Bát thập trượng vu triều

Có thằng bạn kể nó sống xa mẹ và gia đình từ năm 17 tuổi, nay mẹ nó – một thời là một trong những business women có hạng ở Saigon – đã 86 tuổi, vẫn còn minh mẫn, nên nó thấy còn có phước lắm nếu so với một số bạn bè khác mà

ngày xưa chào mẹ, ta đi
mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười
mười năm rồi lại thêm mười
ta về thì khóc, mẹ cười lạ không

ông ai thế ? Tôi chào ông
mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi
ông có gặp thằng con tôi
hao hao …
tôi nhớ …
nó… người … như ông.
mẹ ta trả nhớ về không
trả trăm năm lại bụi hồng…
rồi ..
đi …
(Đỗ Trung Quân)

Một đứa bạn khác ví mẹ nó là con búp bê: Búp bê tóc trắng phơ, yếu đuối, nhỏ nhoi. Tôi làm gì, cũng làm từ làm tốn để búp bê kịp làm cùng. Tôi đi đâu, cũng chậm thong bước thả để búp bê kịp bước theo. Tôi ăn gì cũng nhai nhẹ nuốt nhàng để búp bê cùng kịp bữa. Tôi ôm ấp, hôn hít để búp bê cười hồn nhiên hai tuổi. Tôi xoa đầu, vuốt tóc, nựng má để búp bê cười hồn nhiên ba tuổi. Tôi dắt búp bê, khi tung tăng, lúc lết thết, khắp Saigon để búp bê vui hồn nhiên bốn tuổi. Tôi dẫn búp bê đi làm quen nhiều bạn trẻ mới để búp bê vui hồn nhiên năm tuổi.
Người già lạ tính, lạ nết, lạ ăn, lạ uống, lạ nghĩ, lạ bịnh, lạ tật. Chăm người già nhiều lúc xuống tinh thần, đôi khi nóng nảy, vài khi cáu gắt. Chăm búp bê tôi thấy mình khoan dung, nhẹ nhàng và dễ chịu hơn. Vì người ta không kỳ vọng ở búp bê, như kỳ vọng ở một người ngày xưa thời lỗi lạc. Người ta không thể khó tính với búp bê, như khó tính với một người ngày xưa từng cừ khôi. Người ta không xót xa nhớ về búp bê đã một thời từng khôn khéo phụ chồng nuôi con giữa đời xuôi ngược.
(Trích từ „CON BÚP BÊ ĐẸP NHẤT“ của Võ Thị Trang Hân)

Còn mẹ tôi ?
Mẹ tôi sanh ngày 16.10.1937 tại Hà Giang.
Ngày mai mẹ có sinh nhật.

Bố tôi

Tục ngữ Việt nam có câu
Con không cha như nhà không nóc.

