Tiffany

Tiffany không phải là thương hiệu trang sức nổi tiếng thế giới Tiffany & Co. với trụ sở chính ở New York. Tiffany là bạn của tôi từ thời tiểu học. Chúng tôi lạc mất nhau từ năm 1975 khi còn đang học lớp sáu. Tiffany di tản sang Mỹ. Tôi kẹt lại ở Việt Nam, một thời gian sau mới vượt biên thoát, được tàu Đức vớt và định cư tại Đức.

Thế kỷ 21.
Thời đại của Internet, Facebook, Twitter, mạng xã hội, v.v.
E-mail đã lỗi thời. E-mail không còn thông dụng, không trò chuyện, chít chát gì được nên chúng bạn âm thầm bỏ tôi ra đi không lời từ giã. Tôi đành chặc lưỡi mở một account ở Facebook vì bạn bè của tôi chỉ liên lạc với nhau qua Facebook,  dù lúc bấy giờ nó hoàn toàn lạ lẫm đối với tôi. Và tôi đã tìm được Tiffany trên … Facebook. Một trùng hợp vô tình là Tiffany cũng sống ở New York giống như Tiffany & Co. Chúng tôi vui mừng vô hạn khi liên lạc được trở lại. Tôi vượt đại dương sang thăm Tiffany ở Brooklyn.
Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi cũng trạc tuổi Bethy. Chúng nó lập tức thân nhau ngay từ buổi đầu tiên gặp gỡ. Chồng tôi thì trao đổi với chồng Tifffany về nội dung thời báo New York Times mà anh ta đọc mỗi buổi sáng vào bữa điểm tâm. Còn tôi và Tiffany ra rả đủ chuyện như thể chúng tôi chưa bao giờ xa cách.
Tiffany có một trang web: www.tiffanyrothman.com. Người thiết lập trang web này chẳng biết trôi giạt phương nào, Tiffany chỉ còn nhớ tên của anh ta mà thôi.
Tất cả những gì tôi biết về Tiffany là thỉnh thoảng Tiffany nhận lời trình diễn trong các vở kịch hoặc xuất hiện trên phim ảnh.
Tất cả những gì Tiffany biết về tôi là tôi làm việc với máy tính, tức là tôi giống cái anh chàng thiết lập trang web chẳng biết trôi giạt phương nào vừa kể đến ở đoạn trên.
Tiffany hoàn toàn không biết tôi thậm chí chẳng hề biết viết lập trình (programming), dù nghề chuyên môn của tôi thuộc về ngành vi tính.
Nhưng tôi không thể để bạn mình thất vọng.
Tôi thức đêm „vật lộn“ với HTML theo kiểu „trial and error“, tức là thử đại, sai thì ta lại … thử tiếp, again and again. Tôi chiến đấu với youtube, đánh nhau với URL (Uniform Resource Locator, thường là một hàng dài thòng lòng với nhiều từ vô nghĩa ráp lại với nhau), truy kiếm phần mềm miễn phí để tu sửa, ấp-lốt (upload), đào-lốt (download) hình ảnh … vân vân và … vất vả, vật vờ.
Tôi vò đầu bứt tai vì bí lối.
Tôi làu bàu chửi rủa vì trật đường.
Tôi gào thét điên cuồng vì tuyệt vọng.
Rồi tôi vỗ đùi cười khoái chí khi trang web được sửa đổi, thêm bớt, đúng như ý Tiffany tưởng tượng (chú thích: tôi dùng chữ „tưởng tượng“ vì thế giới vi tính của Tiffany khác hẳn thế giới vi tính của tôi). Niềm vui phải gọi là „vi-mô“ (dịch từ chữ micro) nếu đem so sánh so với những đêm mất ngủ để đi tìm giải đáp cho những vấn đề của trang web.
E-Mail trả lời đôi khi cũng vi-mô không kém: „Thanks XXO“.
Nhưng tôi biết ở bên kia địa cầu Tiffany hài lòng, Tiffany ngủ ngon. Chỉ cần thế thôi. Vì Tiffany là bạn của tôi. Và bạn sẵn sàng làm tất cả để Tiffany hài lòng, để Tiffany ngủ ngon bởi duy nhất một lý do đơn giản: Bạn bè là liều thuốc an thần tự nhiên không pha tí hóa chất nào.

Chẳng những vậy, theo thời gian tôi còn học thêm được một ngôn ngữ mới: HTML1)

1) viết tắt của HyperText Markup Language, là một ngôn ngữ kỹ thuật được dùng để lập trang web.

Language is the dress of thought

Trong bài Blog với đề tài là quyển sách „Tìm hiểu tiếng Việt, chữ Việt của chúng ta“ của cậu Tiền Vĩnh Lạc (tôi gọi ông là cậu vì ông là cậu của thằng bạn của tôi, thấy sang bắt quàng làm họ mà) có đoạn:
Trong ca khúc „Tình Đất Đỏ Miền Đông“ của Trần Long Ẩn có câu: „Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi …“ Tổ quốc đâu phải là „người“?
Tôi bút đàm (tức là i-meo ì xèo) với nó kể rằng đọc đến đoạn này của sách thì tôi phì cười, thế là nhận được một i-meo trả lời mà tôi mạn phép đăng lên đây để „thanh minh thanh nga“ (người miền Nam hay dùng từ này ý nói phân trần, giải thích) rằng tôi chỉ bật cười vì cái ý khôi hài của cậu Tiền Vĩnh Lạc trong đoạn văn đó mà thôi!

