Giang hồ

Lời mở đầu
Tôi có thằng bạn ngày đi cày, tối về chong đèn ngồi ghi lại những gì nó biết, nó nhớ, ôm hoài bão gìn giữ một ngôn ngữ mà nó từng học đánh vần „a bờ a ba, a sắc á mờ á má“.
Tôi rất thích đọc những gì nó viết để để cùng nhau mơ về ngày lập quốc của người Do Thái dù chẳng biết mình có „phiêu bạc giang hồ“ đến cuối đời hay không?

‘Giang hồ’ là gì?
Trong chúng ta ai cũng ít nhất một lần đọc qua truyện chưởng hay xem phim võ hiệp Hồng Kông và Đài Loan. Trong truyện hay trên màn ảnh hai từ ‘giang hồ’ cứ lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần. Đại khái chúng ta biết ‘giang hồ’ là nơi các võ phái bạch đạo và các bang hội hắc đạo thường gặp nhau, choảng nhau bể đầu sứt trán vì tranh giành một bí kíp võ công hay một món vũ khí lợi hại.
Ở ngoài đời, chúng ta thường nghe thiên hạ gọi những tên du đảng đâm thuê chém mướn, đầu trộm đuôi cướp là ‚dân giang hồ‘. Vậy thì từ đâu phát xuất ra hai từ ‚giang hồ‘?
Giang hồ theo tiếng Hán Việt có nghĩa như sau:
江 giang (bộ thuỷ): Sông lớn, sông cái.
湖 hồ (bộ thuỷ): cái hồ, vũng nước rộng lớn mà người ta có thể đi thuyền trên đó.
江湖 Giang hồ có nghĩa đen là sông hồ.
Theo Từ điển phổ thông:
1. giang hồ, sông và hồ
2. giới giang hồ, những người nay đây mai đó
Theo Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Giang hồ: sông to và ao lớn, chỉ cảnh thiên nhiên, chỉ cuộc sống ẩn dật nhàn hạ, ngao du đó đây. Thơ Nguyễn Khuyến có câu: … Dục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ
http://dir.vietnam.online.fr/home/vnHanVietdic.htm
Tình thật mà nói ‘giang hồ’ theo ngôn ngữ của Trung hoa, là bất cứ nơi nào dưới gầm trời này (Thiên hạ giang hồ, thiên = trời, hạ = dưới, thiên hạ = dưới gầm trời)
Nhưng nếu chỉ cắt nghĩa đơn giản như phía trên, thì chúng ta không nắm được cái ý nghĩa của nó về mặt lịch sử, địa dư, nhân văn và văn hóa của hai chữ ‘giang hồ’.

Xuất xứ của hai chữ ‘giang hồ’
Trung Hoa là một lục địa rộng lớn, có núi cao chớn chở xuyên tầng mây, có trùng điệp rừng xanh hoang dã, có mênh mông bát ngát thảo nguyên. Xuyên qua cảnh đẹp thiên nhiên là những con sông dài, những ao hồ lớn nhỏ kết nối hai con sông lớn nhất châu Á là Dương Tử và Hoàng Hà.
Từ ngàn xưa, người dân sống ở đại lục địa này đã xem trọng nước là nguồn sống, cho nên trong tư duy của họ sông và hồ là khái niệm đầu tiên cũng là tất yếu cho sự tăng trưởng và sinh tồn. Người Trung
Hoa cổ đại sống ở rải rác khắp nơi, nhưng thực chất vẫn là sống gần nguồn nước. Cho dù định cư ở trong sơn thôn thâm cốc, họ vẫn phải bám vào các nguồn suối và những ao hồ có suối nước ngầm. Họ phải đào giếng để lấy nước từ mạch nước ngầm mà sinh sống. ‘Giang hồ’ từ thời cổ đại ám chỉ nơi có nguồn nước, nơi có thể an cư lạc nghiệp (‘an cư lạc nghiệp tồn tại giang hồ’-muốn sinh sống an nhàn thì phải ở gần nguồn nước).

‘Giang hồ’ trong tư duy của người Trung Hoa
Trong hội họa: Đối với người Trung Hoa cổ đại cảm quan về cảnh đẹp phải có nước, cho nên tranh thủy mặc (thủy = nước, mặc = mực, dùng nước và mực đen mài ra, pha với nhau để vẽ tranh) đại đa số tranh sơn thủy (tranh cảnh núi và nước) là tranh vẽ cảnh núi non sông hồ. Nếu vẽ cảnh núi non, rừng tùng bách, bình nguyên hay sơn cốc mà không có chút xíu sông hồ thì cũng phải có ít nhất một dòng suối chảy uốn lượn đâu đó trong tranh, thiếu nước bức tranh sơn thủy sẽ không gọi là hoàn mỹ. Suối là một hình ảnh của ‘Trường Lưu Thủy’, mà ‘Trường Lưu Thủy’ lấy ‘giang hồ’, tức sông và hồ làm gốc.
Trong văn chương: Khi người Trung Hoa sáng tạo ra văn chương thi phú, sông và hồ được các thi sĩ tài nhân dùng để miêu tả một cảnh quan tú lệ, vừa nên thơ vừa tao nhã. Họ dùng hai chữ ‘giang hồ’ để làm đại biểu cho cảnh đẹp thiên nhiên trong các tác phẩm văn chương, cho dù thật sự phong cảnh mà họ muốn viết đến là núi non, sơn cốc, thảo nguyên hay một thôn xóm ven rừng.
Trong phong thủy học: Người Trung Hoa cổ đại xem trọng sự hài hòa, phối hợp của vạn vật trong vũ trụ, sự chuyển động không ngừng của các năng lượng mà hai năng lượng quan trọng nhất là sự chuyển động của không khí, gọi là gió và sự chuyển động của nước. Hai loại năng lượng này là tối cần thiết cho vạn vật sinh tồn. Và người Trung Hoa dựa vào gió và nước mà sáng tạo ra một môn khoa học cổ đại, gọi là ‘Phong Thủy Học’. Phong Thủy Học nghiên cứu sự dịch chuyển của các dòng năng lượng từ tốt biến thành xấu và ngược lại, mục đích để tránh sự ảnh hưởng không tốt của các dòng khí xấu và lợi dụng tích cực các dòng khí tốt làm lợi cho bản thân và xã hội. Họ dùng ‘Phong Thủy’ làm nền tảng cho việc xây dựng làng mạc, thành phố, không gian ở, cách trang trí, cách ăn mặc thậm chí cả trong binh pháp. Mà xây dựng làng mạc, thành phố, chỗ ở lâu dài phải dựa vào nơi có nước, tức là sông và hồ. Từ đó ‘giang hồ’ trong Phong Thủy Học được xem như khái niệm tất yếu để phát huy các năng lượng tích cực.

Hình thành giang hồ xã hội
Nước là nguồn sống của nhân loại. Khi con người bắt đầu hình thành xã hội quần cư, họ chọn nơi sinh sống gần vùng có nước như ven biển hay dọc theo sông hồ, tiện việc đi lại, chuyên chở, trồng trọt, làm ăn, buôn bán. Sông hồ nối kết những khu dân cư với nhau. Người ta kéo đến sinh sống dựa vào nhau để sinh tồn. Mỗi người làm một nghề mà trong phường thị hoặc thành thị thế nào cũng phải cần đến họ. Trà đình, tửu điếm, tiệm bán đồ gia dụng, tiệm tạp hoá, dược phòng, trường học, công quán, đền thờ, miếu mạo, chùa chiền…kế tiếp nhau mọc lên nhằm phục vụ nhu cầu của quần chúng.
Ở Trung Hoa đại lục đất đai rộng lớn với số lượng sông ngòi và hồ chi chít kết nối với nhau, các bến cảng mọc lên cùng với các thành thị, người ta kiếm sống làm đủ loại nghề liên quan đến sông nước: chài lưới, lái thuyền, khuân vác, kéo xe, đóng tàu bè, may buồm, đan lưới, bện dây thừng, đúc dây xích, chế tạo vũ khí phòng thân, săn bắt thuỷ sản và các đồ gia dụng cho những ngư phủ sinh sống trên thuyền quanh năm. Khi hình thức phường thị từ xã hội sơ khai chuyển mình lớn dần thành xã hội thành thị hay đô thị, làng chài bên sông, gọi là ‚giang phường‘, bến đò (mã đầu, thuyền phụ) với dăm ba chiếc thuyền chở khách nho nhỏ phát triển thành bến tàu, hay ‚giang khẩu‘, nơi có nhiều tàu bè cỡ lớn chuyên chở hàng hoá từ nơi này hay những nơi khác cập bến trao đổi phẩm vật. Bến tàu phát triển đòi hỏi một lượng lớn nhân công lao động. Dân nghèo bỏ xứ sở đi kiếm ăn ở xứ khác (tha phương cầu thực) thường mò về các thành thị lớn lập nghiệp. Nếu họ biết nghề gì thì làm nghề đó, biết nghề thuốc thì mở ‚dược phòng‘, biết nghề gốm thì mở ’niêm thổ phường‘ (lò nung, nung gạch ngói, bình, chén, đôn ngồi …), biết nghề sắt thì mở ‚thiết phường‘, biết võ nghệ thì mở ‚võ đường‘, biết nấu ăn thì mở ‚xan thính‘ (xan=thức ăn, thính= tiệm, xan thính là tiệm ăn), biết pha chế rượu bán thì mở ‚tửu điếm‘, biết dệt vải thì mở ‚chức viện‘ (chức = đan dệt, viện = cơ sở, chức viện = cơ sở đan dệt), biết đóng và sửa chữa tàu bè thì mở ‚chu xưởng‘ (chu = tàu thuyền, xưởng = nhà máy, chu xưởng là xưởng đóng tàu, còn có tên gọi là ‚tạo thuyền xưởng‘) …
Song song với thị dân mở cửa tiệm buôn bán có một số lớn dân nghèo cháy túi đến thành thị kiếm sống. Nhóm dân quá nghèo này không có nghề chuyên môn thì đi làm tạp dịch ở các chợ thị trấn và trên tàu (cũng có thể là họ muốn ‘tìm đường cứu nước’ không chừng!), trở thành ngư phủ đánh cá, phu khuân vác trên bến tàu, phu xe, phu kiệu … họ không có nhà cửa, ngủ bờ ngủ bụi, lang thang khắp nơi để kiếm ăn qua ngày.
Thành phần lao động này chiếm một số lượng không nhỏ trong thành thị, và được dân chúng gọi chung là ‘dân giang hồ’, ‘giới giang hồ’. Vào thời cổ đại thì dân lao động hay dân ‘giang hồ’ có tâm tính hiền lành, chất phác, khác hẳn với dân ‘giang hồ’ ngày nay. Càng về các nguyên đại sau, con người trở nên thô lỗ, tâm tính dữ dằn hiểm độc, làm đủ thứ tội ác, ý nghĩa của ‘giang hồ’ chuyển từ thiện lương hiền hòa sang tàn nhẫn độc ác.