Năm tôi 12 tuổi thì nhà tôi „tróc nóc“. Tôi còn quá bé để được biết về cuộc đời của bố tôi, về sự nghiệp của bố tôi. Chỉ biết bố là Luật sư, ông nội Bùi Khắc Dụng là địa chủ ở Thanh Hóa, vượt ngục trại tù Lý Bá Sơ vào Nam chứ không được di cư chính thức bằng tàu há mồm. Thế thôi.
Mới đây tôi nhận được Email của một người bạn của mẹ tôi với nội dung như sau:
Riêng chuyển tới Hồng,
Tôi tính viết ít hàng tâm tình đầu năm gửi ông em ruột bên Texas nhân khi nhận được tấm hình của Luật sư Bùi Hồng Hưng. Thấy bài có nhắc tới một phần nhỏ tiểu sử Luật sư Bùi Hồng Hưng nên tôi chuyển để Hồng biết.
Về trại tù Lý Bá Sơ tức trại Đầm Đùn thì thật là khủng khiếp. Hình như có người đã mô tả trại tù này và được giải thưởng thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
——————————-
Nhiều khi nghĩ lại quá khứ, tôi cũng tự hào là người kiên trì, cần mẫn. Vì trong hoàn cảnh khó khăn mà cố và đã vượt qua để có một số thành quả nhất định.
Những ngày xa xưa ấy. Hồi còn trẻ và trung niên. Còn trẻ thì có một số khó khăn do hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh chiến tranh … tôi không có dịp tiếp xúc, nhìn xa, trông rộng. Khi trung niên thì dồn hết thời giờ, tâm trí vào công việc và học hành hầu tiến thân.
Bây giờ  81 tuổi, vừa bước vào cái tuổi Lão Hỉ, Lão Cố. Ngoái nhìn lại quãng đường đã qua thấy tôi làm như vậy là đúng, có lẽ một phần do phúc đức tiền nhân, một phần do tiền kiếp – nếu tin vào có tiền kiếp – đã đi vào tiềm thức, hướng dẫn mình sống như vậy. Ra trường, đơn thân được làm việc gần nhà. Một vị trí mà nhiều người có thế lực luôn muốn chiếm. Chỉ một sơ sót nhỏ trong công tác hoặc kém hiệu quả là bị thay thế ngay.
Vì vậy, tôi như con ếch ngồi dưới đáy giếng. Thật ít giao thiệp, thật ít tiếp xúc. Con ếch ngồi đáy giếng nhìn trời qua miệng giếng (nhỏ bằng vung) ra sao, thì tôi, một tráng niên nhìn đời qua môi trường công tác chuyên môn và học thêm như vậy. Tôi có một chút thành tựu nho nhỏ và thấy hài lòng. Thứ hài lòng của con ếch, thấy mình có một vị trí đáng nể trong bầu trời.
Thời thế thay đổi. Tôi đi tù. Rồi lang bạt Âu Mỹ. Tiếp xúc với mọi giới trong xã hội.
Như con ếch ra khỏi miệng giếng, tôi bừng tỉnh.
Thấy mình nhỏ bé quá. Từ sự hiểu biết, đến kiên trì, rồi thành tựu. Tất cả chẳng là cái thá gì so với thiên hạ. Nghĩ lại, cái thời con ếch nhìn bầu trời qua miệng giếng. Ái ngại quá.
Biết bao nhiêu lời kinh sám hối cho đủ đây !
Tôi nhìn gương của vị này: Luật sư Bùi Hồng Hưng. Ông sinh năm 1934, hơn tôi 3 tuổi. Hai cha con (cha „vượt ngục“ trại Lý Bá Sơ – một trại tù, trước 1975 chỉ có vào mà không có ra, có lẽ trước 1975 Cụ là người trốn trại thành công duy nhất) vượt biên vào Nam năm 1955. Nghĩa là vào năm 1956. Ông Bùi Hồng Hưng tay trắng.
Ông tự học. Vừa làm vừa học. Đậu Tú Tài I, Tú Tài II. Lấy vợ là nhà giáo. Hai vợ chồng đều vừa làm vừa học.
Không biết Ông noi gương Bà hay Bà noi gương Ông mà Bà đi dạy 8 năm sau mới thi (đậu) Tú Tài I, hạng Bình Thứ, ban C (văn chương, sinh ngữ) trước năm 1966. Và thật đáng nể là 6 năm sau, khi Bà đã 4 con, vẫn đi dạy mà thi nốt Tú Tài II, ban C, kèm theo bằng Proficency của Hội-Việt-Mỹ. Bà kể với tôi là Bà học ban Bổ túc trường Quốc gia Sư phạm Sài-Gòn, niên khóa 1955-1958. Tốt nghiệp, dạy tại trường Trung Học Bùi Thị Xuân Đà Lạt hai năm. Nay các học sinh cũ đã lớn. Đi thi Tú Tài II, bà phải nhìn trước nhìn sau, chỉ sợ lỡ gặp phải học sinh của mình, người thì chấm thi, người thì làm giám thị, hoặc người thì đi thi, thì quê quá đi thôi.
Còn Ông vẫn vừa học vừa làm. Ông đã có năm con mới tốt nghiệp Cử nhân Luật. Tiếp tục thực tập Luật sư. Tốt nghiệp Luật sư. Năm 1975 chuẩn bị khai trương Văn Phòng Luật sư Bùi Hồng Hưng với phần phụ tá dịch thuật Anh ngữ của phu nhân, bà Đan Thanh, … thì … biến cố xảy ra.
Với người vượt tuyến năm 1955 thì tháng 4-1975 là tháng khủng khiếp. Cho nên Ông đã cùng 4 con ra đi …
Xin thành kính nguyện cầu Ông và 4 cháu được an vui miền VĨNH HẰNG.

my_familie
Tôi hãnh diện có người bố hiếu thảo (ông nội bịnh liệt giường, bố tắm rửa, đút cơm cho ông nội ăn dù nhà tôi có người làm), nhân hậu (ai khó khăn nhờ vả, bố tôi đều giúp đỡ, thân chủ nghèo không trả nổi tiền thù lao luật sư, bố tôi cãi miễn phí) và kiên trì  – nay tôi mới rõ – nhất trên đời này.
Hãnh diện hơn nữa là tôi có người mẹ đã làm mái ngói che nắng mưa cho hai chị em tôi (em tôi chào đời khi nhà đã tróc nóc, tháng 10.1975) suốt 42 năm qua.

