Survival kit

Hình: Đèn dynamo không cần pin

Mấy hôm nay nước Đức xôn xao về vấn đề chính phủ chuẩn bị công bố kế hoạch phòng vệ dân sự, kêu gọi dự trữ thực phẩm và nước đủ dùng trong ít nhất 10 ngày phòng trường hợp xảy ra khủng bố hoặc tai biến.
Phải nói thêm rằng từ khi kết thúc chiến tranh lạnh năm 1989, nước Đức giảm dần ngân sách quân đội. Trước kia, thời hạn quân dịch ở Đức là 12 tháng. Em trai tôi cũng phải thi hành quân dịch sau khi tốt nghiệp tú tài lúc 20 tuổi. Tại thời điểm đó, thời hạn quân dịch là 10 tháng. Vì ẻo lả trói gà không chặt nên nó xin đi làm dân sự 13 tháng rồi mới đi học đại học.
Hiện nay các cậu tú chỉ học 12 năm theo hệ G8, tức là sau tiểu học 4 năm chỉ phải học 8 năm trung học thay vì như tôi trước kia học đến lớp 13 mới thi tú tài. Cũng miễn quân dịch. Ai thích có thể xin đi làm việc thiện nguyện 1 năm, tiếng Đức gọi là „Soziales Jahr“. Đa số các cô tú cậu tú chọn đi đến các thành phố xa tít mù khơi như Johannesburg ở Nam Phi hay qua Ecuador, Peru hoặc Peking, Shanghai thay vì làm việc xã hội ở viện dưỡng lão hay trong bệnh viện sát cạnh nhà. Nói chung với việc bãi bỏ chính sánh quân dịch, giảm ngân sách quân đội, nước Đức là thiên đàng của tự do, no ấm và hòa bình vì chẳng phải lo đào tạo thanh niên tập bắn súng để có thể tự vệ phòng khi quốc gia bị xâm lăng.
Người Đức thế hệ thứ hai sau Đệ nhị thế chiến cũng dần quen sống trong tiện nghi như chỉ cần cuốc bộ vài bước hay lái xe vài phút là có thể vào siêu thị mua đồ ăn cho cả tháng, chất ngập ự tủ lạnh hay dưới hầm, rồi hoang phí vất vào thùng rác khi đồ ăn hết hạn. Vì vậy việc chính phủ rục rịch thông qua chiến lược phòng vệ dân sự không khỏi gây hoang mang, nhất là trong lúc nước Đức đang gặp khó khăn về làn sóng tị nạn cũng như tình hình an ninh bất ổn tại các nước láng giềng Pháp, Bỉ.
Tôi chợt nhớ cách đây hơn 40 năm, những ngày vào cuối tháng 04.1975, ba tôi cũng chuẩn bị cho mấy chị em tôi mỗi đứa một túi xách – đúng ra là một cặp táp vì lúc đó trường học đã đóng cửa, cặp táp trở nên vô dụng, bị vứt xó – trong đó có một mẩu giấy ghi tên tuổi mỗi đứa, tên ba má tôi và địa chỉ, cùng một ít lương khô loại đồ ăn của lính Mỹ cũng như khoảng 20 đô-la. Lúc đó tôi chưa ý thức được hiểm họa đang chuẩn bị ập xuống đầu mình, chưa ý thức được nỗi nguy cơ vong quốc, gia đình ly tán, chẳng phải vì tôi còn quá bé mà bởi chúng tôi sống ở thủ đô Sàigòn, chỉ „nghe“ tiếng súng của chiến tranh qua giọng hát Khánh Ly mà thôi:

Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dựng chổi đứng nghe

Qua Cali thăm bạn bè, có lần tôi hỏi thằng bạn đường ra BestBuy mua cái đèn pin dynamo, tức là chỉ dùng tay quay quay vài cái là đèn sáng choang, chả cần pin cục hay sạc ắc-quy gì ráo. Thế là nó lôi cái gọi là „survival backpack“ ra, ba-lô với những thứ cần thiết tốt thiểu để có thể sống còn trong khi chờ đợi được cứu hộ lỡ không may bị vùi khi xảy ra động đất vì Cali nằm trong khu vực núi lửa còn hoạt động.
„Ấn tượng“ vô cùng. Tôi chỉ biết vỏn vẹn Cặp-Táp-Tháng-Tư, lèo tèo vài món, làm gì có đèn pin dynamo, làm gì có thức ăn khô của phi hành gia hay một cái búa nhỏ để gõ gõ báo hiệu „SOS. Tôi đang ở đây nè!“. Ngược lại, không có tờ đô nào trong ba-lô cả, có lẽ ở Mỹ họ thích dùng thẻ tín dụng hơn chăng ?
Tôi hoàn toàn tán đồng chính sách phòng thủ, tích trữ lương thực nhu yếu phẩm của chính phủ Đức, mặc ai nói ra nói vào hay chê bai chỉ trích, vì khi ta lâm nguy người cứu ta là chính ta chứ không phải kẻ đã chê bai chỉ trích ta. Người Việt có câu „Có kiêng có lành“ để tránh những điều không tốt có thể xảy ra với họ. Một tư duy rất ư … Á châu, kiểu „tránh voi chẳng hổ mặt nào“. Người Đức hoàn toàn ngược lại. Họ không ngại đối mặt với thử thách, với khó khăn và luôn tìm được cách giải quyết trong bất cứ trường hợp nào. Ngạn ngữ Đức nói rằng „Du mußt den Brunnen graben, bevor du Durst hast“, tạm dịch là „Bạn phải đào giếng trước khi khát“. Thế giới có thể lăn ra cười dân Đức đổ xô đi mua nhu yếu phẩm khi mà siêu thị nhan nhản mỗi góc đường 2, 3 cái. Nhưng hãy tưởng tượng nếu ở Đức bị cúp điện hay cúp nước một tuần ? Trong danh sách người chết chắc chắn sẽ không có tên một người Đức nào. Sau 10 ngày cũng không nốt. Họ đã chuẩn bị „survival backpack“ theo như đề nghị của Bộ Nội Vụ, không phải vì họ là một dân tộc có kỷ luật mà vì họ đã “đào giếng trong vườn sau nhà trước khi chết khát” rồi.
Hiện thời chính phủ chưa thông báo cụ thể „survival backpack“ gồm có những gì nhưng tôi đã bắt đầu danh sách „đầu cơ tích trữ“ với bài toán như sau:

Gia đình 4 người x 2 lít nước một ngày x 10 ngày = 80 lít nước

Do dự trữ lâu không nên dùng loại chai nhựa tôi sẽ phải mua loại chai thủy tinh, một két 12 chai, mỗi chai 0,75 lít, 80 lít là 8,88 két, làm tròn số là 9 két. Nếu 9 két sẽ bị lẻ khi xếp chồng lên nhau, vì vậy làm tròn số lần hai thành 10 két.
Ngày mai sẽ có quyết định chính thức của Bộ Nội Vụ về vấn đề này. Hôm nay tôi phải tranh thủ đi mua nước vì nếu một gia đình cần 10 két thì với dân số tỉnh lẻ biên giới ngót nghét 40.000 người của tôi, tính ra cần … 400.000 két.
Tôi sẽ bị đè chết trong siêu thị trước khi bị chết vì khát !