Sự hình thành võ phái và bang hội
Bến tàu càng ngày càng đông dân lao động sinh ra những mâu thuẫn hỗn tạp giữa các đám dân này, họ thường xuyên giải quyết mâu thuẫn bằng võ lực, tức là đập lộn. Họ tụ lại thành băng nhóm bầu một vị có bản lãnh đâm chém giỏi nhất làm thủ lĩnh. Những băng nhóm lâu ngày lớn dần lên biến thành bang hội, thường thanh toán lẫn nhau do tranh đoạt quyền lợi hay địa bàn làm ăn. Các bang hội này đi thâu thuế đen các cửa hàng thương mãi, tức là tiền bảo kê.
Trong phim ‚Bố già II‘ (Godfather Part 2), Vito Corleone ám sát Don Fanucci vì không muốn nộp tiền mồ hôi nước mắt cho tay anh chị này. Sau đó Vito Corleone trở thành đại ca của khu phố rồi thành ‚Bố Già‘ của New York, lại cũng lấy tiền bảo kê như Don Fanucci ngày xưa (Ngọc Thứ Lang dịch “Godfather’ thành ‘Bố Già’, tưởng không còn cách dịch nào hay hơn). Tình hình trong các bang hội ở Trung Hoa cũng vậy, đấu đá thanh toán ngay trong nội bộ, đàn em giỏi hơn đàn anh, giết đàn anh để nắm chức thủ lĩnh. Các bang hội kết nạp nhiều thành viên hơn, rồi hà hiếp dân lành nhiều hơn.
Để đối chọi lại với các bang hội ở bến tàu, ngư phủ và dân lành cũng đoàn kết thành từng nhóm lớn nhỏ, lập bang và liên minh để tự vệ trước đe doạ của các bang hội bến tàu. Muốn có đủ thực lực để tự vệ, cha mẹ hoặc là mời võ sư về dạy cho con cái, hoặc là cho chúng đi tầm sư học đạo, mong rằng sau khi tốt nghiệp trở về gia đình bảo vệ con em trong gia tộc. Thế là ngành dạy võ phát huy với các võ sư được chân truyền các công phu thượng thừa trong tộc, hay là các võ quan cáo lão về hưu thâu nhập đồ đệ. Một số võ sinh là đệ tử tục gia của chùa Thiếu Lâm, sau khi tốt nghiệp về quê hay đi xứ khác lập nghiệp, mở võ đường, làm bảo vệ, tiêu sư hay đầu quân vào chốn quan trường.

Hình thành thuật ngữ ‘Võ Lâm Giang Hồ’
Người ta nói võ thuật Trung hoa phát xuất từ chùa Thiếu Lâm, có đúng và có sai. Võ thuật Trung Hoa phát xuất từ sự tranh đấu giữa các bộ tộc thời vua Thuần Nghiêu (dân của các vùng đất Tào, Khâu, Mân, Việt …) mỗi bộ tộc tự sáng chế ra võ thuật và vũ khí tùy theo sở trường và sở đoản của tộc dân.
Đại lục Trung Hoa qua nhiều biến đổi lịch sử, từ thời Xuân Thu (Spring and Autumn Period) trên một chục nước đánh nhau, sang thời Đông Chu Liệt Quốc (Warring States) gần trăm nước nhỏ tranh cường thôn tính lẫn nhau, sang thời Tần, Hán, Tam Quốc … võ thuật không ngừng phát triển cho mục đích chiến tranh và tự bảo vệ. Vào lúc nhà Tùy và quân lực của Lý Uyên đánh nhau, các tăng nhân của chùa Thiếu Lâm từng ra tay giúp Lý Thế Dân đoạt thiên hạ (xin xem bộ phim Đại Vận Hà, tiếng Việt đặt tên khác là Hoàng Hà Đại Phong Vân, trình chiếu trên TV Hong Kong 1986). Võ thuật trong thiên hạ nhiều vô số kể cho đến khi chùa Thiếu Lâm gạn lọc lại và phân chia ra thành 18 ban võ nghệ và 72 tuyệt kỹ công phu. Các vị võ tướng sau khi cáo lão từ quan, vào chùa Thiếu Lâm đi tu, hoặc ghé chùa vãn cảnh và đàm đạo võ thuật với các cao tăng, đồng thời truyển thụ công phu của gia tộc cho chùa, trước là dạy tăng nhân tự rèn luyện thân thể cường tráng, sau là tự bảo vệ hay giúp kẻ yếu thế. Sau đó chùa Thiếu Lâm thâu nhận võ sinh thế tục, tạo ra một dòng Thiếu Lâm tục gia đệ tử. Các võ sinh sau khi mãn khóa trở về quê nhà sử dụng tài năng công phu của mình mà giúp gia đình, kiếm sống, đầu quân, mở võ đường hay hành hiệp giang hồ cứu khốn phò nguy như được mô tả trong các truyện kiếm hiệp. Có hàng trăm tuyệt kỹ nếu chỉ khư khư truyền thừa trong gia tộc thì thực lực sẽ bị yếu, lâu dần chân truyền công phu sẽ bị mai một. Các võ sư trong tộc lúc sau vì muốn khuếch trương thực lực và truyền bá tuyệt kỹ của gia tộc, đua nhau mở võ đường. Các võ đường thâu nhận học sinh ngày càng nhiều, trở thành võ phái với những công phu đặc thù của từng gia tộc. Các thành viên trong gia tộc hay võ đường đi lại trong giang hồ, không sớm thì muộn cũng sẽ có đụng chạm hiềm khích với thành viên của các gia tộc và võ đường khác. Tranh chấp xảy ra và họ không ngừng củng cố thực lực, tạo nên cuôc chạy đua võ lực, từ đó sinh ra thuật ngữ ‘võ lâm giang hồ’. Chủ đề của các truyện võ hiệp ngày nay chỉ là võ thuật, cho nên các tác giả dùng hai chữ ‘võ lâm’ để gọi tắt cho ‘võ lâm giang hồ’.

‘Giang hồ’ mang ý nghĩa xấu
Trong một phủ huyện thời xưa bao giờ cũng có cường hào ác bá, đám này xu nịnh giới quan quyền nhưng lại tác oai tác quái dân lành. Bọn này luôn luôn có bang hội chống lưng phía sau cho nên thẳng tay hà hiếp dân chúng. Các võ phái theo tinh thần triết lý của Đạo giáo hay Phật giáo, đứng ra can thiệp thậm chí thẳng tay trừng trị đám cường hào, gây ra hiềm khích giữa các bang hội và các võ phái. Rồi đến các va chạm giữa người của các đại gia tộc với nhau, giữa thành viên của bang hội hay là những nhóm người theo các giáo phái bí mật truyền vào Trung Hoa, dẫn đến những những mối thù truyền từ đời này sang đời khác. Chúng ta thấy truyện võ hiệp hầu hết đều có những mối thù truyền kiếp, thường là 18 năm sau mới trả thù, quá là thù dai, nhưng thực tế có những mối thù dai đăng đẳng như vậy.
Trong xã hội không thiếu gì người xấu chuyên làm chuyện ác, trong đó phải kể đến những tổ chức xã hội đen, bọn sát thủ, bắc cóc đòi tiền chuộc, buôn người, buôn lậu… họ tranh đấu thanh toán lẫn nhau chỉ vì tiền và tư lợi.
Thế thì ‚giang hồ‘ lúc đầu mang ý nghĩa đẹp đẽ, thời gian dài sau đó lại mang ý nghĩa là một xã hội hỗn tạp, đầy bạo lực, phát xuất từ giới dao búa khu bến tàu. Từ khi ‚giang khẩu‘ trở thành nơi các hảo hán từ tứ xứ đến kiếm ăn và xưng hùng tranh bá, cụm từ ‚dân giang hồ‘ chính là do dân chúng Trung Hoa đặt ra để ám chỉ thành phần côn đồ sinh sống ở ‚giang khẩu‘ tức là khu bến tàu, lâu dần dân du đảng côn đồ ở khắp thành thị đều bị gọi là ‘dân giang hồ’.

‘Giang hồ’ trong văn chương và lịch sử Trung Hoa
Hai chữ ‘giang hồ’ có những ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào người dùng nó để diễn đạt ý tưởng của mình. Vào giữa thế kỷ 20, các văn hào Trung Hoa ồ ạt sáng tác truyện võ hiệp, và các truyện được các học giả Việt gốc Hoa dịch sang tiếng Việt. Bối cảnh của tất cả các bộ tiểu thuyết là ‘võ lâm giang hồ’, tức là một xã hội Trung Hoa chỉ dùng võ lực để giải quyết mâu thuẫn.
Trong các truyện võ hiệp, ‘võ lâm’ hay ‚giang hồ‘ bao gồm các võ phái thuộc bạch đạo, chính nhân quân tử, đệ tử bôn ba khắp nơi trừ gian diệt bạo, và các bang hội giáo phái thuộc hắc đạo, hành sự gian tà, các thành viên hắc đạo thường cướp bóc hà hiếp dân lành. Tuy rằng các văn hào viết truyện võ hiệp Trung Hoa như Kim Dung, Cổ Long, Lã Phi Khanh, Ngoạ Long Sinh … soạn cả mấy trăm bộ tiểu thuyết khác nhau, cho dù thêm mắm dậm muối để có những tình tiết khác nhau vẫn có những điểm tương đồng giữa các bộ tiểu thuyết: ngoại trừ giới vương quyền và quan lại, ‚giang hồ‘ bao gồm tất cả các thành phần trong xã hội như thương gia, địa chủ, giáo sĩ (tăng đạo), văn nhân, tiểu công, thứ dân và cùng đinh. Kế đó phải nói đến tranh đoạt: tranh đoạt bí kíp, vũ khí, kho tàng, tài, sắc, danh lợ i… rồi kể tới màn diệt sát kẻ thù và báo thù. Kèm theo những tình tiết tranh đoạt, phục thù rửa hận là những đại hội thi đấu tài năng ấn chứng võ nghệ để bầu ra minh chủ võ lâm. Tiểu thuyết võ hiệp phản ánh sự thật của xã hội bất cứ thời đại nào: bạo lực, chém giết, tham lam, tranh đoạt, mưu mô, hãm hại, thù hận, phản phé, tiêu diệt …
Hai chữ ‚giang hồ‘ có từ lâu lắm, truyện ‚Thuỷ Hử‘ của Thi Nại Am viết vào khoảng năm 1350 cũng đã có nhiều lần dùng hai chữ ‚giang hồ‘. ‘Giang hồ’ trong truyện Thủy Hử mang đậm tính chất một xã hội loạn lạc, cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua, đầy dẫy bất công và bạo lực.
Xưa hơn nữa, trong các thơ cổ phong và thất ngôn bát cú đời Đường (618-904 TL) có xuất hiện hai chữ ‘giang hồ’, nhưng ‘giang hồ’ trong thơ Đường mang tính chất lãng mạn, cảnh sông hồ nên thơ (của đất nước Trung Hoa), một xã hội thái bình như truyện thần tiên, thi sĩ mượn cảnh mà ai oán khoảnh khắc sinh ly tử biệt, nhìn sông hồ nhớ quê hương gia đình …
Thí dụ:
Bạc tùng tư giang đình (Đổ Phủ-Thịnh Đường)
Sa mạo tuỳ âu điểu,
Biển chu hệ thử đình.
Giang hồ thâm cánh bạch,
Tùng trúc viễn vi thanh

Dịch nghĩa:
Đầu đội mũ the đi theo chim âu,
Thuyền nhỏ buộc trước đình này.
Sông nước sâu nên sóng trắng xoá,
Tùng trúc xa xa thấy nhỏ bé và xanh xanh …

Thí dụ 2:
Tống Hình Quế Châu-tiễn ông họ Hình đi Quế Châu (Vương Duy-Thịnh Đường)
Nao xuy huyên Kinh Khẩu,
Phong ba há Động Đình.
Giả Kỳ tương xích ngạn,
Kích thái phục dương linh.
Nhật lạc giang hồ bạch,
Triều lai thiên địa thanh.
Minh châu quy Hợp Phố,
Ưng trục sứ thần tinh.

Bản dịch của Lâm Trung Phú:
Kinh Khẩu rền vang nao bạt,
Vượt phong ba xuống Động Đình.
Giả Kỳ bờ đất sẩm đỏ,
Thuyền nhỏ giục chèo tiến nhanh.
Nắng lặn sông hồ trắng xoá
Triều dâng trời đất hoá xanh.
Minh châu về lại Hợp Phố,
Sao tỏ đường quan rành rành !!

