachen, Loge.
Man muss aber erst 8 Stunden am Tag arbeiten, um das Geld zu haben, mit dem man die Zeit erwerben kann.
Heute ist Neujahrstag. Heute bekommt man 8 Stunden geschenkt. Wir wußten aber nicht, was wir mit der kostenlosen Zeit machen sollten, denn „was nix kostet, ist nix wert“. So entschieden wir uns für den billigsten Tarif und machten uns auf dem menschensleeren Parkplatz beim Fitness-Studio breit.
Khai bút đầu năm 2017
Ba tôi có thông lệ đầu năm khai bút. Tôi không bao giờ hỏi tại sao phải làm thế. Có thể bởi vì cũng chẳng có gì khác để làm vào cái ngày Tân Niên cả. Mà một năm với 365 hay 366 ngày vừa qua đi thì chắc chắn phải có cái để kể lể, để khai bút đầu năm mới chứ ?
Sáng mùng Một, trên đường lái xe đến câu lạc bộ thể thao với mục đích đốt mỡ bụng, tiết kiệm tiền sắm quần mới, tôi quay sang nói với „người chồng đáng yêu nhất trên đời này“: – Người Đức ngày mùng Một phải đi kiếm cái gì lót bụng ở ngoài đường, trong khi người Việt không dám mở tủ lạnh vì sợ đồ ăn mà họ tích trữ trong những ngày lễ sẽ đổ ụp vào người không kịp đỡ. Mà thật ra em thấy cũng không dở, bởi đi ăn ngoài không phải rẻ … Nhưng em phải công nhận, nấu nướng cần có thời gian, và như thế tính ra chưa chắc đã rẻ hơn nhiều anh nhỉ ?
Trend mới của Đức hiện nay là „Kochbox“, dịch tiếng Việt là „Bếp hộp“. Thân chủ „Bếp hộp“ tự nấu ăn bằng cách lên mạng, nhấp chuột click click đặt một hộp gồm công thức và nguyên liệu với số lượng phù hợp theo khẩu phần công thức, được bưu điện gởi đến vài ngày sau, tha hồ khoa tay múa chân tự nấu món mình thích mà lại tiết kiệm thời gian – ít nhất là khỏi phải cất công mò ra siêu thị đi chợ và đỡ mất thì giờ chờ đợi trả tiền tại quầy. Rẻ hơn thì không vì tính ra trung bình một bữa ăn „Bếp hộp“ tốn khoảng 7€. Nghĩ cho cùng, không phải là thực phẩm mà chính là thời gian đã ngày càng trở nên đắt đỏ.
Tự dưng tôi chợt nhớ đến thầy Menne, giáo viên chủ nhiệm của „đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi“. Khi tôi hỏi thầy là tôi có thể làm gì để góp phần thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của của „đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi“ thì thầy Menne khuyên nó nên đọc sách, bắt đầu bằng truyện „Momo“, nói đúng ra là „tôi“ đọc cho nó nghe vì lúc đó nó còn chưa nhận diện được mấy chữ cái nói chi đến đọc sách (Momo là tên cô bé nhân vật chính trong truyện của Michael Ende, xuất bản vào năm 1973. Nội dung kể về những người đi ăn trộm thời gian và Momo cùng những đứa trẻ bạn nó với đóa Hoa Giờ mầu nhiệm đã giúp người lớn lấy lại thời gian bị đánh cắp).
Vào thập niên 70 mà ông Michael Ende đã có những khái niệm giả tưởng về thời gian bị đánh cắp, rồi tạo ra nhân vật Momo.
Ở thế kỷ hai mươi mốt, Momo quá bận rộn xử dụng các Apps của điện thoại di động nên không có thời gian làm hiệp sĩ chăm sóc đóa Hoa Giờ mầu nhiệm nữa.
Một ngày với 24 giờ vẫn còn đó, nhưng thời giờ không còn là miễn phí. Ta phải mua chúng.
Một giờ Đốt-Chất-Béo tính ra có giá tương đương với khoảng 3€, mua ở câu lạc bộ thể thao.
Một giờ Đi-Mua-Sắm-Tại-Maastricht tính ra có giá tương đương với khoảng 3,50€, mua ở bãi đậu xe.
Một giờ Ngủ-Trong-Bóng-Tối tính ra có giá tương đương với khoảng 9€, mua ở rạp chiếu bóng Cineplex Aachen, hạng Loge ngồi xa màn hình.
Nhưng bạn chỉ có 8 giờ làm việc trong một ngày để có tiền mua thời gian.
Hôm nay là ngày đầu năm mới. Hôm nay bạn được cho không 8 giờ. Nhưng tôi không biết phải làm gì với thời gian „miễn phí“ này, bởi vì „của cho là của ôi“. Cuối cùng chúng tôi chọn mua „thời gian giá mạt nhất“ và trực chỉ lái đến câu lạc bộ thể thao vào sáng mùng Một năm mới.
Hằng năm, cứ vào chủ nhật của tuần lễ thứ hai trong tháng 9, nước Đức có ngày „Tag des offenen Denkmals“ (Open Monument Day). Trong ngày này mọi người có thể xem nhiều di tích mà bình thường không mở cửa cho du khách vì lý do sợ hư hại hoặc thuộc về tư nhân, cũng như có những chương trình giới thiệu di tích ít được biết đến.