„My homeland YOU are in my heart always“, câu này có từ thời vệ binh quốc gia Hoa Kỳ phôi thai 1636, tiếng Việt có nghĩa là „Tổ quốc ơi tôi yêu NGƯỜI mãi mãi“, sau này năm 1824 slogan đổi lại  „Always ready always there“, sẵn sàng ở mọi nơi bất cứ tình huống, nghe mạnh mẽ hơn và có tính quyết định hơn.
„Quốc gia QUÂN, mỗ thệ trung thành“, có từ thời Xuân Thu, QUÂN là YOU, đại danh từ ngôi thứ hai, tổ quốc ơi tôi thề trung thành với „NGÀI“.
YOU, QUÂN, NGƯỜI, NGÀI … là mình nhân cách hóa nghe cho nó văn chương một chút. Từ ngàn xưa, trong văn chương người ta đã nhân cách hóa ánh trăng, con sông, hoa mẫu đơn là bằng hữu, tri kỷ, mỹ nhân … là một loại bất quy tắc trong văn phạm.
Người miền Bắc bắt chước cách hành văn của người Tàu dưới đời nhà Thanh cho nên cách sắp xếp từ đôi khi trật búa một chút. Triều đình Thanh, nguyên thủy là dân Mãn Châu mọi rợ, nghèo khổ ở khu vực Hắc Long Giang Đông bắc nước Tàu. Dân Mãn châu không có thơ phú gì cả, ngôn ngữ cả nước Manchurian lúc đó chỉ có khoảng 5000-6000 chữ, so với ngôn ngữ toàn nước Tàu thời đó là Quảng Đông (Cantonese) và Cổ Việt (Middle time Yueh) là 70.000-75.000 chữ. Người Tàu gọi ngôn ngữ Mãn châu Manchurian là tiếng Quan Thoại (官話 (guānhuà),  „Quan“ nghĩa là bên kia biên giới (quan ải), Thoại nghĩa là tiếng nói (đối thoại, điện thoại), Quan Thoại có nghĩa là tiếng nói bên kia biên giới của Đại Tống, Đại Minh. Khi người Mãn châu đánh chiếm nước Trung Hoa lập ra nhà Thanh – tức là thằng dốt nghèo đè đầu đè cổ thằng khôn giàu giống như Việt Nam bây giờ – bắt dân Tàu phải nói tiếng Mãn Châu, ú ớ trọ trẹ mà người Tàu thời nay vẫn chế diễu là clumsy chinese (tiếng Tàu ngọng). Nhưng tiếng Mãn châu cuối cùng không đủ chữ để diễn tả, cho nên lấy tiếng Quảng Đông phiên dịch ra tiếng Mãn Châu mới, biến âm trọ trẹ một chút cho nó giống tiếng ngọng của thằng ngu và đổi thành tiếng Mandarin như ngày nay. Tuy nhiên các tỉnh miền Nam (vùng Giang Nam- phía Nam sông Dương Tử) trù phú giàu có như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang (đọc lại bài Giang Hồ) vẫn còn dùng tiếng Quảng Đông. Sở dĩ âm tiếng Việt (Yueh) và tiếng Quảng Đông (Cantonese) giống nhau tới 80-90% trong nhiều chữ vì từ một gốc tiếng Trung, hay Middle, mà ra. Middle Chinese language có từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên. tức là thời Xuân Thu (Spring and Autumn Period), thời của ba nước Sở-Ngô-Việt, cũng chính là thời của các tộc cổ Việt sống ở vùng Giang Nam-Ngũ Lĩnh. Người Việt mình, nhất là các học giả về sử học, không bao giờ chịu vô các viện bảo tàng thế giới để truy ra xem nguồn gốc dân tộc Việt, tổ tiên của dân Việt ở đâu ra, cứ khư khư ôm lấy cái huyền sử con rồng cháu tiên cho đó là chính sử, bô bô phủ nhận Sở-Ngô-Việt hổng phải tổ tiên người Việt. Một số học giả quá khích kêu gọi bỏ tiếng Hán-Việt, chỉ xài tiếng „Việt“, mà nếu chỉ xài tiếng „Việt“, có dưới 1000 từ, làm sao trao đổi ý tưởng?
Khi nhà nước Trung Hoa Dân Quốc trưng cầu dân ý nên thống nhất ngôn ngữ cả nước là tiếng Quảng hay tiếng Phổ Thông (tên gọi mới của tiếng Quan Thoại), tiếng Phổ Thông chỉ hơn 1 lá phiếu cho nên được chọn là tiếng thống nhất của quốc gia Trung Hoa Dân Quốc. Dân Tàu chọn dễ bỏ khó, vì đã lỡ nói tiếng Mandarin suốt 3 thế kỷ, học lại tiếng Quảng rất là trần ai lao khổ cho nên chọn tiếng Mandarin. Trước đó, vào lúc nhà Thanh thống nhất đất nước, người Tàu nói tiếng Quảng vì không chấp nhận thằng ngu đi thống trị mình, nhiều người bỏ nước ra đi ồ ạt sang Lào, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam thành một làn sóng „bô đào dân“ (bô zhào mín) hay còn gọi là người Minh Hương (người Tàu quê quán là nhà Minh), vì thế dân Tàu ở Việt Nam và các nước lân cận vẫn nói tiếng Quảng.
Khi người Tàu tràn sang Việt Nam, nhận thấy vua Lê chúa Trịnh (đàng Ngoài) thần phục nhà Thanh, họ lại bỏ miền Bắc đi vào miền Trung (Đàng Trong) làm thần dân của chúa Nguyễn, lúc đó là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Người Tàu sống ở miền Bắc từ thời Lý -Trần, có thể gọi là người Việt gốc Hoa, cũng chả ưa chúa Trịnh vua Lê quỵ lụy nhà Thanh, lần lượt di cư vô Đàng Trong. Họ tuy rằng là người Hoa nhưng có tinh thần yêu nước hơn một số người Việt bây giờ. Chúa Sãi gã công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (em gái của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) cho vua Chân Lạp để đổi lấy nguyên một vùng đất rộng lớn vẫn còn hoang dã phía Nam Thuận Hóa, hình như kéo dài đến Gò Công, sau đó chừng 1/2 thế kỷ khu vực khai khẩn kéo dài tới Hà Tiên. Chúa Sãi hỏi ai muốn vô Nam khai khẩn chúa sẽ giúp, dân Tàu nói tiếng Quảng và Tiều (Phúc Kiến -Triều Châu) ồ ạt xung phong đi khai khẩn đất hoang, mấy trăm năm sau các tỉnh miền Nam như Rạch giá, Cần Thơ, Bạc Liêu, Hà Tiên toàn người Việt gốc Hoa.
Miền Bắc chịu ảnh hưởng ngôn ngữ của tiếng clumsy chinese, cái hay không học lại đi học theo cái dở cho nên cách hành văn đặt câu bắt đầu trật đường rầy.
Miền Nam do vẫn duy trì song song tiếng Việt và tiếng Quảng, cho nên ngữ vựng, nhất là cách xưng hô trong gia tộc, vẫn phổ cập và chính xác hơn miền Bắc. Miền Nam có Bác, Chú, Cô, Cậu, Dì, Dượng, Mợ, Thím để phân biệt vai vế bên nội, ngoại và dâu rể, miền Bắc chỉ có Bác, Cô, Chú, xài chung cho nội ngoại và dâu rể.
Các giáo sĩ Latin người Ý và Bồ đào Nha sang Đàng Trong để đi truyền giáo vào khoảng năm 1600-1625, trong đó có giáo sĩ Francesco de Pina (portuguese) bỏ công phiên âm tiếng An Nam từ chữ Nôm sang mẫu tự Latin, chữ quốc ngữ ra đời từ đó. Đến thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes, ông dùng lại gia sản chữ quốc ngữ phôi thai của giáo sĩ Francesco de Pina, bổ sung thêm, hệ thống hóa và hoàn thành bộ chữ Việt Ngữ alphabetic. Từ 75.000 bộ chữ Nôm đồ sộ xuống còn 20.000 và bây giờ dưới 10.000 chữ alphabetic mà vẫn diễn tả được tất cả mọi thứ nhờ hệ thống văn phạm chữ đơn. Từ đầu thế kỷ 20, khi văn phạm tiếng Việt ở trong Nam không ngừng tu chỉnh để hoàn thiện thì miền Bắc vẫn còn dùng từ ngữ theo lối ăn nói của tiếng clumsy chinese, tức là tiếng Mandarin, nguyên thủy là tiếng của thằng ngu. Học giả và giới trí thức miền Bắc cũng học theo cách ăn nói của người miền Nam, tuy nhiên dân bần cố nông nghèo khổ thì cả đời vẫn chỉ dùng đi dùng lại vài trăm từ. Lấy thí dụ học giả Phạm Quỳnh Phan Khôi viết nhiều bài giá trị, nhưng vẫn còn bị sai chính tả và trật văn phạm đây đó trong cách hành văn vì quen dùng lối cũ, mà lối cũ thì bị ảnh hưởng tiếng Mandarin, cũng khó trách được các cụ.Tiếng Đức là một ngôn ngữ thuộc loại không phải dễ học, vậy mà trong lịch sử phát triển tiếng Đức chỉ cải cách ngữ vựng có 2 lần, lần đầu vào năm 1901 và lần thứ hai 1996, những cải cách khác được xem như bổ túc thêm thôi. Trong cả hai lần cải cách này mục tiêu chính là „thống nhất ngữ vựng“ (tiếng Đức còn là ngôn ngữ chính thức tại Áo, Thụy Sĩ, Nam Tyrol (Ý), Bỉ và Liechtenstein có cộng đồng nói tiếng Đức, ở Luxembourg nó cũng là ngôn ngữ chính, nhưng không phải là ngôn ngữ của số đông người dân nước này) và „đơn giản hóa chính tả“.
Tiếng Đức „deutsch“ có nguồn gốc từ tiếng Germanic và có nghĩa là „thuộc về dân“. Không có đạo luật Đức nào bắt người dân phải nhất nhất tuân theo, tức là trên lý thuyết, công dân Đức có quyền dùng tiếng Đức theo ý của họ. Tuy vậy, họ có thể lệ là những người thuộc chánh quyền, quân đội, công sở, các cơ quan giáo dục (kể cả học sinh, sinh viên) thì phải … viết đúng ngữ vựng, văn phạm (tôi còn nhớ hồi trung học, luận văn mà bị gạch đỏ chừng 5,7 chỗ do viết sai văn phạm, chính tả, là sẽ bị trừ một điểm – hệ thống cho điểm là từ 1, tương đương với xuất sắc, đến 6, giống như „thầy cho ăn hột vịt lộn rồi em ơi!“).