Bà cố Cả – Trần thị Phức

Bài thơ và câu đối trong gia phả họ Vũ
(Diễn Châu- Hà Tĩnh)

Trong Võ Thị Tông Phả do Vũ Ngọc Côn ở Sài-Gòn, cháu đời thứ 14 và Võ Gia Thế Phổ do Võ Ngọc Uẩn ở Xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ Tĩnh, cháu đời thứ 15 phụng soạn, thì họ Võ này có xuất xứ từ Xã Mộ Trạch, Huyện Đường Am, Tỉnh Hải Dương.
Một trong các tác giả văn học họ Võ trong gia phả là nhân vật nữ thuộc họ Võ mà không mang họ Võ.
Nước ta vốn ít có những nhân vật nữ trong văn học. Nên thấy tên nhà văn nữ này, tôi ghi ra đây để mai sau có ai nghiên cứu về văn học thì có tài liệu tham khảo.
Tiểu sử nhà văn nữ tôi trích trong gia phả họ Võ ở Nghệ Tĩnh.
Nguyễn Hoài Cận, 2016
Photographer Đặng Đình Nghĩa

Thân thế và sự nghiệp của bà cố Cả, tức bà cố Tiết
Bà nhũ danh Trần thị Phức, quê thôn Bút Trận, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là chòm Bút Trận tức Tân Đức, Xã Diễn Thái, huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ Tĩnh), chị của Cử nhân Trần Quang Diệm (đã cùng ông Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo phong trào Cần Vương vùng Nghệ Tĩnh).
Trước khi xuất giá bà có được theo đòi bút nghiên. Bà kết duyên với ông Vũ Ngọc Chân, trưởng đời thứ 12 cùa họ Võ Nghệ Tĩnh. Sau ba tháng thành hôn thì chồng chết. Bà không sinh hạ được người con nào. Bà ở góa, thờ chồng, mở trường dạy học. Chủ yếu là dạy cho các con cháu bên nhà chồng học hành. Một số đã thành đạt, trong đó có Võ Trí tức Võ Thành Nhân đậu Thủ khoa Khoa Cử nhân năm Mậu Tý (1888) trường Nghệ dưới triều Tự Đức, có chỉ vời bà vào kinh dạy các cung nữ, nhưng bà khước từ.
Bà được sắc phong 8 chữ:

TIẾT HẠNH KHẢ PHONG
THỨC TỰ ƯU TRƯỞNG

Không rõ bà sinh năm nào, mất năm nào. Chỉ biết bà thọ 72 tuổi.
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỳ 20, bà vẫn còn sống. Vì khi nhà chí sĩ Phan đình Phùng tạ thế tại chiến khu Núi Quế ngày 13-11, năm Ất Mão (28-12-1895), bà có nhân danh cho nhóm sĩ phu yêu nước làm đôi câu khóc họ Phan (xem phần tác phẩm của bà).
Sinh thời bà có tiếng là một bậc nữ lưu hay chữ trong miền. Các vị khoa bảng và các sĩ phu vùng Thanh Nghệ Tĩnh thường qua lại thăm hỏi và cùng bà đàm đạo văn thơ hoặc luận bàn về chánh tình lúc ấy.
Theo Võ Tuân, một cháu đời thứ 14 được sống nhiều năm bên bà vừa để học hành, vừa để phục dịch mỗi khi có khách, kể lại, thì một hôm có một vị đại khoa cùng đi với hai thanh niên đến hỏi thăm bà. Sau khi khách ra về bà cho Võ Tuân hay ba vị khách quý ấy là cụ Phó Bảng Sắc cùng hai con của cụ là Cả Canh và em là Sinh Cung.
Về cái mà người xưa gọi là Tứ Đức bà hội đủ. Bếp núc, vá may, thêu thùa, quay tơ, dệt vải bà đều thành thạo. Bà coi những công việc ấy như những trò giải trí của người trí thức. Đức hạnh của bà đã khiến cho nhân dân xóm làng mến phục. Bà hay thương các người nghèo khổ và sẵn sàng giúp đỡ họ. Một lần vào 29 Tết, một bà hàng xóm tên là Cởn không có gì ăn Tết sang than với bà. Bà liền tháo chiếc khăn nhiễu đang đội trên đầu đưa ngay cho, biểu đem đi cầm để lấy tiền đong gạo ăn Tết. Ban đêm bà ngồi dệt cửi, bà con xóm giềng thường đến quây quần bên bà. Đàn bà con gái thì ngồi kết sợi giúp bà. Mọi người đều nghe bà kể chuyện xưa, hoặc giảng giải những câu kinh sách, rất lấy làm thích thú.
Hễ ai có sự vui buồn bà thường đến mừng, thăm hay an ủi. Có chị phụ nữ nào lăng loàn chửi chồng mắng con bà thường tìm gặp, đưa bàn tay lên bịt miệng người ấy và khuyên không nên thốt ra những lời như vậy.
Bà thân ái với tất cả mọi người. Mỗi khi về thăm quê, bà têm rất nhiều miếng trầu mang theo. Rồi trên đường đi, gặp ai bà cũng mời xơi một miếng để làm quen.
Ấy cũng vì kính mến và thương tiếc bà nên ngày tang lễ bà, giữa mùa đông tháng giá, nhân dân thôn Hậu Luật hợp cùng tang quyến tổ chức đám tang hết sức trọng thể. Có thể nói là trong miền xưa nay chưa từng thấy. Từ nhà đến huyệt chưa đầy nửa cây số mà rước linh của bà từ giờ Tý đến giờ Ngọ, 12 tiếng đồng hồ.
Các chức sắc, thân hào nhân sĩ trong miền, các môn sinh cùng tất cả mọi người trong thôn, ngoài xã đều nghiêm túc đưa đám bà. Thẩy đều tự ý đi chân đất, đầu không đội nón che dù để tỏ lòng tôn kính bà. Hằng năm cứ đến ngày giỗ bà thì các môn sinh và bà con xóm làng đều đến cúng kiến bà tại từ đường họ.
Trong các văn thơ khẩu truyền lại cho con cháu, bà có rất nhiều bài được giới khoa bảng đương thời đánh giá cao. Con cháu sao chép truyền cho nhau đọc.
Nhưng qua các biến cố lịch sử hồi cuối thế kỷ 19 (Cần Vương Văn Thân, rồi tiếp đó …) nền Hán học suy tàn, con cháu có chút Nho học mất dần. Các tư liệu giữ được trong nội tộc cũng mất theo. Chỉ còn nhớ được một vài bài như sau:

NGẪU CẢM
CHỢT TÌM THẤY MỘT BÀI THƠ CŨ CỦA CHỒNG
Tam thập niên dư ức biệt ly
Kim chiêu nhất biến cố phu thi
Khẩu tụng cửu hồi tưởng dục đoạn
Nhãn khang song hạ lệ giao thùy
Lệ thùy bất giác tâm huyền bái
Tâm bái huyền giao lệ mãn y
Bất thức trùng tuyền tri dữ phú
Lang quân bội ước thiếp vô vi
TRẦN THỊ PHỨC

Lời dịch
Ba chục năm già ly biệt nhau
Thơ chàng chợt thấy sáng nay, sầu !
Miệng ngâm chín khúc tơi bời ruột
Mắt dọc hai hàng lã chã châu !
Lệ nhỏ, lòng buông cờ lất phất
Lòng nao, lệ thấm áo hoen nhầu
Suối vàng chàng có hay chăng chớ ?
Lỗi hẹn là chàng, thiếp lỗi đâu ?
(Đông Xuyên)

Câu đối của bà Cố Cả TRẦN THỊ PHỨC
Khóc chí sĩ PHAN ĐÌNH PHÙNG

Cổ kim thiên địa vô cùng
nhi lưu thủy, nhi cao sơn đồng thử đại trượng phu vũ trụ
Lam chi phong, Hồng chi tuyết tuế hàn mạc cảm bá tùng điêu
Vị hà tai, hộ quyết đồi ba, trung lưu để trụ, tinh di vật hoán, hà nhân bất tác thâm sơn oán
Huống thử nhật long vi vân tán, đồ ta nhân sự vô thường
Khả lân la, Việt giang sơn, bách niên văn hiến phiên cung mã.