Ngược dòng lịch sử trở về thời Hán- Sở Tranh Hùng (206-202 TCN), sách sử ghi quân đội của hai bên thường tập trung ở giang khẩu (bến tàu), lên thuyền lớn sang sông vào đất địch. Giang hồ được binh pháp xem trọng như nguồn sống và khả năng vận tải đồng thời phòng vệ trong chiến tranh. Nếu đã có giang khẩu tức là có đô thị ở cạnh sông, thì dĩ nhiên phải có dân giang hồ sinh sống gần giang khẩu. Dân giang hồ, vào thời này mang ý nghĩa người sống rày đây mai đó, lưu lạc tứ xứ, dùng sức lao động của chính mình để sinh sống, chưa hẳn mang ý nghĩa xấu là dân dao búa đầu trộm đuôi cướp như bây giờ.
Trước khi đi đến kết luận của bài viết này, chúng ta cũng nên tìm hiểu thêm một chút những thuật ngữ có ít nhiều liên quan đến ‘giang hồ’.

‘Võ lâm giang hồ’
武 vũ, võ: bộ Chi = sức mạnh, bạo lực
林 lâm: bộ Mộc, có nghĩa là rừng, đồng thời có nghĩa là chốn tụ họp đông đúc.
Thế thì võ lâm nghĩa bóng của nó là chốn tụ họp những người thích dùng sức mạnh, bạo lực.
‚võ lâm giang hồ‘ tức là xã hội hỗn tạp đầy bạo lực. Trong truyện võ hiệp thời đại ngày nay, ‘võ lâm giang hồ’ được viết tắt là ‘võ lâm’.
Có lẽ sang thời Tống các bang hội võ phái và gia tộc lớn mạnh hơn, thi nhau củng cố thực lực vì ‚lý lẽ nằm trong tay kẻ mạnh‘, dân chúng gia nhập những liên minh để được bảo vệ, xã hội mang màu sắc bạo động, các băng đảng phe phái hở một tí là choảng nhau, cụm từ ‚võ Lâm giang hồ‘ ra đời từ đó.
Truyện võ hiệp của Kim Dung, viết dựa theo bối cảnh lịch sử có thật: vào thời Tống (960-1279), Quách Tỉnh ‘Kim Đao Phò Mã’ lớn lên ở Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn, Dương Khang là con nuôi của Đại Kim Hoàng Nhan Hồng Liệt, hai nước Mông Cổ và Đại Kim mưu toan thôn tính Đại Tống. Cuối đời Tống, thành Tương Dương thất thủ, Mông cổ tràn vào Trung Nguyên, lập ra nhà Nguyên, lùng bắt dân giang hồ tiêu diệt. Rồi Trương Vô Kỵ thống lĩnh Minh giáo khởi nghĩa chống nhà Nguyên, và Chu Nguyên Chương một võ tướng của Vô Kỵ lập ra nhà Đại Minh. Các truyện của Kim Dung được lồng trong bối cảnh lịch sử có thật của các triều Đại Tống, Mông Cổ, Đại Kim, Nguyên, Đại Minh và Đại Lý, các nhân vật võ lâm trong truyện của ông đánh nhau chí chóe, tuyệt kỹ võ thuật và y thuật được ông mô tả tường tận xuyên qua các võ phái và bang hội. ‘Võ lâm’ của Kim Dung qua các bộ truyện Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Thiên Long Bát bộ, và Lục Mạch Thần Kiếm là một xã hội có thật trong lịch sử Trung Hoa, cho nên được độc giả thưởng thức nhiều hơn so với các bộ truyện võ hiệp khác.

‘Giang hồ mã thượng’
Có nghĩa là cưỡi ngựa đi khắp sông hồ. Nghĩa bóng chỉ mấy tay hiệp lữ cưỡi ngựa đi lang thang khắp miền đất nước. Tình thật mà nói, các tay hiệp lữ như vầy trên thực tế hầu như không có vì từ xưa tới nay, làm chủ một con ngựa không phải dễ. Thường thì các tay hiệp sĩ ở Trung Hoa lang thang khắp nơi bằng ‘lô ca chân’ như các kiếm sĩ Samurai Nhật Bản. Nếu trên đời quả thực có những tay hảo hán cưỡi ngựa đi khắp giang hồ thì cuộc sống của họ chả khá hơn cuộc sống của kiếm sĩ cuốc bộ là bao nhiêu: bữa đói bữa no, đôi khi xui xẻo bị trộm mất con ngựa, hoặc gặp bọn hung ác giết người đoạt của thì tiêu đời. Những hảo hán nếu có sở hữu một con ngựa thường có nghề nghiệp vững vàng như bảo vệ, tiêu sư, vận lương, thám báo, săn bắt cướp (赏金猎人, Thưởng Kim Liệp Nhân). Những hảo hán này phải có nhiều bản lĩnh, thủ đoạn, võ nghệ cao cường để giữ mạng mình và giữ … ngựa.
‘Giang hồ mã thượng’ theo ngôn ngữ Trung Hoa còn dùng để ám chỉ các cậu ấm cô chiêu của các gia tộc quan lại có tiếng tăm trong nước, cưỡi tuấn mã đi vacation thường xuyên, giống như công tử con các đại gia thời nay lái Lamborghini cặp kè ‚chân dài‘ đi du hí khắp lục địa. ‚Giang hồ mã thượng‘ thực sự để ám chỉ hai loại người kể trên. Nhiều văn sĩ người Việt thường mô tả: “… hắn là một tay ‘giang hồ mã thượng’…hay ‘anh hùng mã thượng’ … ”họ dùng ‚giang hồ mã thượng‘ hay ‘anh hùng mã thượng’ để mô tả một tay anh chị có cung cách cư xử quân tử cao thượng, không đán lén, không chơi xấu, nhưng thực sự ‚giang hồ mã thượng’ không có nghĩa như vậy.

‘Giang hồ độc hành’, ‘giang hồ độc bộ’
Một mình lang thang khắp nơi (giang hồ thiên hạ), có thể cưỡi ngựa (rất hiếm) hay đi bằng … ’lô ca chân’ (99%). Ám chỉ người cô đơn không có bà con thân quyến. Tiếng Việt nôm na là đi … bụi đời.

‘Giang hồ đại đạo’
Có nghĩa là dân ăn cướp. Cướp trên cạn gọi là ‚đại đạo‘, cướp trên sông gọi là ‚thuỷ khấu‘, cướp biển gọi là ‚hải tặc‘. Cướp có luật lệ bảo vệ, trái lại được gọi là ‚đầy tớ của dân‘.
‚Lục lâm giang hồ‘, ‚lục lâm thảo khấu‘:
Lục lâm=rừng xanh. Thảo Khấu=giặc cỏ
Lục lâm thảo khấu: giặc cỏ, băng cướp ô hợp trốn trong rừng sâu, thường kéo vào thôn làng hay chận đoàn thương buôn giở trò cướp bóc.
Có sách viết chữ “lục” 陸 lục, bộ Phụ, có nghĩa là đường bộ, đường cạn, người Việt theo đó dịch ‘Lục lâm thảo khấu’ là cướp cạn (tức là cướp trên cạn, cướp giữa đường, để phân biệt với cướp biển)

‚Giang hồ tứ chiến‘
Ý chỉ dân bụi đời gan lì và lão luyện, đi đến đâu là có đánh đấm đến đó, không thắng thì thua nhưng ít nhất giữ được cái mạng.

‘Giang hồ hiệp nghĩa’, ‘giang hồ trượng nghĩa’
Là hành động cứu khốn phò nguy làm việc thiện của các đệ tử thuộc phe chính đạo (bạch đạo).
Ngũ Mai sư thái, Nghiêm Vịnh Xuân (tổ sư sáng lập Vịnh Xuân Phái và Vịnh Xuân Quyền), Hoàng Phi Hùng , Phương Thế Ngọc, Tô Khất Di, Hoắc Nguyên Giáp, Diệp Vấn … là những ví dụ cho thuật ngữ ‘giang hồ hiệp nghĩa’.

‘Giang hồ lãnh huyết’
Lãnh huyết = máu lạnh. ‘Giang hồ lãnh huyết’ ám chỉ dân dao búa giết người không gớm tay, sinh sống bằng nghề đâm thuê giết mướn, các truyện võ hiệp gọi họ là ‘sát thủ’. Những người này có võ nghệ cao cường, chuyên ẩn núp trong bóng tối hành sự bất ngờ cho nên nạn nhân không chạy thoát được.

‘Giang hồ Hắc Man’, ‘Giang Hồ Tẩu Tư’
‘Hắc man’ là xã hội đen, chuyên làm điều gian trá phi pháp như bắt cóc đòi tiền chuộc, trộm cắp phẩm vật, giết người phi tang … Lấy thí dụ: Bánh Trung Thu làm bằng nhân lạp xưởng, nhưng có loại bánh Trung Thu làm bằng nhân thịt người, gọi là “dành dục duyệt pỉnh” hay nhân nhục nguyệt bỉnh (nhân = người, nhục = thịt, Nguyệt = Trăng-Trung Thu, bỉnh = bánh, tức là bánh Trung Thu nhân thịt người) cũng như “dành dục páo” tức là bánh bao nhân thịt người trong truyện Thủy Hử – Võ Tòng Đả Hổ.
‘Tẩu tư’ là buôn lậu. Buôn người, buôn cổ vật, buôn đá quý, buôn ngựa quý, thú hiếm quý…
Triều đình chả ưa đám võ lâm giang hồ, lại càng ghét bọn ‘hắc man’ và ‘tẩu tư’ vì bọn này là bọn sống ngoài vòng luật pháp, cho nên luôn luôn phái ‘triều thám’ (FBI ngày nay) đi khắp phủ huyện lùng bắt và tiêu diệt đám này.

‘Sơn Đông Hảo Hán’
Tỉnh Sơn Đông bên Trung Hoa là một tỉnh nghèo, thời Xuân Thu là địa phận của 2 nước Tề và Lỗ. Cái nôi đạo giáo Lão-Khổng-Mạnh phát xuất từ khu vực này. Dân chúng trong tỉnh yêu chuộng võ thuật, lại thấm nhuần triết lý và giáo dục Khổng-Mạnh, từ đó phát sinh ra tinh thần thượng võ, thích hành hiệp trượng nghĩa. Vì đất đai không màu mỡ, nông nghiệp èo uột không đủ ăn cho nên dân trong tỉnh đi tứ xứ kiếm ăn. Với vốn liếng võ thuật ở quê nhà, họ hành nghề võ sư, bảo tiêu, cận vệ, đi lính, là những nghề có lương bổng hẳn hoi. Một số trở thành hiệp lữ (như hiệp sĩ Lucky Luke) hay triều thám (thám tử của triều đình, bây giờ là FBI), hoặc chuyên đi bắt ăn cướp mang về phủ huyện lãnh giải thưởng, gọi là ‘Thưởng Kim Liệp Nhân’ vừa cứu dân lành vừa có tiền xài. Những người này trở nên nổi tiếng, được dân chúng kính nể hay tán thưởng, gọi họ là ‘Sơn Đông Hảo Hán’.

‘Sơn Đông Mãi Võ’
Một số dân chúng trong tỉnh Sơn Đông kéo cả gia đình đi xứ khác kiếm ăn (tha phương cầu thực), do không có may mắn kiếm được nghề tốt, họ hành nghề biểu diễn võ thuật và bán thuốc dạo kiếm sống.
Họ đi lang thang hết huyện này đến châu phủ nọ, kiếm nơi chợ búa biểu diễn công phu xin tiền thưởng, bán các thứ thuốc gia truyền, thậm chí còn chẩn mạch bốc thuốc giúp dân nghèo. Nhóm dân Sơn Đông này kiếm rất ít thù lao nhưng họ chọn cuộc sống thanh bạch lương thiện, suốt đời đi bán dạo. Từ đó tiếng Trung hoa có thêm thuật ngữ ‘Sơn Đông Mãi Võ’.