Samuel Johnson, người biên soạn Từ điển tiếng Anh xuất bản năm 1755, từng nói: Language is the dress of thought (Ngôn ngữ là y phục của tư tưởng). Quần áo là thứ ta dùng để bảo vệ, hỗ trợ, che giấu và sáng tạo. Nó có thể nói lên sự thật của người đang mặc, có thể bắt mắt, đại diện, đôi khi khiêu khích. Quần áo thể hiện một bản chất rất cụ thể, theo sở thích và nhu cầu. Nhưng điều quan trọng nhất là: nó phải vừa vặn đối với bạn!

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi (chú thích: lại „NGƯỜI“ nữa rồi!)
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!
Tình ca Tiếng Nước Tôi (Phạm Duy)

Thứ Bảy vì tương lai

Deutsch

Từ nhiều tháng nay, phong trào biểu tình mang tên „Fridays for future“ đòi giữ môi trường cho thế hệ tương lai là đề tài được nói đến gần như hằng ngày trên báo chí, truyền thanh, truyền hình. Nỗi sợ hãi về một tương lai ảm đạm đầy ô nhiễm đã đẩy học sinh, sinh viên tham gia „đình công không đi học“, xuống đường giăng biểu ngữ đòi quyền lợi.
Thời tôi còn sống dưới chế độ cộng sản ở Việt Nam, người ta thường tuyên truyền „vì lợi ích trăm năm trồng người“. Ý tưởng này xuất phát từ Quản Trọng, một chính trị gia và triết gia thời Xuân Thu Chiến Quốc (khoảng từ năm 475 đến năm 221 trước Công nguyên).

Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc.
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân,
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã.
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã,
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã.

Kế hoạch một năm không gì hơn trồng lúa.
Kế koạch mười năm không gì hơn trồng cây.
Kế hoạch trọn đời (trăm năm) không gì bằng trồng người.
Trồng một, gặt một, là lúa.
Trồng một, gặt mười, là cây.
Trồng một, gặt trăm, là người.“

Hôm qua nhà máy cưa gỗ „Eigelshoven“ ở Würselen tổ chức „Sommerfest“, đại khái là một buổi gặp gỡ ngoài trời, có ăn uống, trò chơi, hướng dẫn tham quan hãng xưởng cho những ai … rảnh rỗi muốn ghé xem. Tôi cũng rảnh, nhưng ghé không vì tò mò mà do có nhận được quảng cáo với hai phiếu ăn miễn phí cho một xúc xích và một ly nước.