Di tích thuộc về lịch sử. Lịch sử là môn học không mấy ai ưa thích vì nó khô không khốc. Nhưng tại sao lại có nhiều người hảo nhâm nhi khô bò, khô mực, khô nai, khô cá thiều ? Đơn giản vì nó cô đọng tất cả các vị ngon ngọt, cộng thêm gia vị mắm muối, lại được thưởng thức khi rảnh rỗi ngồi xem ti-vi bên cạnh một chai bia lạnh, sủi bọt trắng xóa.
Và một lần trong năm, vào chủ nhật của tuần lễ thứ hai trong tháng 9, với một chai nước khoáng sủi bọt trong suốt, tôi thưởng thức „khô Sử“, đón tuyến xe buýt „G“ – G chắc là „Geschichte“, có nghĩa là „Sử“ – khởi hành lúc 10 giờ tại bến xe ở trung tâm Aachen. Mỗi năm tuyến đường quanh thành phố Aachen và khu lận cận của 2 nước láng giềng Bỉ, Hòa Lan có thay đổi chút ít tùy theo chủ đề của năm, chẳng hạn năm nay là „Gemeinsam Denkmale erhalten“ (Cùng nhau giữ gìn di tích) nên xe chạy ngang qua những di tích liên quan đến vùng „Ngã ba biên giới“ (Dreiländereck, les trois frontières).
Ở trung học, thầy cô có dạy tôi về chiến tranh thế giới thứ nhất, nhưng không kể tôi nghe nhà ga Ronheider Bahnhof trước kia là đoạn đường sắt lưu thông chính, nối liền Paris-Brüssel-Köln, do độ dốc khá cao của khu rừng Aachen (26,5%) nên phải làm thêm hệ thống dây cáp kéo để câu đầu tàu vượt dốc. Nay không còn dấu tích gì ngoài quán ăn trang nhã mang tên Ronheider Stuben mà ta cũng có thể ngồi ngoài sân nhâm nhi ly cà phê trong một ngày nắng đẹp.
Hay Moresnet. Nhỏ nhất châu Âu. Năm 1823, Phổ (Preußen) và Hòa Lan không thỏa thuận được về tranh chấp khai thác mỏ kẽm (Zink) nên đàm phán biến Moresnet thành quốc gia trung lập (Neutral-Moresnet). Khu Ngã ba biên giới ngày nay – mà hầu như ai có bạn bè từ xa đến thăm đều phải chở lên đó chụp tấm hình kỹ nghệ „Nhất-Dương-Chỉ-Tam-Quốc-Chí“ (một chỉ tay ếm trấn ba nước, tức là để ngón tay lên đỉnh cột mốc đánh dấu nơi biên giới 3 nước Bỉ, Hòa-Lan, Đức giao nhau) – thời đó mang tên Ngã … tư biên giới (Vierländereck) và cũng là điểm cao nhất … „Vùng đất thấp“ (Pays-Bas), với 327,50 mét trên mức mặt nước biển. Năm 1914, Moresnet trung lập rơi vào tay Đức. Với hòa-ước Versailles năm 1919, sau thất bại của Đức trong chiến tranh thế giới thứ nhất, vùng đất này được trả lại vương quốc Bỉ.
Cột mốc biên giới 3 nước Bỉ, Hòa-Lan, Đức
Hoặc lâu đài Vaalsbroek, nơi có lăng mộ vợ chồng Johann Arnold Clermont. Clermont là người Đức, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc ở Aachen nổi tiếng về ngành dệt. Do theo đạo Tin-Lành, Clermont không được ưu đãi mở mang cơ ngơi gia tộc vì Aachen theo Cơ-Đốc giáo. Clermont di cư qua Vaals, thành phố nước láng giềng Hòa-Lan, mua lại tòa lâu đài cũ kỹ điêu tàn Vaalsbroek, tự thiết kế thành nơi cư ngụ, làm việc và xưởng dệt vải. Con đường đi vào trung tâm thành phố Vaals ngày nay mang tên „Von Clermontplein“ (Quảng trường Clermont).
Tượng Clermont ở Vaals
Khô sử rẻ hơn khô bò, khô mực, khô nai, khô cá thiều. Chỉ có … 2 Euro cho một chuyến đi vòng quanh Aachen và các thành phố làng giềng Bỉ, Hòa Lan. Xe du lịch nệm êm như nhung, có máy điều hòa mát mẻ, hướng dẫn viên thuyết minh liên tục 1 tiếng rưỡi đồng hồ, tài xế thiện nghệ lèo lách những con đường hẹp, ngoằn ngoèo nhưng thật thơ mộng của vương quốc Bỉ. Một trùng hợp nữa là chỉ có đồng 2 Euro mới có loại để sưu tập (2-Euro-Gedenkmünze), trên mặt có đúc hình di tích hay sự kiện lịch sử.
Đồng 2 Euro kỷ niệm 50 năm hiệp ước Rom
Trong Số-Học (Numérologie) Tây phương, số 2 tượng trưng cho mặt trăng. Người có mạng „Số Hai“ tính tình hòa đồng, thích nghi, ân cần, hợp tác. Theo Số-Học Đông phương, số 2 là số Xã hội, thể hiện đặc tính của Âm–Dương (Yin Yang) tượng trưng cho sự nhạy bén, tiến thoái phù hợp, uyển chuyển với thế giới khách quan. Người mạng „Số Hai“ có „Tương” tính: Tương cầu (tìm nhau), Tương giao (gặp nhau), Tương ứng (hợp nhau), Tương thành (giúp nhau), Tương thế (thay nhau), Tương ma (cọ nhau), Tương thôi (xô nhau chứ không phải là thôi nhau đâu ạ!).
Để biết mạng mình thuộc số mấy trong Số-Học dùng bảng dưới để đối chiếu :