‘Sơn Đông Hướng Mã’
Là một điệu hát của tỉnh Sơn Đông mà hay chúng ta nghe trong cải lương cùng với các bài Khổng Minh Tọa Lầu, Tẩu mã, Mẫu Tầm Tử, Khốc Hoàng Thiên, Bình Sa Lạc Nhạn… là những bài cổ nhạc được các soạn giả ưa dùng để đặt lời cho các tuồng cải lương. Tuy nhiên, ‘Sơn Đông Hướng Mã’ còn là một thuật ngữ mang ý nghĩa khác mà ít người biết tới.
Một số nhỏ dân tỉnh Sơn Đông tha phương cầu thực nhưng không gặp may mắn, kiếm không được nghề đói quá làm càn, tụ tập thành băng đảng mà đi cướp các đoàn thương buôn, các cổ xe chở khách hay phẩm vật. Chữ ‘Mã’ có nghĩa là ngựa, nhưng cũng có nghĩa là đoàn quân, đoàn xe thương buôn. ‘Hướng Mã’ có nghĩa là ‚chặn đầu đoàn xe‘. Để làm chi? để cướp vòng vàng tiền bạc, phẩm vật. Tuy nhiên các nhóm cướp có gốc Sơn Đông thường có đạo đức hơn các nhóm gốc tỉnh khác, thông thường họ chỉ đòi tiền mãi lộ, không cướp hàng hoá, không bắt đàn bà con gái mang về làm áp trại phu nhân. Các tiêu cục, thương cục tức là các công ty chuyên chở thường mướn dân giỏi võ nghệ làm nghề tiêu sư (bảo vệ xe chở hàng), hộ tống các chuyến hàng đi khắp đất nước. Các tiêu cục, thương cục này ưa chuộng mướn võ sĩ có gốc từ tỉnh Sơn Đông, gan lì, trung thành, nghĩa khí, nếu lỡ có gặp trúng đám cướp cùng quê Sơn Đông thì cũng dễ thương lượng, tránh động thủ tay chân. Tóm lại, ‘Sơn Đông Hướng Mã’ vừa là tên bài cổ nhạc vừa là thuật ngữ ám chỉ giặc cướp có gốc từ tỉnh Sơn Đông. Tuy họ làm giặc cướp nhưng vẫn giữ đạo đức Khổng–Mạnh (Khổng Tử sinh ở nước Lỗ thời Xuân Thu, nay là khu vực của tỉnh Sơn Đông). Khi triều đình cần quân chống giặc, họ bỏ nghề cướp bóc đi nhập ngũ, người ta lại tán thưởng gọi họ là ‘Sơn Đông Ái Quốc’, ‘Sơn Đông Nghĩa Sĩ’ hay ‘Sơn Đông Anh Hùng’.

‘Giang hồ tại Giang Nam’
Ám chỉ cảnh đẹp trong thiên hạ đều nằm ở Giang Nam.
Giang Nam là một vùng đất trù phú nằm ở phía Nam sông Dương Tử, xưa từng là địa bàn của ba nước Sở, Ngô và Việt, giờ là các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tây, Quý Châu và khu tự trị Quảng Tây. Dân Giang Nam nói tiếng Ngô, là ngôn ngữ lớn thứ hai ở trung Quốc sau tiếng Quan Thoại (nay gọi là tiếng Phổ Thông). Theo vài tài liệu khảo cổ, Tiếng Quảng Đông và tiếng Việt, được cho là có nguồn gốc từ tiếng Ngô, mà các bộ tộc Bách Việt nói tiếng Ngô và Mân. Và nếu đúng như vậy, dân tộc Việt xưa sinh sống ở đất Mân thời cổ đại, mà mình gọi là vùng Lĩnh Nam (vùng đất phía nam của dãy núi Ngũ Lĩnh). Từ thời Đường trở về sau vùng Lĩnh Nam được gọi là vùng Giang Nam (vùng đất phía nam của sông Dương Tử và sau cùng là bị phân chia thành các tỉnh như kể ở trên.
Các cảnh đẹp nổi tiếng ở Giang Nam kể đến cả mấy trăm, bao gồm các thành phố Trường Sa, Nam Xương, Nghi Xuân, Cửu Giang, Hạ môn, Phúc Châu, Tuyền Châu, Chương Châu, Hàng châu, Ninh Ba, Ôn Châu, Tô châu, Quảng Châu, Thượng Hải, Nam Kinh, Vô Tích, Thường Châu, Thiệu Hưng, Triều Châu, Phật Sơn… Động Đình Hồ và dãy núi Ngũ Lĩnh (người Trung Hoa gọi là Nam Lĩnh, là 5 dãy núi của vùng Mân Nam) được cho là hai trong số các thắng tích hàng đầu của Trung Quốc.
Giang Nam không chỉ nổi tiếng về cảnh đẹp mà còn nổi tiếng về món ăn ngon, văn hóa nghệ thuật (họa, thơ, ca, nhạc, kịch, thủ công nghệ …) và các thứ ăn chơi. Cho nên ‘giang hồ tại Giang Nam’ có nghĩa là những cái ‘Number One’s’ trong thiên hạ đều nằm ở Giang Nam.

‘Lang Bạc Kỳ Hồ’
Theo Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn:
狼跋其胡 lang bạt kì hồ:
Con chó sói giẫm lên cái phần da cổ của nó, lúng túng không biết làm sao. Nghĩa bóng: Sự lúng túng, khó xử, tiến thoái lưỡng nan. (Xem: Thi Kinh 詩經, Quốc phong 國風, Bân 豳, Lang bạt 狼跋). Một vài nhà văn Việt Nam khi mô tả một nhân vật đi bụi đời, đã viết như sau: “Hắn là một tay ‘lang bạt kỳ hồ’…”
Ý của tác giả muốn mô tả nhân vật là dân ‘lưu lạc giang hồ’, hay phiêu bạc giang hồ’, nhưng 2 thuật ngữ này dùng thường quá, cho nên tác giả dùng ‘lang bạt kỳ hồ’ nghe văn chương độc đáo hơn. Họ không biết rằng ‘lang bạt kỳ hồ’ không đồng nghĩa với ‘phiêu bac giang hồ’ tí nào cả. Một vài nhà văn viết là
‘…cả đời hắn lang bạt giang hồ’ hay ‘phiêu bạt giang hồ’ đều không đúng.

‘Phiêu bạc giang hồ’
Người lang thang khắp nơi không có nơi ở cố định
phiêu bạc giang hồ (không phải phiêu bạt giang hồ): bạc có chữ cuối là “c”, kh ông phải ”t”.
phiêu bạc 漂泊 trôi giạt, ngụ hết ở chỗ nọ đến chỗ kia.
Muốn mô tả một nhân vật lang thang bụi đời chỉ có viết ‘phiêu bạc giang hồ’ hay ‘lưu lạc giang hồ’ mà thôi. Còn viết ‘phiêu bạt giang hồ là không đúng. Có thể các nhà văn lẫn lộn chữ ‘bạt’ trong ‘cánh chim bạt gió’ mà viết thành ‘phiêu bạt giang hồ’ chăng?

‘Yểu dực bạt phong ba’
‘Cánh chim bạt gió’ (yểu = non yếu, dực = cánh chim, bạt = bay lượn, phong ba = bão tố), nghĩa đen là cánh chim non bay trong bão tố, nghĩa bóng mô tả những đứa trẻ mồ côi lang thang giữa chốn phong trần.
Cuối cùng để chấm dứt phần luận bàn, người viết xin tóm tắt ‘giang hồ’ có nhiều nghĩa. Nếu chỉ giải nghĩa đơn giản ‘giang hồ’ chỉ là sông và hồ thì không có bài viết này. ‘Giang hồ’ chính là ám chỉ bất cứ nơi nào trên đất nước Trung Hoa (thiên hạ giang hồ), cũng có thể nói bất cứ nơi nào trên trái đất này. ‘Giang hồ’ trong cổ văn là một cảnh đẹp, nhưng trong một số tiểu thuyết và phim ảnh lại là một xã hội bạo lực. ‘Giang hồ’ gợi lên một hình ảnh đẹp hay xấu tùy theo cách dùng từ của tác giả cũng như dùng nó ở chỗ nào trong tác phẩm của mình. Trong ngôn ngữ Hoa và Việt, ‘dân giang hồ’ dùng để ám chỉ những thành phần bất hảo trong một xã hội phức tạp, mà cái xã hội phức tạp đó, cũng thường được gọi là …’giang hồ’.

Viết xong ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Vaughan, Ontario, Canada.
Lê Anh Dũng

Singapore – Niềm tin phong thủy

Tôi thường hay viết Blog về những nơi tôi đã đi qua, một phần như người ta dán hình kỷ niệm vào quyển sưu tập ảnh, phần khác để ghi lại vài chi tiết bổ ích không có trong những bài đánh giá liên quan đến du lịch trên các trang Web như TripAdvisor, Holidaycheck v.v.

Tôi đi Singapore vì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi có nguyện vọng đến thăm lại nơi nó năm ngoái cùng vài bạn học thay mặt trường Maastricht University tham gia kỳ thi đua giữa các Đại Học Kinh Tế trên toàn thế giới, nhưng không đủ thời gian để tìm hiểu nhiều hơn về đất nước được mệnh danh là „Con sư tử châu Á“ này.
Nếu bạn hỏi cụ Gồ về Singapore – theo Phạn-Ngữ „Singha“ có nghĩa là sư tử và „Pura“ có nghĩa là thành phố – thì có muôn ngàn bài viết tán dương đất nước với lịch sử lập quốc chỉ mới hơn 50 năm, từ một thành phố nhỏ nằm trong quần đảo Mã-Lai nay trở thành cường quốc với trung tâm kinh tế mang tầm vóc quốc tế.
À, nhân đây tôi xin mạn phép kể lại một chuyện bên lề trong chuyến đi chơi này. Vốn hướng dẫn viên du lịch có khi dùng chữ „người Hoa“ để nói về nhóm sắc tộc đông dân số nhất tại Singapore (hơn 76%), rồi lúc lại gọi là „người Trung“, „người Tàu“ v.v. nên đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thắc mắc. Tôi đã được một thằng bạn „đả thông kinh mạch“ rồi nên dạy lại cho nó rằng người Tàu tự nhận mình là người „Hoa“, tức là đọc tắt của nước Hoa Hạ, theo truyền thuyết là nước phong kiến đầu tiên. Thực sự trước đó, họ là các bộ tộc sống trên đất Tào, đại tộc trưởng là vua Nghiêu, dân sống ở khu vực Tào, gọi là Tào mín (Tào dân). Phía nam của Ngũ Lĩnh, là đất Mân và đất Nam, gọi chung là vùng Mân-Nam chưa khai phá, các bộ tộc sống ở đất Mân gọi là Mần mín (Mân dân), các bộ tộc sống ở đất Nam gọi là Nàm mín (Nam dân), còn chủng là chủng Yue (Việt).
Người „ba Tàu“ đúng ra là từ chữ „bô đào dân“ (Pô Tào mín) mà ra. Vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 17, khoảng 1670, lúc đó bên Trung Hoa là triều Đại Thanh. Dân Trung Hoa không chấp nhận bị dân Mãn Châu đô hộ, mới có phong trào „Phản Thanh – Phục Minh“. Nhà Thanh đem quân đi càn quét những nhóm sĩ phu kháng chiến, nhất là các nhóm Tụ Nghĩa Đường, Thiên Địa Hội, Hắc Kỳ Quân (giặc cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc), Huỳnh Kỳ Quân (giặc cờ vàng của Hoàng Sùng Anh). Bị càn quét đuổi tận giết tuyệt, dân Tàu chống nhà Thanh và sĩ phu yêu nước phải bỏ chạy sang Lào theo ngã Vân Nam-Yun Nan, sang Việt Nam theo ngã Lai Châu, Tuyên Quang và Ải Nam Quan. Ngoài ra còn một số sang Việt Nam bằng thuyền, đến Hội An và Hải Phòng. Khi họ sang Việt Nam, không biết ý tứ của triều đình nhà Lê là thân nhà Thanh hay thân nhà Minh, cứ nói mình là „bô đào dân“, „pô tào mín“ là chắc ăn nhất. Người „ba Tàu“ từ đó mà ra.
Trở lại với „Con sư tử châu Á“.
Nói đến Singapore thì không thể không nhắc đến Lý Quang Diệu (Lee Kwan Yew), một chính khách với lòng yêu nước nồng nàn. Ông là người duy nhất trong lịch sử đã khóc khi tuyên bố quốc gia được độc lập, vì vào thời điểm đó bị tách rời khỏi liên bang Malaysia có nghĩa là Singapore phải đối mặt với nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và không có tài nguyên thiên nhiên. Là người gốc Hoa (Hạ) ông đã khôn ngoan áp dụng niềm tin vào phong thủy của dân Singapore để đưa những dự án xây dựng đất nước đến thành công vượt bực, cũng như xưa kia danh tướng Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến đánh đuổi quân nhà Tống nói rằng ông được thần ban cho bốn câu thơ:
Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm-phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đánh giặc.