Không khí khá nhộn nhịp: nào là được ngồi cạnh tài xế trong buồng lái của xe bốc hàng, chơi những trò chơi ngoài trời như như nhảy trên phao hơi, đá banh bàn, rút gỗ Jenga, làm hình trái tim từ những cây đinh, và đương nhiên có bán kem, xúc xích, khoai tây chiên, bia, nước ngọt v.v. Xin nhắc lại là chỉ miễn phí cho ai có phiếu cắt từ các tờ quảng cáo.

Hiện nay ở Đức rất khan hiếm người thích ngành nghề có liên quan đến tay chân. Có lẽ một phần do ở trường nam sinh không còn học thủ công lắp ráp, còn môn nữ công gia chánh cho nữ sinh thì đã „lỗi thời“ rồi chăng? Nấu ăn ư? Để làm gì? Pizza, Burger, Dörner … nhan nhản ở mọi góc phố. Đói bụng gọi điện thoại một cú là có đồ ăn giao đến tận cửa. Nếu cái gì đó bị hỏng, chỉ cần vứt đi và mua cái mới. Thứ Sáu phải đi biểu tình đòi khí hậu tương lai tốt, môi trường tương lai sạch đẹp, làm gì còn có thì giờ để thay cái bóng đèn bị cháy, mà cũng không thể thay được vì đó là loại đèn LED dùng một lần, được sản xuất tại Trung Quốc.

Trở lại buổi „Sommerfest“ của nhà máy cưa gỗ „Eigelshoven“ ở Würselen: tuy trò chơi rút gỗ Jenga hấp hẫn hơn bảng chiêu sinh dựng ở kế bên, nhưng ý tưởng của Quản Trọng xem ra cũng không dở:
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã
Muốn thu hoạch gấp trăm lần phải „trồng người“.
Ai đầu tư vào một đứa trẻ sẽ gặt hái gấp trăm lần. Biết đâu đứa bé đang ngồi đóng trái tim bằng đinh lên gỗ kia sau này sẽ trở thành một thợ cơ khí tài năng? Bạn không bao giờ đoán trước được bởi hôm nay là ngày „Thứ Bảy vì tương lai“.

Chơi rút gỗ Jenga – Bên cạnh là bảng tuyển sinh

Saturday for future

Tiếng Việt

Seit Monaten ist „Fridays for future“ in allen Munden. Die Angst vor einer düsteren Zukunft treibt Menschen auf die Straßen, vor allem junge Leute.
Als ich noch in Vietnam unter der kommunistischen Regierung lebte, wurde in der Schule oft propagiert: „Der Grundstein für einen 100-Jahres-Plan ist das Züchten von Menschen“.  Der ursprüngliche Gedanke stammte eigentlich von Guan Zhong, ein  berühmter chinesischer Politiker und Philosoph der Zhanguo-Zeit, die Zeit der Streitenden Reiche (zwischen 475 v. Chr. und 221 v. Chr. ).

Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
hập niên chi kế mạc như thụ mộc.
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân,
Nhất thu nhất hoạch giả, cốc dã.
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã,
Nhất thu bách hoạch giả, nhơn dã.

auf Deutsch etwa:

Willst du einen guten Ein-Jahresplan: pflanze Reis,
Willst du einen guten Zehn-Jahresplan: pflanze Bäume.
Willst du einen guten lebenslangen Plan: pflanze Menschen.
Wer einen Reiskorn sät, wird für eine Ernte belohnt.
Wer einen Baum pflanzt, wird das Zehnfache zurückbekommen.
Wer in einem Mensch investiert, wird das Hundertfache ernten.

Am Samstag war ich beim Sommerfest des Sägewerks „Eigelshoven“ in Würselen, weniger aus Neugier, sondern mehr wegen den beiden Gutscheinen für eine kostenlose Bratwurst und einem freien Getränk.

flyer

Es war viel los: Radlager fahren (als Beifahrer versteht sich), Hüpfburg, Menschenkicker, Jenga mit überdimensionalen Holzstücken, Nagelherz basteln, und natürlich Essen und Trinken mit oder ohne Gutschein.

Was mich so wunderte, war die Anzahl von Kindern in Vorschul- und Grundschulalter: es waren relativ viele. Zwar interssierten sie sich eher für den nicht aus Legosteinen gebauten sondern echten, riesengroßen Bagger (Volksmund), als für die offenen Ausbildungstellen für beispielweisen Holzbearbeitungsmechaniker oder Mechatroniker, aber die Begeisterung in ihren Augen war nicht zu übersehen.
Es ist kein Geheimnis, dass Interessenten für Handwerksberufe als Magelware in Deutschland eingestuft sind. Vielleicht liegt es zum Teil daran, dass in der Schule die Fächer wie Handwerken für Jungs, und Nähen, Kochen für Mädchen „out of date“ sind. Kochen? Wozu? An jeder Ecke gibt es Pizza, Burger, Dörner … oder alles was der Magen begehrt als Lieferservice. Es wird nicht mehr repariert, wenn was kaputt ist, sondern einfach weg schmeissen und neu kaufen. Die Jugend von heute denkt an „Fridays for future“ anstatt die kaputte Lampenbirne auszuwechseln (was natürlich nicht möglich ist, da es nur noch Einweg-LED-Lampen „Made in China“ im Umlauf sind).

Zurück zum Sommerfest im Sägewerk „Eigelshoven“ in Würselen.
Zwar sind die Holzklotzen beim Jenga-Spiel anziehender als der nebenstehende Rollup-Banner „Wir bilden aus“, aber wenn man an die Gedanken von Guan Zhong denkt, war das Ganze gar nicht so verkehrt: Wer in einem Mensch investiert, wird das Hundertfache ernten. Vielleicht wird später aus dem Kind, das gerade an sein Nagelherz herum bastelt, ein begabter Holzbearbeitungsmechaniker? You never know. Es war halt „Saturday for future“.

jenga
Jenga-Spiel

Ai là tác giả bài „Tiền và lá“?