Thành bại anh hùng nan luận
thử cô trung, thử đại nghĩa
thệ dữ tiên quân tử thủy chung
Châu chi anh, Mạc chi linh,
độc thư tối thị cương thường trọng
Sở hận giả thùy điên đại hạ, nhất mộc nan truy,
hà nhân bất khởi cố viên tình
Cập thử nhật, nhạn tán phong suy khâm thán khiên tâm mạc trợ
Độc cảm tùng mai khí tiết, nhất tử tinh thần quán đẩu ngưu.

(Học giả Đào trinh Nhất sưu tầm
Thập ngũ đại thế tôn hiệu đính)

Bản dịch

Trời đất xưa nay thế mãi
Đá dựng ngược, nước chảy xuôi, đó vẫn là non sông phường tuấn kiệt
Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng úa rụng luống xông pha
Đau đớn thay, đê vỡ sóng tràn, giữa dòng trụ đứng, sao dời vật đổi, ngảnh đầu người cũ phải bồn chồn
Đương lúc này, rồng bay mây tan; than ôi ! sự tế khôn thường.
Chỉ thương La Việt giang sơn, trăm năm văn hiến vang cung ngựa

Thua được anh hùng xá kể,
đây lòng trung,
đây nghĩa cả,
thề cùng tiên quân tử thủy chung,
tinh anh son mực,
người đọc sách coi cương thường nghĩa trọng
Căm hận đấy ! nhà to gió chuyển, một cây khó chống,
phòng lạnh khói tan, tình cố viên, ai dè không đau
Há đương thời gió thổi nhạn tan, khá trách lòng trời chẳng giúp
Trạch cảm tùng mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao.

Phả ký

Phả ký là một hình thức „râu ria“ của gia phả, không những ghi tên cúng cơm, ngày giỗ và mộ phần của tổ tiên mà còn chép lại sự nghiệp, các biến cố xảy ra trong chi tộc, một hình thức tỏ lòng hiếu nghĩa, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục.
Ở Đức, từ 1875 có Stammbuch, tạm gọi là „tiểu“ gia phả, tức là chỉ ghi gốc gác, tên họ ông bà hai bên nội ngoại, cha mẹ và con cái, một dạng hộ tịch để sao lục khai sinh khi cần.
Không phải dòng tộc nào cũng có phả ký, chẳng phải do xuất thân cao hèn gì mà đơn giản viết lách ghi chép là việc tốn kém thời gian, ít ai thích làm. Dòng họ Võ đời thứ 14 có ông ngoại tôi do liệt một chân bởi mắc bệnh Polyo nên lấy bàn ghế làm bạn tri kỷ, lấy nghiên cứu ghi chép làm thú vui, cái mà thời đại nay gọi vắn tắt là „Hobby“, viết tắt của hobby-horse, một đồ chơi giải trí trẻ con làm bằng que gỗ có gắn một đầu ngựa cũng bằng gỗ hay nhồi bông, trong văn học nghệ thuật châu Âu thường dùng để châm biếm tầng lớp hiệp sĩ (Rittertum), ở Việt Nam hay thấy trên sân khấu hát bội, tuồng „Lữ Bố hí Điêu Thuyền“, Lữ Bố mặt vẽ như tù trưởng da đỏ, tay cầm cái chổi lông gà thay hobby-horse „Tung trời ta lướt gió …“.
Thú vui này dẫn đến kết quả là bây giờ tôi được „ôm“ cuốn phả ký dòng họ … Võ. Do đời thứ 16 thuộc thế kỷ hiện đại văn minh, biết xài đồ của Bill Gates và Mark Zuckerberg, nên tôi có nhiệm vụ lưu phả ký vào Blog và đưa lên Facebook, vì gõ cọc cọc đã có các cụ rỗi rãnh thời gian làm giúp rồi, nhưng các cụ chỉ biết gõ thôi, gõ được phần nào phải nhờ người giữ hộ ngay, sợ máy bị trục trặc là mất hết. Các cụ bảo thế.
Thành ra Blog của tôi có thêm phần phả ký họ Võ chả liên quan đến ai ngoài … tôi với cái giọng Sài Gòn mang âm hưởng Nghệ An trọ tra trọ trẹ. Duy nhất có lẽ chút ít gì đó về phong tục tập quán người xưa mà nếu kể cho đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thì nó sẽ nhún vai thản nhiên trả lời: Typisch vietnamesisch!
Độc giả Blog, Follower, Facebooker kiên nhẫn chờ Phụng Nghi Đình sẽ ra mắt … từ từ vì Lữ Bố còn đi … mua ngựa.