Các điểm tham quan du lịch của Singapore đều mang dấu ấn phong thủy như biểu tượng Singapore là con cá có đầu sư tử (còn gọi là Merlion) phun nước vào đất liền không ngừng nghỉ nhờ hệ thống bơm hiện đại, lỡ một máy bị trục trặc thì máy kia sẽ thay thế để tránh tình trạng „tiền ngưng chạy vào túi“.Hoặc trung tâm thương mại „Suntec City“ gồm 5 cao ốc, nhìn từ trên cao trông như bàn tay trái với chiếc nhẫn vàng nằm trong lòng bàn tay là „Đài phun nước Thịnh Vượng“ (The Fountain of Wealth) làm bằng đồng với niềm tin của sự kết hợp Kim – Thủy, biểu tượng cho thắng lợi, thành công. Điều đặc biệt là thay vì phun lên cao,  nước lại được phun xuống dưới và tụ vào trong với ý nghĩa của cải sẽ tụ hội về nơi này.

Khách du lịch đến Singapore hẳn ai cũng được nghe kể về huyền thoại đồng Đô-La-May-Mắn. Tương truyền, do việc kiến thiết đường tàu điện ngầm MRT (Mass Rapid Transit) gặp rất nhiều trục trặc, thủ tướng Lý Quang Diệu đã hỏi ý một thầy phong thủy và được ông ta bấm quẻ cho biết khu vực có địa chất phức tạp gây trở ngại trong việc xây dựng chính là lưng của một con rồng lớn. Mũi khoan đụng vào là nó cựa mình nên mọi thứ đều đổ bể. Để trấn yểm rồng ngủ yên, toàn dân Singapore ra đường đều phải đeo một hình bát quái trên người. Nhưng ở Singapore khá nhiều người theo Ấn độ giáo và sẽ không đời nào chấp nhận phong tục đậm màu Phật giáo này. Sau một thời gian bàn luận với nội các, Lý Quang Diệu đã cho đúc một loại tiền xu 1 Đô-La có hình bát quái, như vậy người dân từ giàu tới nghèo ai cũng mang trong mình lá bùa yểm rồng.
Tôi được khuyên nếu đến Singapore du lịch và sở hữu một đồng xu bát quái hãy giữ nó như bảo vật vì nó sẽ mang lại may mắn cho mình.
Thật tình mà nói, tôi luôn tìm cách giải thích một cách khoa học, hợp lý những lời truyền miệng của người xưa, chẳng hạn như câu „có kiêng, có lành“ nếu giải thích theo toán học về thống kê và xác xuất (Statistik, Stochastik) thì khi tránh làm việc gì, xác xuất hậu quả xấu mà việc đó có thể gây ra đương nhiên cũng sẽ thấp hơn. Phong thủy đối với tôi không phải là sự mê tín mà là cách kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và địa lý để tạo dựng một kiến trúc vừa đẹp về thẩm mỹ, vừa có lợi cho sự sinh hoạt, phát triển của con người.

Lý Quang Diệu là một thiên tài chính trị gia với một tấm lòng yêu nước tha thiết. Ông đã dùng niềm tin phong thủy để khích lệ người dân Singapore chung tay góp sức xây dựng tân quốc gia nhỏ bé, không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước, không có khả năng quốc phòng, vươn mình trở thành một cường quốc tại Đông-Nam-Á.
Có niềm tin, con người có thể vượt qua đau khổ, bệnh tật, mất mát.
Có niềm tin, con người có thể đưa đất nước từ nghèo khó, nhược tiểu, đến giàu mạnh, hùng cường, một „Con sư tử châu Á“.
Vì vậy tôi chọn tựa đề cho bài Blog này là „Singapore – Niềm tin phong thủy“.

À quên, trong chuyến đi vừa qua tôi vô tình nhận được một đồng Đô-La Singapore mới toanh và một đồng Đô-La cũ hình bát quái.

Tôi sẽ luôn mang nó trong ví của mình, với hy vọng có ngày niềm tin phong thủy cũng sẽ đem thịnh vượng đến cho quê hương tôi.

Parla italiano ?

Mười hai năm trước, lần đầu tiên tôi đặt chân đến Venezia, thành phố nổi trên nước với „những“ kiến trúc cổ kính, „những“ căn nhà xinh xinh nằm trên „những“ con kênh uốn lượn thật là trữ tình.
Do tiết kiệm chi phí, tôi nghỉ đêm tại một nhà trọ tập thể dành cho người trẻ tuổi hay gia đình có con nhỏ (tiếng Đức gọi là Jugendherberge, tiếng anh là hostel), tối nằm giường chồng ngay ngáy lo lăn đùng xuống đất; tiền bạc, thẻ căn cước phải lận lưng sợ lỡ ngủ say kẻ lạ ăn cắp mất thì cầu bơ cầu bất ở cái đất có nhiều „những“ này.
Nhà trọ nằm trên quần đảo Giudecca, đi đò qua quảng trường San Marco chỉ mất 3 phút. Chiều chiều ngồi trên bờ con kênh Canal Grande (kênh đào chính của Venezia) bạn sẽ thấy cả Venezia thơ mộng dần chìm trong ánh nắng hoàng hôn, đẹp như tranh vẽ.
Tôi có kỷ niệm không hay lắm trong chuyến du ngoạn đó là bị cuỗm ngon ơ cái đồng hồ đeo tay trong một ngõ hẹp và ngắn chưa tới 20 mét. Tuy vậy Venezia đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, đặc sắc nhất là đi đâu cũng nghe tiếng Ý véo von lên xuống „ồ ố ô“ như vino (rượu), cappuccino (cà phê sữa), gelato (cà-rem), parla italiano (Cô biết nói tiếng Ý không)?

Mười hai năm sau, tôi lại lần nữa đặt chân đến Venezia, tá túc ở một căn buồng có nhiều phòng do con bạn tôi thuê qua Airbnb, đầy đủ tiện nghi, có cả máy lạnh nữa, khu San Polo, chỉ cách chiếc cầu một nhịp Rialto bắc ngang con kênh lớn vài phút đi bộ mà thôi.

Venezia vẫn thế !!! Vẫn „những“ kiến trúc cổ kính !!! Vẫn „những“ căn nhà xinh xinh nằm trên „những“ con kênh uốn lượn thật là trữ tình !!!

Nhưng …

Tôi không nghe véo von „ồ ố ô“ bên tai nữa.
Trong các tiệm bán hàng vắng bóng „những“ cô gái Ý nhỏ nhắn với đôi mắt to, sâu, đẹp não nùng.
Thay vào đó là „những“ chủ tiệm người Hoa tiếp khách bằng Anh ngữ lơ lớ.
Tôi ngỡ mình đang lưu lạc tại Hương Cảng, thành phố đảo ở Đông Á, còn được xem là „đặc khu hành chánh“ (Sonderverwaltungszone) của Trung Quốc.
Từ „đặc khu“ tôi mới được nghe lần đầu cách đây vài tuần, khi trên mạng rầm rộ tin tức biểu tình chống dự định biến 3 tỉnh Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc thành „đặc khu kinh tế“ của Trung Quốc.
Chả nhẽ Venezia thơ mộng của tôi đã thành „đặc khu“ rồi sao ?
– Nị hảo ?
– Parla italiano ?

Mẹ-Ên

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường – Tôi đi học, Thanh Tịnh.
Hằng năm cứ vào đầu xuân, lá ngoài đường mọc nhiều và trên không xanh biếc chẳng có đám mây nào, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của dịp lễ Mẹ Hiền – phóng tác từ câu hỏi của thằng bạn tôi „Tại sao hoa Mẫu Đơn lại nở đúng dịp lễ Mẹ Hiền ở bên Mỹ ?“.

Mẫu Đơn là tiếng Mãn Châu (Mudan), có thể do hoa xuất xứ từ Mẫu Đơn Giang, tên một thị trấn ở Mãn Châu, nơi có dòng sông Mẫu Đơn chảy qua:
Lặng nghe tiếng ai ngân bài ca Mẫu Đơn Giang
Lòng tê tái nhưng âm điệu người sao êm ái
Gió chung vui đùa với chuông treo
Thôn nhỏ bên phía sông yên bình giấc nồng an lành

Who is singing ‚Peony River‘ outside the door
I listen carefully to the sorrowful rise and fall of your voice
The windchime sways and makes a clear sound
The small village beside the river sleeps a serene afternoon nap

Từ Hán-Ngữ „mǔ“ (牡) chỉ lấy âm „Mu“ của tiếng Mãn chứ không lấy nghĩa, vì theo Hán-Ngữ 牡 là „giống đực“ hoặc „chốt cửa“ hay còn có nghĩa là „lồi lên, gồ lên, gò đống“.
Người Hán lấy âm Hán để Hán-Ngữ hóa „Mudan“ thành 牡丹, phát âm từa tựa là „mǔdān“.
Người Việt lấy âm Việt để Việt-Ngữ hóa 牡丹 sang Hán-Việt, phát âm từa tựa là „Mẫu Đơn“.
Như vậy „Mẫu“ không có nghĩa là „mẹ“, và „Mẫu Đơn“ không có nghĩa là „Mẹ một mình“, là … „Mẹ-Ên“. Nhưng thằng bạn tôi nhận xét đúng, mùa hoa Mẫu Đơn thường rơi vào tháng 5, trùng vào ngày lễ Mẹ là chủ nhật thứ nhì của tháng này.

Mẫu Đơn

Ở Đức, ngày lễ Mẹ Hiền là ngày hoa bán chạy nhất. Năm ngoái doanh thu riêng cho ngày này lên đến hơn 60 triệu. Vì chủ nhật nhân viên bưu điện bị cấm hành nghề theo Điều §9, Luật giờ làm việc (ArbZG Arbeitszeitgesetz) của Đức, nên „Hằng năm cứ vào thứ Bảy trung tuần tháng năm, lá ngoài đường mọc nhiều và trên không xanh biếc chẳng có đám mây nào“ mẹ tôi lại nghe tiếng nhấn chuông đinh-đong của ông phát thư để mở cửa ký giấy nhận chậu hoa do thằng em tôi gởi đến. Tôi có đăng hình một trong những chậu hoa của nó ở bài Mẹ 8x.