Trong bài Blog „Dậy sao?“ tôi có trích thơ „Tiền và lá“, đề tác giả là Kiên Giang, dù nhiều giả thuyết cho rằng Nguyễn Bính mới là chủ nhân thật sự.
Tôi có tìm thấy một bài trên mạng mà trong đó nhà thơ Kiên Giang xác nhận bài này là của ông, Nguyễn Bính chỉ sửa vài chỗ thôi. Tôi không những „phen“ (fan) Kiên Giang với „Hoa trắng thôi cài lên áo tím“, mà tôi cũng phen „Tiền và lá“, tiền thì khỏi giải thích rồi, lá thì năm nào thu đến tôi đều ca cẩm:
Thu ơi thu đến làm chi?
Lá rơi, gió cuốn thổi đi phương nào ?

Nhiếp ảnh gia: Nicholas Đặng

Vì vậy tôi chong đèn đọc đi đọc lại
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra

để xem „dáng thơ“ ra sao, xem tiền của ai, xem lá của ai?
À, để độc giả có thể so sánh tôi xin đăng lại bài thơ với hai ghi chú khác nhau về tác giả nhé!

Kiên Giang Nguyễn Bính
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“
Ngày thơ, mẹ bắt đeo „bùa cầu ông“.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn „tượng người“,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“.
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!
Tuổi thơ tóc để gáo dừa,
Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cần ong.
Hai ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay nhau giữa cánh đồng cỏ xanh,
Hai nhà chung một mái gianh,
Chia vui từng trái ngọt lành có nhau,
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời,
Em moi đất nặn hình người,
Anh thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Em mang ra bán lấy tiền lá rơi.




Tiền là giấy bạc em ơi!
Tiền là giấy bạc do đời làm ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ mỗi buổi chiều lên,
Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời …
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Ngày xưa cô giáo dạy phân tích phải có đầu có ngọn, nên tôi tạm dẹp kiểu viết văn kể chuyện … trên trời
… có đám mây xanh,
ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
mà đánh số thứ tự như làm liệt kê dân số ấy.

Thứ 1
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“

Trích tự điển Khai Trí Tiến Đức

Theo tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt tên tiếng Pháp của l’Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites), một hiệp hội tư lập với mục đích trao đổi văn hóa giữa trào lưu Tây học và truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 (1919-1945) thì „vùa“ là đồ dùng nhìn như cái bát, cái lư. Mô-đen „miểng vùa“ tức là tóc cắt nham nhở như một phần của cái vùa – „miểng“ là tiếng miền Nam, ám chỉ một phần nhỏ của thủy tinh hay đồ sứ bị vỡ, người Bắc gọi là „mảnh“.
Nếu cho là

Tuổi thơ tóc để gáo dừa

thì cũng không đúng hẳn „Bắc-Kỳ“.
Trong „Hồi ký về thời thơ ấu và quãng đời học sinh của tôi cho đến lúc ra đời kiếm sống“ của ông ngoại, chào đời tại làng Yên-Nhân, huyện Yên-Lãng nay là huyện Mê-Linh thuộc ngoại thành Hà-Nội, thì để đi „hỏi vợ“ theo phong tục tảo hôn thời ấy, năm 13 tuổi ông cố bắt ngoại đi „hớt“ tóc theo kiểu người lớn chứ không theo kiểu „móng lừa“ như trước. Vậy đúng ra nếu là của Nguyễn Bính bài thơ phải bắt đầu
Tuổi thơ tóc để „móng lừa“

Thứ 2
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.

Văn bản của Kiên Giang đọc nghe tròn vẹn hơn từ ý đến lời, tả cảnh hai đứa bé dắt tay nhau đi học, băng qua những cánh đồng lúa miền Nam cò bay thẳng cánh.
Hơn nữa những câu thơ như
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời
không đúng bằng hình ảnh
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời
ý muốn tả con nít chơi „ngu“ leo lên miệng giếng, ngồi đếm những ngôi sao được phản ánh xuống nước, chứ không phải „ra bên giếng“ rồi đứng ngó lên trời đếm sao.
Nguyễn Bính là thi sĩ với những bài thơ tình tuyệt tác, mỗi bài thơ tả đúng tâm trạng nhân vật, như „phải lòng“ cô giáo thì
Ước gì tôi được quen cô giáo
Để đến theo cô học vỡ lòng
Chỉ sợ trò đông bàn ghế chật
Tuổi nhiều cô có nhận cho không?
Nếu cô đồng ý nhận cho tôi
Tôi sẽ theo cô đến suốt đời
Suốt đời tôi chỉ theo một lớp
Suốt đời tôi học lớp cô thôi!

Nên hai câu
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời

khiến bài thơ tả tình yêu dại khờ tuổi tóc „miểng vùa“ đâm ra chân thấp chân cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (ca dao)
vì chỉ có người lớn mới thơ mộng kiểu thức khuya nằm dưới đất nhìn lên trời mơ mơ mộng mộng, chứ con nít quê ở miền Nam tối trăng lên là chui vô mùng trốn muỗi hết rồi, ngồi trong nhà nhìn ra thì đúng là thấy
Đêm vàng soi bóng trăng cao
thật vì trong nhà để đèn dầu tối u u, vàng leo loét, sẽ thấy đêm vàng do ánh đèn và ánh trăng pha vào nhau tạo nên hình ảnh đó.

Thứ 3
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“

Vùng Nam-Kỳ lục tỉnh vốn ít nhiều chịu ảnh hưởng của tôn giáo xứ Chân-Lạp như đạo Bà-La-Môn, có phong tục đúc những tượng thần bằng đất để thờ. Người Bắc nếu nói về nắn tượng thì chỉ có trò chơi nặn tò-he mà thôi, còn thì họ đúc những tượng lớn để trong đền, chùa.
Cũng như người nặn tượng trong bài thơ phải là nam giới và người mua là nữ thì mới hợp lý hợp tình với câu
Người mua đã bị mua rồi
ở đoạn kết.

Thứ 4
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Câu trên không đủ xuất sắc để làm câu „đến đây là chấm hết chương trình của ban Tùng-Lâm“ bằng

Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!