Bạn cũng có thể tặng nước hoa, xà bông thơm, hộp kẹo, nữ trang, hay đơn giản chỉ một tấm thiệp tự làm, trông ngây ngô như tác phẩm thủ công của học trò lớp Nhất. Một món quà khá đặc biệt là „BỨC-VẼ-KÝ-TÊN-HAI-NGƯỜI“ của con bạn tôi, vẽ chung với mẹ nó.Một già, một trẻ, một con thuyền
Lững lơ dòng nước, bóng mẹ nghiêng
Lua khua mái chèo miên man vỗ
Mẹ đưa con về bến bình yên

Trở lại với „Mẹ-Ên“.
Hoa Mẫu Đơn trắng có tên Hán-Việt là Bạch Thược (hoa đỏ là Xích Thược) hay còn được biết dưới tên gọi „Bạch Thược Dược“ vì rễ của nó là một dược liệu trong Đông y. Tương truyền một buổi tối Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe ngoài cửa sổ có tiếng con gái thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ một người con gái rất đẹp mặc xiêm y bằng lụa trắng đang đứng khóc, dường như có điều gì ấm ức lắm. Hoa Đà quá bước ra xem thì chỉ thấy ở chỗ cô gái đứng khóc là cây Mẫu Đơn trắng. Vài hôm sau, vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà lén ra vườn đào rễ cây Bạch Thược đem sắc uống, nửa ngày sau, bụng hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà chợt hiểu Bạch-Y cô nương chính là đóa Mẫu Đơn trắng, do không được ông chú ý đến nên hiện thân thành người con gái khóc than thân phận bị bỏ quên.
Trong tiếng Việt „Thược Dược“ là tên gọi loài hoa Dahlia – được đặt theo tên nhà thực vật học Thụy Điển Andreas Dahl – nên dễ bị nhầm vì trong Hán-Việt hoa Mẫu Đơn trắng không gọi là „Bạch Mẫu Đơn“ mà gọi là „Bạch Thược“ (白芍 Bai Sháo).

Thược Dược trắng (white dahlia)
Mẫu Đơn trắng (white peony)

Không rõ lắm tại sao qua tiếng Việt thì bị lẫn lộn tên như vậy, có lẽ do mình cũng phiên âm sang từ tiếng Hán, mà trong tiếng Hán thì có hoa Mẫu Đơn, Bạch Thược, Xích Thược và Thược Dược. Nhưng „Mẹ-Ên“ thì không nhầm lẫn vào đâu được vì trong tiếng Hán không có hoa „Mẹ-Ên“ bởi

Mẹ-Ên chỉ nở trong vườn nhà tôi

Người em sầu mộng

Theo chương trình Đại-Học Maastricht, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi phải trải qua một lục cá nguyệt tại một trường ở ngoại quốc nhằm mục đích trao đổi kiến thức, văn hóa, khẩu vị ăn uống v.v.
Nó chọn Đại-Hàn, trường Yonsei University.
Bắt đầu từ hôm được chính thức xác nhận có chỗ học lẫn chỗ ở cũng như ký kết nếu dẫn người khác phái vào ký túc xá là xách va-li ra ngủ ngoài sân ga xe điện ngầm Sinchon ngay lập tức, cho đến lúc tiễn nó lên máy bay tôi luôn miệng dặn dò:
– Con đừng đi Bắc-Hàn nghe con, lỡ ông Ủn buồn tình ổng đóng cửa biên giới là tiêu đời đấy con ạ !
Vì vậy khi thấy hình nó chụp ở khu phi võ trang của Hàn-Quốc (Korean Demilitarized Zone) tôi lo ngay ngáy chỉ sợ nó „lỡ bước sang ngang“ vượt quá mức quy định của vùng vĩ tuyến 38 thì đúng là „bỏ bu“ (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). May thay, cùng ngày hôm đó truyền hình tại khắp nơi trên thế giới tường thuật buổi gặp gỡ lịch sử giữa Kim-Chính-Ân (Kim Jong-un) và Văn-Tại-Dần (Moon Jae-in) với cảnh hai nhà lãnh đạo dung dăng dung dẻ nắm tay nhau bước qua lằn ranh biên giới.
Vậy là cả 3 chúng tôi – cha, mẹ và con – đều biết thế nào là chia đôi đất nước, thế nào là bức tường ô nhục, thế nào là vĩ tuyến 38 North. Mỗi người mang một tâm tư, một ấn tượng khác nhau về tổ quốc xé toạc làm hai.
Sau hai tháng sáng kim chi chiều bắp cải muối cay xè thì theo nhận xét của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi hiến pháp Nam-Hàn cũng từa tựa hiến pháp Đức trước 1990 – Điều 23 và Điều 146:
(Nội dung Điều 23: Hiến pháp này trước mắt có giá trị cho các tiểu bang Baden, Bayern, Bremen, Groß-Berlin, Hamburg, Hessen, Niedersachsen, Nordrhein-Westfalen, Rheinland-Pfalz, Schleswig-Holstein, Württemberg-Baden und Württemberg-Hohenzollern. Hiến pháp này có hiệu lực với những vùng khác thuộc nước Đức sau khi những vùng này được sát nhập vào).
Tức là vẫn mở cửa hậu cho một quốc gia có thể thống nhất trong dân chủ và hòa bình.

Người Đức đã xóa chia cắt đất nước và xóa Điều 23 trong hiến pháp của họ, mở trang mới cho một quốc gia hùng mạnh, tự do, dân chủ.
Người Đại-Hàn đang vun xén cho hy vọng „chung một con xuồng“ theo mô hình dựa trên hiến pháp tương tự của người Đức.

Còn tôi ? Tôi có phải ca bài „Người em sầu mộng muôn đời“ của nhạc sĩ Y Vân không nhỉ ?

Mission Impossible

Khoai lang có nguồn gốc từ châu Mỹ.
5.000 năm sau nó được bán tại nhiều siêu thị ở Đức với giá khoảng từ 1,79 € đến 2,99 € một ký-lô. Khoai lang của Aldi nhập từ Peru.
Các bạn chắc đang thắc mắc tại sao hôm nay tôi lại quảng cáo bán khoai lang ?
Số là từ hơn tháng nay, khoai lang là món ăn trưa không thể bỏ qua của tôi vì tôi đang đóng vai chính trong „Mission Impossible“ – sứ mệnh bất khả thi: Ăn-Kiêng-Theo-Tiếng-Gọi-Vòng-Eo. Tuồng cải lương này có tên Hán-Việt là „Độc“ vì chỉ mình tôi đóng và duy nhất một cảnh diễn đi diễn lại là „ăn độc một củ khoai“, không phải „ăn một củ khoai độc“ vì khoai lang rất „heo-thì“ (healthy). Theo nghiên cứu khoa học, 100gr khoai lang chỉ sản xuất khoảng 86 kcal tức là ký-lô calo (calorie), 100gr khoai tây 71 kcal và cơm trắng … 350 kcal.
Các bạn thấy đấy, nếu một ngày đẹp trời nào đó bạn muốn được thướt tha trong tà áo dài cài khuy bấm tôn vinh cái đẹp người phụ nữ Việt Nam, hay muốn cười thật tươi, thật rạng rỡ khi được chụp hình kỷ niệm mà không phải nín thở hóp bụng thì hãy nhớ những quy luật đã hoàn toàn được chứng minh bằng khoa học, toán học và hình học, tức là hình „trước và sau“ khi áp dụng các biện pháp giảm cân.

Nguyên tắc căn bản khi đóng tuồng „Độc“ rất đơn giản: ăn ít đi. Vì khi

Sợi nhìn ngày tháng qua mau,
Tóc xanh hôm trước, bạc màu hôm nay.
Tóc xưa giờ đã xa bay,
Sợi buồn ở lại, ngắn dài xót xa …

(Tóc Xưa – nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Dương Văn Thiệt)

là cái máy đốt calo của ta đã bắt đầu dặt dẹo rồi đấy !
XƯA máy đốt tả-pí-lù, không phân biệt calo này cần giữ lại để xài hay „gởi gió cho mây ngàn bay“, cứ vào bụng là ta đốt cháy sạch sành sanh.
NAY máy đốt theo-nhu-cầu, hôm nào phải đi vác gạo thì đốt vài ngàn calo, hôm nào trốn việc nằm ì thì chỉ tiêu vài trăm cho có lệ.
PHẦN CÒN LẠI ư ?

Bắc thang lên hỏi ông trời
Calo thừa mứa thì mời ai đây ?
Ông trời vỗ bụng tròn quay:
Tao còn cả đống, cho mày, lấy không ?

Ngoài nguyên tắc căn bản trên còn có phương trình phụ: tập thể thao, thể dục.
Vì nếu chỉ ăn ít đi để cơ thể bị ép buộc phải xài đến calo dự trữ thì chưa đủ bởi các bắp thịt cũng cần có calo để duy trì sự sống. Nhịn ăn đơn thuần ta sẽ nhẹ như lông hồng (hồng viết thường, không viết hoa), nhưng cơ bắp chảy xệ, da thịt u buồn ca cẩm „Hôm nay em đi trời không có nắng“ (lời nhạc trong bài „Tuổi Hồng“ của Phạm Duy, Hồng viết hoa vì đó là tên riêng cho lứa tuổi đẹp nhất đời người, lứa tuổi mà cỗ máy đốt calo hoạt động không ngưng nghỉ). Tuy nhiên cũng có nhiều động tác thể dục, tập nằm trên giường, để giãn đốt sống, cổ và vai. Những động tác này không thuộc về phương trình phụ của „Mission Impossible“.

Last but not least, nếu ai có ý định ghi tên đóng „Mission Impossible“ mà chưa đo lường được những điều kiện cần có và đủ thì vào trang này, điền những dữ kiện đòi hỏi như số tuổi, trọng lượng, chiều cao, một tuần đi vác gạo mấy lần, rồi bấm „Caculate“ thì sẽ hiện ra những chỉ số đại khái như sau:

Cũng như nếu cần đối chiếu để biết ăn 1,2 hay 3,4 củ khoai lang thì xem bảng „calo trong thực phẩm“ ở đây.
Theo như 2 bảng số trên thì – để giảm 0,5 kg trong 1 tuần – thực đơn „Độc“ hằng ngày của tôi được quy định như sau:

Điểm tâm Calo
1 ly cà phê 10
1 ly nước cam 15
1 miếng bánh mì Baguette 270
Bữa ăn trưa Calo
1 củ khoai lang 100 gr 86
1 ly trà 29
1 trái chuối 90
Bữa ăn chiều Calo
1 miếng Pizza 130 gr 290
1 lon Fanta 180
1 miếng dứa 100 gr 10
Tổng cộng 1020 kcal


Như vậy mỗi ngày tôi để dành được 1 kcal, sau 3 tháng 2 ngày được 86 kcal, tức là hôm ấy bữa trưa tôi được phép ăn … 2 củ khoai lang.

Quán triệt

Hôm nọ, khi đọc bài tường trình về chuyến đi thăm các em học sinh nghèo ở Tân Châu tôi thắc mắc hỏi „tiền lì-xì tính sao đây ?“ thì con bạn tôi trả lời:
– Tiền lì xì của TT thì tự nó bỏ ra, của mẹ tao thì mẹ tao bỏ ra, không trích từ quỹ chung đâu vì TT quán triệt điều lệ hội là phải tự mình bỏ hết chi phí, quà cáp trong chuyến đi thăm các em mình bảo trợ mà lị !
Tôi i-meo hỏi lại:
– Quán triệt nghĩa là gì?
Con bạn tôi chảnh chọe:
– Từ Hán-Việt đó chị Hai !!!
Quán: quan sát ; triệt: thông suốt một cách triệt để. Vậy „quán triệt“ là thông suốt vấn đề nào một cách triệt để. Đây là từ Hán-Việt.