Chợ lòng có hai nghĩa
1/ Chợ „trong lòng“, ý nhắc lại kỷ niệm xưa với cô bé chơi trò nhặt lá mua tượng vẫn còn để lại trong ký ức.
2/ Chợ lòng = chợ nhà lồng, loại chợ tiêu biểu ở miền Nam – giống kiểu chợ Bến-Thành tại Sàigòn – mà hầu như các tỉnh Nam-Kỳ đều có, như chợ lồng Hàn-Dương (Cần-Thơ), chợ lồng Trà-Ôn (Long-Xuyên), chợ lồng Rạch Giá, quê của thi sĩ Kiên Giang. „Chợ nhà lồng“ mang ý nghĩa tượng hình giống như cái lồng, có giới hạn phạm vi nhưng không bị che kín, có mái che nhưng kiến trúc và tổ chức không gian của chợ vẫn thoáng mát, mang đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long, vì chợ Nam bộ thường nằm sát bến sông hoặc gần các ngã đường lớn.
Người Nam phát âm „lồng“ và „lòng“ na ná nhau nên có lẽ Kiên Giang đã „chơi chữ“, dùng „chợ lòng“ theo kiểu phát âm của người Nam để vừa đưa lên hình ảnh chợ quê ở Nam-Kỳ, vừa diễn tả nỗi lòng u hoài nhớ về một trò chơi trẻ con mà nay
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi (Hàn Mạc Tử)

Chợ nhà lồng Rạch Giá

Thứ … Chủ nhật

Càng đọc càng thấy văn bản của Kiên Giang mang âm hưởng của một người miền Nam hiền hòa, không
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa (Nguyễn Bính)
mà chỉ tự an ủi
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.

Ông mất vì đột quỵ khi đem tiền lương hưu của mình từ Long Xuyên lên Sàigòn giúp gia đình một đứa trẻ ở An-Giang bị xe tông văng khỏi bụng mẹ.
Khoảng 40 năm trước, ông có ước hẹn với soạn giả Hoa Phượng (người An-Giang) khi nào có điều kiện sẽ về quê hương tổ chức hát cải lương miễn phí cho bà con ở quê xem. Gia đình đứa bé trên ở cùng làng, cùng quê với Hoa Phượng khiến Kiên Giang động lòng quyết đi thăm. Trong khi ông đang ngồi viết một lá thư kể về ý định vì sao mình muốn giúp gia đình này, có dính dáng đến soạn giả Hoa Phượng ra sao thì ông đột quỵ và mất.
Ông là thi sĩ, ký giả, soạn giả người Nam „rặt“, nên nếu có ai nói bài „Tiền và lá“ là của Nguyễn Bính thì chắc ông sẽ vui vẻ trả lời:
„Dậy sao?“

Dậy sao?

Tặng những người bạn “bắt cá gô bỏ gổ kêu gột gột” của tôi.

Nhiều người hỏi bộ tôi sinh ra tại vùng Đất Mũi hay sao mà ghi „Đến từ Cà-Mau“ ?
Thật ra tôi chào đời ở nhà bảo sanh Đức-Chính, nằm trên đường Cao-Thắng, Sài-Gòn. Nhưng Facebook không có địa danh Sài-Gòn nên tôi chọn Cà-Mau, nơi đã gắn liền một thời tuổi mộng mơ tôi của với những ao cá đầy sình, những gốc chuối đầy vắt và những tấm mùng đầy muỗi của những buổi chiều tối om om, ngồi thu lu trên giường mà nhớ trường, nhớ bạn da diết.

Khoảng năm 1978-1980 tôi thường túc trực ở Cà-Mau tìm đường vượt biên. Những hôm không phải trông „anh, chị“ – tuy là vai trên vế trước nhưng lại nhỏ tuổi hơn nên tôi thành … vú em – tôi hay la cà với đám con nít cùng trang lứa, lội ao, bắt ếch, hay tập tành gánh nước. Nhưng có lẽ người „thành phố“ như tôi không quen cửu vạn cho nên tôi không tài nào làm theo được, nước cứ sóng sánh cả ra ngoài, gánh về đến lu nhà thì vơi đi chỉ còn nửa thùng.
Thời gian ở Cà-Mau tôi vỡ dạ nhiều thứ.
Thứ nhất: Không được bơi kiểu „yết-kiêu“ như ở hồ An-Phú – tức là bơi đúng như vận động viên, đầu hụp lên hụp xuống, hít thở nhịp nhàng – mà phải bơi … chó, giữ đầu luôn ở trên mặt nước, vì nếu không một hồi sình sẽ bám đầy lỗ tai, lỗ mũi.
Thứ hai: Người Cà-Mau không đi „một mình“, người Cà-Mau đi „ên“.
Người Cà-Mau nói riêng, và người Nam nói chung, có khẩu âm khác với người Bắc tuy cùng nói một ngôn ngữ giống nhau, cùng hưởng một nền văn hóa giống nhau, cùng … chưởi thề giống nhau. Thí dụ ở Sàigòn tôi nghe tụi con nít ở ngõ tôi í ới:
– Đ.M. mày con bà Ba bán xôi!
thì ở Cà Mau tôi hầu như ngày nào cũng vừa một tay giữ „thằng anh họ“ đang sợ hãi ôm chân tôi, tay kia giơ đấm ra dọa mấy đứa con nít đứng trước cửa nhà hét đổng vào:
– Đ.M. mày con bác sĩ Nhã!
vì „thằng anh họ“ của tôi suốt ngày đàn đúm đánh nhau với đám trẻ con trong xóm.
Hồi đó tôi không hề thắc mắc dở „ẹt“ hay „ẹc“, „cụt“ hat „cục“, „cát“ hay „các“, tôi chỉ thấy ở Cà-Mau có nhiều cái tôi phải học, phải nhớ để không bị lạc lõng ở cái xứ mà muỗi, vắt sinh sôi nẩy nở theo một tỷ lệ tôi không thể nào giải nổi phương trình dù chỉ có một „con ẩn số“ này.

Hôm nọ, vô tình có đứa bạn hỏi „dở ẹt hay dở ẹc nhỉ ?“ làm tôi chợt nhớ về cái thuở „tập làm người Cà-Mau“ của tôi. Người Cà-Mau phát âm chữ „mình ên“ không giống như „đi lên“, cũng không như „đi lơn“, mà là một âm ở giữa hai âm „ơn“ và „ên“. Phải học được cách bơi để tai không bị dính sình thì mới phân biệt được sự khác nhau này, nhất là nếu bạn là „Bắc kỳ ăn cá rô phi, ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc kỳ“ như tôi.
Người Nam hiền hòa, dễ tính, nên chẳng hay kèo nèo, phải trái hơn thua, nếu bạn cho là đúng thì họ cười xòa thân thiện trả lời „Vậy sao?“, dù bạn dùng tiếng thổ ngữ của họ vì
– người Nam dùng „chén“ thay cho „bát“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „bát“ và „bác“
– người Nam dùng „bén“ thay cho „sắc“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „sắt“ và „sắc“
– người Nam dùng „bận“ thay cho „mặc,“ bởi họ không phân biệt được 2 âm „mặt“ và „mặc“
– người Nam dùng „xắt“ thay cho „cắt“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „cắc“ và „cắt“
– người Nam dùng „tiên“ thay cho „bụt“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „bụt“ và „bục“
– người Nam dùng „vớ“ thay cho „tất“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „tất“ và „tấc“
Và người Nam nói dở … ẹt.
Đó là mới nói về cái khó khi phải phân biệt giữa „t“ và „c“, chưa kể đến những chữ như „bông“ thay cho „hoa“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „hoa“ và „qua“, hay người Nam có tiếng „dạ“ ngọt ngào bởi họ không phân biệt được 2 âm „vâng“ và „dâng“, vân vân và „dân dân“.

Tiếng miền Nam phong phú, văn thơ miền Nam gần gũi:

Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“
Ngày thơ, mẹ bắt đeo „bùa cầu ông“.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn „tượng người“,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“.

Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.

Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!

Tiền và lá – Kiên Giang

Nhiếp ảnh gia: Nicholas Đặng

Ngày còn bé tôi thường dùng tiếng Bắc, có lẽ vì ông bà, cha mẹ, cô chú bác đều cố giữ những gì gợi nhớ về một miền bắc xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi, dù trong trường đa số bạn bè người Nam, cô giáo người Nam. Một thằng bạn „bắc kỳ ăn cá rô phi“ của tôi mãi cho đến bây giờ đầu hai thứ tóc vẫn nhớ cái hôm giờ toán lớp Năm, học về đo lường, cô sai nó xuống văn phòng mượn cái „quặng“. Thằng con chẳng biết cái „quặng“ là cái gì, cũng chẳng dám hỏi lại cô giáo, chỉ ráng nhớ sao phát âm cho đúng chữ „quặng“, chứ mà về tay không thì chết đòn với cô.
Sau này, từ khi „tập làm người Cà-Mau“, tôi chuyển sang giọng Nam, dù cái tiếng Nam của tôi nó cứ lợ lợ như nước sông Cửu-Long, mà người Nam còn gọi là „nửa mùa Lệ-Thủy“.
Chỉ có cái tôi chưa học được của người Cà-Mau là tánh dễ dãi, xuề xòa, chưa biết trả lời:

– Dậy sao?

Con chim quý phải ở Pentagon

Chuyến nghỉ thu năm nay tôi chọn Virginia, tiểu bang có cái tên lấy từ „The Virgin Queen“, Elizabeth Đệ Nhất, còn được gọi là „Nữ hoàng đồng trinh“ vì bà không chồng, không con cái nối dõi, sống độc thân trọn đời, được cả thần dân xứ sở sương mù tôn sùng như một vị thánh vì tất cả những gì bà đã làm cho nước Anh.
Khi George Washington – tổng thống Mỹ đầu tiên – lập thủ đô Hoa Kỳ thì Maryland và Virginia đã nhường một phần đất để xây dựng Washington D.C.
Bạn hỏi Virginia có gì đáng tham quan ?
Tôi chưa đến Virginia nên cũng không thể trả lời được, nhưng tôi biết có Ngũ Giác Đài – Pentagon – nằm cạnh sông Potomac ở Virginia, kế Nghĩa trang Quốc gia Arlington, giáp biên giới Washington D.C. Đi Virginia mà không ghé „Lầu năm góc“ thì chẳng là phí tiền vé máy bay lắm ư ? (chú thích: Tôi hỏi cụ Gồ „Ngũ Giác Đài“ cụ có biết không, thì cụ mắng „Làm quái gì có, chỉ có trang Wiki tiếng Việt „Lầu năm góc“, dài đúng … 5 câu, có đọc không thì bảo ?“)
Thế là tôi hăng hái vào trang website https://pentagontours.osd.mil/Tours/ định đặt ngày đi tham quan.
Không đơn giản như tôi nghĩ.
Trước hết phải đọc qua thông tin về an ninh khi vào trong đó, đại khái là ngoài những thứ nguy hiểm như súng đạn, dao găm thì tất cả những vật dụng khác như ví von, ba lô, túi xách, máy chụp hình, điện thoại di động, đồ ăn thức uống v.v. đều thuộc hàng … cấm cả. Duy nhất giấy tờ nhận dạng như thẻ căn cước, passport, bằng lái xe có hình là ô kê tuýt suỵt.
Nhưng đấy không phải là trở ngại chính phải vượt qua mà bạn phải ghi danh, tên họ, Email đầy đủ, mới đạt tiêu chuẩn để đặt một cái hẹn, sớm nhất là 90 và trễ nhất là 14 ngày trước ngày bạn dự tính ghé ngang ngắm nghía trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ.
Vượt qua được tường lửa này không có nghĩa là „Đời như ý“ (ý viết thường, không viết hoa). Cứ mỗi lần điền xong trang này, bấm bước kế tiếp „Submit“ là y như rằng lại hiện ra con số Năm-Không-Không.