À há !!!
Tôi chợt nhớ câu chuyện nhỏ về từ ngữ HánViệt của một thằng bạn trong một lần bàn luận về đề tài Hú em ai ?. Nó viết cho tôi như sau:
„Tiếng Việt mình thường dùng chữ „ưu việt“ để chỉ tài năng xuất chúng, nhưng không ai biết nó xuất xứ từ „tú Sở, ưu Việt“.
Tú, túc là đi trước, có trước, tức là nước Sở văn minh, cái gì cũng khám phá ra trước. Còn „ưu Việt“ là dân tộc Việt cái gì cũng giỏi. Bây giờ mình dùng từ „ưu tú“ hay „ưu việt“, „siêu việt“ là do thành ngữ này mà ra, tiếng Pháp hình như là avant-garde. Khi mình nói ông A „sở trường“ về vẽ, hay thi sĩ B „sở trường“ về thơ lục bát thì chữ „trường“ trong tiếng Hán-Việt hay Việt-Cổ có nghĩa là tài giỏi, chuyên về. „Sở trường“ là ví cái tài giỏi của người nước Sở, tức là mấy cụ tổ tiên của mình đó.
Có một câu thành ngữ mà bây giờ bị lãng quên, đó là „Sở quốc tài tử, Việt nam giai nhân“ (nước Sở có nhiều anh tài, phụ nữ tộc Việt ở vùng Nam có nhan sắc). Hầu như 98% phụ nữ Việt Nam có mắt mí đôi, mặt nhỏ, xương hàm nhỏ, cho nên người Tàu mà mắt mí đôi, xuơng nhỏ đều có tổ tiên là Việt tộc của các nuớc Sở, Ngô và Việt. Viện bảo tàng Ontario mượn của Tàu 4 tấm tranh tứ đại mỹ nhân (Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền) về trưng bày, trong đó Tây Thi là gái nước Việt, mắt mí đôi, vai nhỏ, xương nhỏ giống dân Việt mình bây giờ. Còn mấy bà kia, ngưòi thì mập, mắt xếch và ti hí, vai to, mông bự. Ngu Cơ là vương phi của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ, cũng là người nước Sở, tức là tộc Việt, tuy không được liệt vào tứ đại mỹ nhân nhưng nhan sắc không hề kém Tây Thi.“

Chiêu Quân
Dương Quý Phi
Điêu Thuyền

Tôi vốn sợ mình ở xứ người lâu năm sẽ dần quên cái tiếng

I tờ năm dấu ngã nghiêng
Thương em phải biết: chữ „duyên“ y gì ?

nên mỗi lần gặp chữ nào mà không rõ xuất xứ của nó, không biết i ngắn hay y dài, không biết bỏ dấu hỏi hay dấu ngã, tôi thường bắt chước một thói quen của người Đức là … tra tự điển. Việc làm này cũng giống như việc „hỏi cụ Gồ“ (ask google) ở thời đại mà mẹ tôi cũng có Facebook, có Viber, có Skype và đủ thứ những Apps lỉnh kỉnh khác, rồi thỉnh thoảng lại hỏi „Sao mẹ không gọi điện thoại được nhỉ ?“, đơn giản chỉ vì điện thoại cầm tay của mẹ tôi đã „quá tải“ do chứa đủ thứ dữ liệu của đủ thứ Apps.

Khi tôi hỏi cụ „Khai-Trí-Tiến-Đức“ thì cụ gởi tôi tấm hình này:

Vậy „quán triệt“ là trạng từ diễn tả một hành động nào đó được làm … suốt suồn suột:

I tờ năm dấu ngã nghiêng
Thương em quán triệt: chữ „duyên“ y dài.

Cháo

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh thiên lý, nấu chè hạt sen

Tôi chưa hề được ăn cháo le le có lẽ vì tôi sinh ra và lớn lên ở thành đô, làm sao có vịt trời để mà đuổi bắt, nói chi đến được ăn thịt của nó. Tôi cũng không thích ăn cháo lắm, tôi thích những món có nước lèo hơn như hủ tiếu, phở, mì quảng, bún riêu, bánh canh v.v.
Trong đời, có 2 lần tôi được ăn cháo mà tôi nhớ mãi không quên.

Lần thứ nhất lúc tôi mang bầu 6 tháng, sang thăm nhỏ bạn bên Canada. Bữa cơm ngày đầu tiên nó dọn ra cho tôi bát cháo nấu với hạt sen và … gà ác. Nó nói gà ác rất bổ cho bà bầu lẫn thai nhi. Tôi nhìn bát cháo nghẹn ngào vì lần đầu trong đời biết thịt gà ác … đen như than, đen thùi lùi, đen phát sợ. Nể bạn, tôi chỉ múc cháo ăn và lặng lẽ đẩy thịt gà ra phía thành chén. Sau vài muỗng cháo tôi đành gác muỗng thú tội với nó là mình không tài nào nuốt trôi cái món cháo với thịt gà đen như bồ hóng ấy.

Cháo gà ác (source http://mevaobep.com/mon-an/chao-ga-ac-mon-an-bo-duong-cho-gia-dinh/)

Lần thứ hai tôi sang thăm nhỏ bạn bên Pháp. Chẳng may vài ngày trước đó răng tôi bị lấy tủy không thành công nên đau nhức, không nhai gì được, chỉ … húp cháo. Nó nghe tôi kể đau răng, nấu một nồi cháo cao lương mỹ vị, có hến, có tôm và đủ thứ lỉnh kỉnh, ăn bổ đông, bổ tây, bổ … bố vì mấy ngày ở đó mình tôi ôm nồi cháo, sáng cháo, trưa cháo, chiều cháo. Lúc lên xe lửa về lại Đức nó cũng gói cháo bỏ bịch kêu „mang về bển ăn“.

Người Đức hỏi tôi cháo là món gì ? Tôi nói „Reissuppe“. Cháo gà là „Reissuppe mit Huhn“, cháo vịt là „Reissuppe mit Ente“, cháo lòng là „Reissuppe mit Blutwurst“. Từ bao nhiêu năm nay tôi cứ chắc mẩm là đúng, chẳng thắc mắc gì.
Cho đến một hôm tôi nhờ một con nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố – dịch sang tiếng anh một đoạn trong bản tường trình về chuyến đi phát học bổng tại Tây Ninh của Greenleaves (xem thông tin về chương trình này ở đây):
Ba mẹ em Trần Quốc Hào (lớp 6) chia tay, ba không chu cấp cho con, mẹ đi lấy chồng. Em và hai người em ở với ông bà ngoại. Ông bà ngoại bán cháo vịt ven đường để sinh sống. Học phí cả năm lớp 7 của em là 585.000 đồng. Em thích đọc truyện cổ tích, và mơ ước trở thành bác sĩ.

Trần Quốc Hào

Nó dịch như sau:
Trần Quốc Hào (6th grade)’s parents are divorced.This kid has received no child support from his father; then his mother left him after being remarried. Hào and his two younger siblings currently live with their grandparents who sell congee on the street. His school fee for the whole school year is 585.000 VND. Hào likes to read fairy tales and dreams to be a doctor.

Cũng lần đầu trong đời tôi được biết tiếng anh không gọi cháo là „rice soup“ mà kêu là „congee.“ Tiếng Đức dịch đúng ra là Reis-Congee, không phải Reissuppe như tôi hằng dùng.

Hôm qua gọi điện thoại cho một nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố, cũng không không phải đứa dịch dùm tôi bài tường trình – để hỏi cảm tưởng ăn cháo vịt ở nhà em Trần Quốc Hào, thì nó trả lời như sau:
Nghe cháo vịt tưởng tượng ra một một món ăn đặc biệt hấp dẫn, ai dè vừa tới nhà em Hào mùi nước mắm nấu xông lên nhức óc, nồi cháo to đùng, đường kính hơn nửa thước. Nhà thì tối tăm, xập xệ. Bước ra khỏi nhà ngồi trên xe phải chạy qua cái cống đen xì thúi nhức mũi, chưa hề thấy cảnh nghèo như vậy, tội thiệt !!!“

Không riêng gì tôi, từ „cháo“ có lẽ đã để lại ấn tượng khá sâu trong ký ức nó.

Bảo-cựu nghênh-tân

Chỉ còn vài ngày nữa là năm hết, Tết đến, nhìn đâu cũng thấy thiên hạ chuẩn bị đón mừng năm mới, “tống-cựu, nghênh-tân“, tiễn cái cũ đi, đón cái mới đến. Đám bạn mê truyện chưởng của tôi „ăn-tô-ny“ lên (từ này hay được dùng trước 1975 ở Sài-Gòn, có nghĩa là diện quần áo đẹp), áo ngắn, áo dài, chụp hình từng đôi, từng cặp, rồi tự chú thích đây là „Trương Vô Kỵ – Triệu Minh“, kia tựa „Dương Qua – Tiểu Long Nữ“, đó giống „Đoàn Dự – Vương Ngọc Yến“. Rồi tranh cãi „Qua hay Quá“, „Minh hay Mẫn“, „Yên hay Yến“ ?

Tôi vốn mê truyện chưởng của Kim-Dung từ thời xa xửa xa xưa, đọc quên ăn quên ngủ, quên cả học bài. Trong trí óc non trẻ của tôi ngày ấy, thế giới kiếm hiệp với những nhân vật võ công cao cường, phi thân vèo vèo, thi triển kiếm pháp trong rừng trúc thật là diệu kỳ mê hoặc.
Trước 1975, Hàn-Giang-Nhạn hầu như là người dịch truyện võ hiệp nhiều nhất và hay nhất vì ông thông thạo cả chữ Hán lẫn quốc ngữ. Các nhân vật trong truyện dịch của ông mang những tên Hán-Việt đặc sắc, không chỉ vương vấn chút khẩu âm Trung-Hoa mà còn được chuyển nghĩa sang tiếng Việt thật tài tình. Chẳng hạn như Vương-Ngọc-Yến, nhiều bản dịch sau này gọi cô là Vương-Ngữ-Yên 王語嫣 (Wángyǔyān). Thật ra „Ngữ-Yên“ hay „Ngọc-Yến“ nếu xét về tên thì dịch sao cũng được, như “Debbie” đến lúc ăn mắm ruốc thành Diệp, Điệp, Đẹp gì cũng ô-kê-tuýt-suỵt tất.
Còn nếu xét về nghĩa thì Ngữ (語) là từ, là nói, Yến (嫣) là đẹp (trong chữ „Yến“ có chữ „Nữ“ là người đàn bà), Hàn-Giang-Nhạn đã cố gắng dịch từ tên tiếng Hán ra tên tiếng Việt „Vương-Ngọc-Yến“ với khẩu âm na ná mà vẫn đủ súc tích để miêu tả người con gái thông minh, xinh đẹp, ăn nói thanh lịch, dịu dàng nhất trong Thiên long bát bộ.
Hay trong bộ võ hiệp kỳ tình Trung-Hoa „Tiếu ngạo giang hồ“ được Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật từ Minh báo của Hồng-Kông. Ở phiên bản này, giáo phái do Đông-Phương Bất-Bại tiếm quyền giáo chủ mang tên „Triêu-Dương Thần Giáo“ (朝陽神教). Triêu dương có nghĩa là „mặt trời vào
buổi sáng sớm“. Từ sáng sớm đến lúc ăn sáng xong gọi là „chung triêu“ (終朝), một ngày gọi là „nhất triêu“ (一朝), „nhất triêu nhất tịch“ là „một sớm một chiều“, nghĩa bóng ám chỉ khoản thời gian ngắn ngủi.
Có giả thuyết cho là truyện chưởng Kim-Dung phản ảnh thời kỳ cách mạng văn hóa của Mao-Trạch-Đông với quyển „Hồng bảo thư“ là một thứ „Quỳ Hoa Bảo Điển“, bí kíp ai cũng muốn có được để trở thành cao thủ võ lâm. Ma giáo trong phiên bản đầu của bộ truyện này còn được gọi là „Triêu Dương Thần Giáo“, ám chỉ đảng cộng sản Trung-Hoa bởi quốc thiều của họ mang tên „Đông-Phương-Hồng“, ý nói hùng mạnh như ánh sáng ban mai lên từ phía đông. Giáo chủ Triêu-Dương Thần Giáo
Đông-Phương Bất-Bại không thuộc chính giáo vì dám „tự cung“ (tự thiến) để luyện được võ công thượng thừa với ý đồ làm bá chủ võ lâm. Nên hiểu rằng đối với người Trung-Hoa, con trai mà tuyệt tự là mắc tội to nhất đối với dòng họ tổ tiên, vì vậy hành động „tự cung“ biểu hiện một việc làm vô cùng thất đức, đi ngược lại với luân thường đạo lý con người, như một so sánh với hành vi bạo tàn của cách mạng văn hóa, thời kỳ lịch sử đen tối đầy thống khổ của người dân Trung-Quốc.