Lập lại lần hai thì sẽ qua được một cửa ải, được sang trang kế tiếp.
Có lúc may mắn thì sang được 2 trang liên tiếp rồi mới quay lại trang nhà (Home).
Y hệt chơi game. Đang hăng say bắn đùng đùng bỗng bị sa bẫy rớt trở ngược lại level một, đỏ mặt tía tai văng Bún-Thịt (bullshit) lung tung cả lên.
Ca cẩm: Lời Đắng Cho Cuộc Tình – Nhật Ngân.
Cuối cùng rồi mình vẫn thế
Có sao đâu khóc chi em
Cho phai mà hồng, được gì ?
Em ơi, em ơi, anh đã biết rằng
Con chim quý phải ở lầu son
Pentagon nên khó chui vào …
Buồn đời tôi viết i-meo than thở với con bạn ở Việt Nam.
Sau khoảng 5,6 lần Meo-Meo-Như-Mèo-Muốn-Mửa nó trả lời:
– Tao phải đổi subject của mail, dùng chữ Pentagon hoài không tốt.
Totally agreed!

Đời không như ý

Hôm nay có việc cần ra bưu điện bỏ thư, định khoảng 3,4 giờ mới ra khỏi sở, sớm hơn thường lệ để còn kịp trong giờ làm việc của Post, nhưng đùng cái xếp lên giờ họp trễ nên tôi xin xếp cho chạy đi bỏ thư chút về liền. Xếp ok. Chạy ra bưu điện ở gần đây nhất thì thấy bà con làu bàu từ trong bưu điện đi ra. Tôi vô thì thấy dán bảng … hôm nay bưu điện nghỉ … „đột xuất“. Lại thêm 1 người làu bàu đi ra nữa.
Tôi phải lái xe vô tận trung tâm, bưu điện chính.
Xếp hàng.
Tới phiên.
Cô nhân viên nhát gừng: Bảo đảm hay không bảo đảm ?
Tôi (thấy teo): Chắc là gởi thường thôi cô ạ ! T
rả lời rất lễ phép vì biết cô ấy đang khó ở trong người, có lẽ do không có hứng làm việc trong một ngày nắng đẹp.
Cô nhân viên dán mẩu giấy nhỏ lên cái phong bì xinh xinh „par avion“.
Tôi rụt rè: Vậy bảo đảm thì bao nhiêu tiền hở cô ?
Cô nhân viên không nhìn lên, chuẩn bị dán tem lên cái phong bì xinh xinh: 6,20 Euro.
Tôi vội vàng: Vậy cho tôi gởi bảo đảm đi !
Cô nhân viên ngước lên chỉ thấy tròng trắng – bỏ thư lên cân: 6,20 Euro.
Trên đường lái xe về lại sở, đạp hết ga để gỡ gạc lại thời gian đứng xếp hàng ngoài bưu điện, tôi tự an ủi mình: Đời không như ý!

An Tiêm giạt bến sông Rhein

Tôi có thói quen nghe radio mỗi sáng trên đường lái xe đến sở làm. Thứ nhất để biết chó cán xe hay xe cán chó, và thứ hai – quan trọng hơn – là sau tin tức có thông tin về những chỗ hôm đó được đặt máy di động, chụp hình xe lái quá vận tốc cho phép trong thành phố là 50km/h, thậm chí có khúc chỉ 30km/h, lỡ nhấp chân ga hơi mạnh tí là „ăn đòn“ ngay. Một tấm hình đen trắng mờ tịt – nhưng bảng số xe thì rõ mồn một – rẻ nhất cũng 20 Euro, cộng thêm tiền cước chuyển vào trương mục của thành phố và lời phân trần với người chồng đáng yêu nhất trên đời này của tôi: „Lỡ“.
Sáng nay đài radio địa phương „HITRADIO 100’5“ loan tin:
Wassermelonen wachsen am Rheinufer!
Dịch nôm na tiếng Việt là „An Tiêm giạt bến sông Rhein“.

Quelle: kinder.wdr.de

Theo phân tích của các toán học gia và sử học gia Đức thì có lẽ do thiên hạ sầu đời rủ nhau ra bờ sông „picnic“, thay vì „ăn khế trả vàng“ thì … „ăn dưa nhả hột“. Hột dưa theo luồng nước sông trôi giạt, vướng vào ghềnh đá. Mùa hè năm nay Đức bị hạn hán, nước rút làm cạn bờ, nắng gắt liên tiếp hằng tháng trời, dưa đâm chồi nẩy lộc.
Người Đức có thói quen giải thích những sự việc xảy ra trong thiên nhiên một cách khoa học, đơn giản, dễ hiểu. Còn muốn thi vị hóa, thần thoại hóa nó thì mua vé vào rạp xi-nê xem phim „Ba hạt dẻ dành cho Lọ Lem“. Phim „Hạt dưa của Goethe“ chưa chiếu.
Người Việt giải thích nguồn gốc dưa hấu lưu lạc từ châu Phi sang Việt Nam qua hình ảnh „Mai An Tiêm là một nhân vật truyền thuyết thời Hùng Vương. Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm vốn là con nuôi của Hùng Vương thứ XVII, được vua quý mến gả công chúa cho. Sau vì làm phật ý vua, An Tiêm bị đày ra đảo hoang, tương truyền nay là vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Tại đây, An Tiêm cùng vợ chăm chỉ làm ăn, gây được giống dưa hấu quý, nhiều người tìm đến trao đổi, tiếng đồn khắp xa gần. Vua xuống chiếu gọi về cho phục chức cũ. An Tiêm được coi là ông tổ của nghề trồng dưa hấu ở Việt Nam“ (trích Wikipedia).
Tôi thích truyền thuyết An Tiêm hơn xem phim „Hạt dưa của Goethe“ (chú thích: đến hôm nay vẫn chưa chiếu) không phải vì tôi mũi tẹt da vàng mà có lẽ vì nó cho tôi niềm tin vào hình ảnh ngày lập quốc của người Do Thái sau 2668 năm mang số phận một dân tộc lưu vong.
Tôi trôi giạt đến nước Đức vào mùa đông 1980.
Hạt dưa An Tiêm giạt bến sông Rhein và kết trái vào mùa hè 2018.
Tuyên ngôn lập quốc Do Thái được đọc vào mùa hè 1948.
Tôi tin rằng giấc mộng Đông Du sẽ thành sự thật trong một năm có số 8.