Đông-Phương Bất-Bại

Tiếu ngạo giang hồ ra đời khoảng thập niên 60, lúc đầu bị cấm, sau Kim-Dung thay một số từ ngữ, chi tiết, nên được cho phép lưu hành trở lại, trong đó có đổi „Triêu-Dương“ thành „Nhật Nguyệt“. Thật ra tiếng Hán là ghép bộ thành từ, trong chữ „Triêu“ 朝 thì bên trái là hình tượng (pictograph) mặt trời mọc, nhìn từ phía trước của một thân cây, bên phải là hình tượng trăng khuyết (moon-shaped), ghép lại ý nói thời gian mà mặt trăng lặn, mặt trời mọc, tức là lúc bình minh.
„Nhật Nguyệt Thần Giáo“, suy cho cùng, nếu cho là ám chỉ Minh giáo 明教 thì cũng không hoàn toàn đúng (Kim-Dung không hề đề cập đến liên quan này khi đổi tên giáo phái Triêu-Dương), vì trong chữ „minh“ (明) thì mặt trời là „nhật“ (bên trái) nhỏ hơn „nguyệt“ là mặt trăng bên phải. Chữ „minh“ 明 có nghĩa là „sáng“ như „phát minh“, như „minh tinh“, chứ bản thân mặt trời là đã là một tinh cầu chói lọi nhất trong vũ trụ rồi, đâu cần phải dùng một hình tượng khác để diễn tả sự tỏa sáng siêu cường nữa.
Có lẽ Kim-Dung đã bỏ phần chiết tự bên phải của chữ „Triêu“ nên chỉ còn chữ „Nguyệt“ đứng lẻ loi một mình, rồi thêm chữ „Nhật“ thành „Nhật Nguyệt Thần Giáo“, trở về với nguồn gốc Ma giáo „Mâu-Ni“, một tôn giáo cổ xuất xứ từ Ba-Tư (Iran), do Mani sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ 3, truyền bá tư tưởng „Nhị tông, tam tế“. „Nhị tông“ là hai thái cực sáng và tối (nhật, nguyệt), thiện và ác. „Tam tế” là sơ tế, trung tế và hậu tế, tương ứng với quá khứ, hiện tại và tương lai.

Tiếu ngạo giang hồ, Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật

Tôi vốn là người tương đối „cởi mở“, một phần do nghề nghiệp đòi hỏi lúc nào cũng phải trong tư thế „tống-cựu nghênh-tân“, chưa kịp quen với hệ điều hành (operation system) mới đã phải thông thạo hệ … mới hơn.
Nhưng …
Tôi xin trích „Lời nhắn nhủ“ của thầy Lynch, ông thầy dạy Anh văn của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi gởi đến học trò trong ngày lễ tốt nghiệp:

Ai khi đọc thơ cũng phải suy nghĩ. Mỗi thời kỳ đều có thời trang riêng của nó, có những kiến thức „bất di bất dịch“ của nó, và để hiểu được những điều này chúng ta cần có một khoảng cách với nó. Thầy cho các em một thí dụ điển hình như vầy nhé: Trong cuộc sống nghề nhiệp sau này của các em, các em sẽ thường gặp những chữ „nghe rất kêu“ như „có năng lực“, „sự đánh giá“, „tối ưu hoá“ hay „ban quản lý“. Những từ ngữ này lại rất ít thấy xuất hiện trong làng thơ – Và đến một trăm năm sau, khi mà những từ ngữ ấy đã tìm được đúng chỗ đứng của nó trong sọt rác của lịch sử thì những từ ngữ đơn giản của Homer, Horaz, Shakespeare hay của Brecht sẽ mãi mãi vẫn được những người muốn hiểu về thế giới và lịch sử loài người tiếp tục đọc.
Chúng ta không thể thu thập hay để dành một bài thơ cũng như tất cả những gì có giá trị trong cuộc đời này. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ nó và chia sẻ nó với người khác. Đặc biệt là: Nếu ai đọc một bài thơ họ sẽ tự tìm cho mình được thời gian, tìm được yên tĩnh trong tâm hồn và thoát được sức ép của cuộc sống ngày càng xoay cuốn họ đi – Có thể nói là họ đã làm được một cuộc cách mạng.
Các em không nhất thiết lúc nào cũng phải đọc thơ cả – Nhưng các em hãy ráng dành thì giờ cho chính mình, hãy biết suy nghĩ, và hưởng thụ cuộc sống !

Lưu-Diệc-Phi, nữ minh tinh thủ vai cổ trang Vương-Ngọc-Yến

Năm hết, Tết đến, tôi xin chúc độc giả mê cũng như không mê Kim-Dung một năm mới

Khí công vô biên
Võ thuật thiên biến
Phương tư Ngọc-Yến[1]
Giai lão bách niên.

[1] dáng dấp xinh đẹp như Vương-Ngọc-Yến

Mận, Xoài, Cóc, Ổi

Năm 2014, trong bài Lạm bàn về ý nghĩa lời bài „Sarborough Fair” và “Scarborough Fair/Canticle“ thằng bạn tôi phân tích tận tường ý nghĩa của bài cổ ca này.
Năm 2016, nó lại lần nữa nhắc đến bài này khi nói về phiên bản „Giàn thiên lý đã xa“ của Phạm Duy.
Năm nay, 2018, một độc giả đi lang thang lại gặp bài nó viết năm 2014 và hỏi ý kiến nó nghĩ sao về phiên bản của Nox Arcana.
Đã trót thì phải trét. Tôi mạn phép đăng tiếp lời bình của nó về bài cổ ca bất hủ này.

***

Có rất nhiều phiên bản Scarborough Fair, và cũng có nhiều bài mang tên hơi khác 1 chút như Southhampton Fair, Nottingham Fair … nhưng tất cả các bài đều có 1 điểm giống nhau, là điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme, ngay cả phiên bản của Paul Simon & Garfunkel scarborough Fair-Canticle cũng không dám bỏ điệp ngữ này. Tại sao ?

1/ Tất cả các bài đều giống nhau ở chỗ nhắn nhủ người bạn chiến binh trở về quê hương, còn mình thì ở lại chiến trường (tử trận). Bốn thứ thực vật này là biểu tượng của quê hương của họ. hình ảnh 4 thứ cây cỏ này chính là hình ảnh quê hương trong trí nhớ của người lính tử trận.

2/ Bốn thứ cây này như giống đã viết trong bài Scarborough Fair thứ nhất, là 4 thứ thực vật gắn liền với đời sống, văn hóa, và tín ngưỡng tâm linh của dân Anh cổ xưa, tức là Britons (England, Ireland, Scotland, Wales, Britany), từ lúc sinh ra cho đến lúc vĩnh biệt cõi đời, dùng làm thực phẩm, gia vị, làm thuốc, làm bùa ngãi, bùa hộ thân, trang điểm trên đầu trong các lễ quan trọng như Rước Lễ Lần Đầu (First Communion), Lễ Thêm Sức (Confirmation), Lễ Hỏi (Engagement), Lễ Cưới (Wedding) Lễ tẩy uế nhà cửa (Cleansing) và ướp theo xác chết để linh hồn được sự thánh thiện che chở (Funeral). Nói vắn tắt 4 thứ cây cỏ này đi theo họ suốt cuộc đời.3/ Bốn thứ cây này có nguồn gốc từ Ý (parsley), Địa Trung Hải (sage), Iberia, Trung Á (rosemary) và Cổ Ai Cập-Hy Lạp (thyme). Bốn thứ này còn được coi là linh thảo (sacred herb) đối với tín ngưỡng Egypt, Romans và Greek. Từ những nơi khác nhau nhưng đều được trồng ở quê hương mới, quê hương của dân Britons. Mà dân Britons thì cũng có gốc gác khác nhau di dân đến, như Anglo-Saxon đến từ Đức, Scandinavian đến từ Na Uy, Afros- Romans đến từ dân Roman da đen , Sub-Saharan African (dân Trung Phi) họ đến khu đảo quốc này từ sau công nguyên khoảng 200-300 năm. Bốn thứ cây này ám chỉ sự khác biệt chủng tộc nhưng đều là đồng loại, tại sao lại gây chiến tranh với nhau ?

4/ Scarborough Fair là một lễ hội thanh bình, một phiên chợ quốc gia nơi người ta tụ về trao đổi hàng hóa, vui chơi, gặp gỡ và hẹn hò. Trong bài hát ngoài 4 thứ hương thảo được bày bán trong lễ hội, còn có hình ảnh quê mùa mộc mạc như cái giếng, áo Cambric, bụi gai, lưỡi liềm hái, hạt tiêu, bờ tường, mảnh đất canh tác, bãi cát, đại dương, những hình ảnh nói lên một cuộc sống đơn giản, thanh bình mà người dân quê cũng chỉ ước mơ có ngần ấy. Cái sâu sắc độc đáo của bài này là nói về chiến tranh nhưng không hề nhắc tới súng đạn hay cảnh đổ máu, mà chỉ ẩn dụ mơ ước thanh bình qua các hình ảnh bình dị trong cuộc sống hằng ngày của họ.

5/ Ở Scarborough Fair, người ta thấy bài cổ ca, hay nói đúng hơn, thiên tình ca thời loạn, chuyện tình của một đôi trai gái có kết thúc buồn nhẹ nhàng, lời bài hát ẩn dụ kín đáo, trong khi ở Scarbough Fair-Canticle của Paul Simon-Garfunkel, hình ảnh chiến tranh giữa các xứ được mô tả khốc liệt và bi tráng hơn. Hai ông không thể dẹp bỏ lời bài gốc củng với 4 thứ hương thảo, vì chúng chính là quê hương của hai ông.
Và rồi để chấm dứt bài hát, hai ông thêm vào hoa heather (thạch thảo) hoa thanh bình cũng là hoa vĩnh biệt trên mộ người lính.

Lương Châu Từ, bài thơ của Vương Hàn cũng là một tuyệt tác văn chương về chiến tranh, nhưng nếu đem so sánh với Scarborough-Canticle của Simon and Garfunkel, bài Scarborough Fair-Canticle hay hơn gấp bội.

Tóm lại, một bài Scarborough Fair mà không hề nhắc tới 4 thứ cây cỏ này thì không thể nào gọi nó là bài Scarborough Fair. Nhiều người đặt lời khác trên nền nhạc bài cổ ca này, nhưng họ không nắm vững vấn đề then chốt ở 4 cây hương thảo.
Thiếu điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme thì bài hát đâu còn giá trị gì nữa. Sau khi cắt nghĩa bài Scarborough Fair từng lời từng chữ mang ý nghĩa sâu sắc như thế nào, Canticle mang ý nghĩa như thế nào, sẽ thấy trên thế giới chẳng có bài nào sánh ngang bằng bài Scarborough Fair-Canticle.
Lê Anh Dũng – Tháng Hai 2018

***

Nếu ai có hỏi 4 thứ thực vật đi theo suốt cuộc đời, mang hình ảnh quê hương trong trí nhớ của tôi là gì, thì tôi xin trả lời: Mận, Xoài, Cóc, Ổi.