flaschen

Planungskunst

Tiếng Việt

Innerer Monolog des „besten Ehemannes von allen“

Heute Morgen beim Frühstück sprang mir auf der Titelseite unserer Lokalzeitung ein Artikel mit dem Titel „Kniggekurs für Niederländer“ ins Auge. Im Untertitel las ich, wie Niederländer mit Deutschen umgehen sollen, wobei verschiedene Eigenschaften von Deutschen aufgelistet wurden, darunter „planen“. Ich bin mir nicht sicher, ob es aus externer, d.h. aus „Nicht-Deutscher-Sicht“, eine positive oder negative Eigenschaft ist, aber im Zusammenhang mit dem diesem Artikel, denke ich es nicht positiv gemeint.
Was ist denn „planen“ und wofür brauchen es die Deutschen? Warum wird diese Eigenschaft so hervorgehoben?
Ich weiß es nicht. Für mein Teil bedeutet es, wenn ich mehrere Dinge zu tun habe, lege ich mir Reihenfolge zu deren Durchführung zurecht, denn was mich stört ist, wenn ich irgendwo eine „tote“ Zeit habe, das sind die berühmten 5 – 20 oder Minuten, in denen ich nicht Gescheites tun kann, weil es in der Regel zu kurz ist, eine vernünftige Tätigkeit aufzunehmen. Es ist nicht schlimm, wenn ich vorher weiß, dass ich diese bekannten Minuten habe, weil dann kann ich mich darauf vorbereiten. Wenn jedoch diese Minuten unvorbereitet auf mich eintreffen, dann stört mich das.
Wenn ich für mich alleine planen kann, klappt es sehr gut. Wenn jedoch andere mit beteiligt sind, dann sind Schwierigkeiten vorprogrammiert, weil in diesem Fall ein unvorhersehbarer Faktor hinzukommt: die andere Person. Was passiert im schlimmsten Fall? Streit. Warum?
Ich möchte meinen Plan erledigen, d.h. das Tun, was ich mir vorgenommen habe, weil sonst ein unbefriedigtes Gefühl da ist, das sich in Stress und in Stressreaktionen äußert. Von außen wird als Sturheit wahrgenommen und meine Stressreaktion als Bestrafung meiner Mitmenschen bzw. als Auslassen meiner schlechter Laune an meinen Mitmenschen.
Ich habe nur viel zu tun, und wenn ich alles nicht planen kann, dann kommt die Angst, dass ich es alles nicht schaffen kann.

todoPhoto: Courtney Dirks

Quasi-Monolog des anderen Teils des „besten Ehemannes von allen“

Es gibt hierzu nur eine ganz einfache Erklärung für die Sorge und Nöte des „besten Ehemannes von allen“: Vietnamesen sind … spontan! Es bedeutet nicht, dass sie planlos durchs Leben laufen, sondern lediglich ihre „To-Do-Liste“ so ziemlich überschaubar und leichter zu verwirklichen ist, etwa so:

todo2

Stressed or Desserts ?

Ihr habt richtig gesehen, das ist eine Werbung von McDonald am Düsseldorfer Flughafen. Wir sind weder Anhänger noch Kontrahent dieser amerikanischen Fast-Food-Kette. Als unsere Tochter klein war, klapperten wir jedoch fast jedes Wochende etliche in Aachen und Umgebung „stationierte“ McDonald’s Restaurants ab. Aus dem einzigen Grund: Es gab dort alles, was uns für mehrere Stunde von jeglichen Sorgen und Kümmern befreit. Food, Drink, Toys vom Happy Meal und Klettergerüst. Kaffee gab’s auch. Damals noch als Plörre, inzwischen etwas genießbarer dank der Idee mit dem McCafé. Ab und zu flatterten bei uns ins Haus Gutscheine für einen Softdrink oder eine kleine Portion Pommes, die uns daran erinnerten, dass es wieder Zeit war, ein Besuch bei der amerikanischen Fast-Food-Kette abzustatten.
Jede Abmahnung unserer Familienfreunde wegen fettreicher, zuckerreicher und kalorienreicher Ernährung unseres Nachkommens wurde schlichtweg ignoriert. So lagen im Kinderzimmer, auf dem Dachboden, im Keller, sackweise Happy Meal Spielzeuge, der Küchenschrank voll gestopft mit McDonald’s Logo verzierten Glas- bzw. Plastikbechern.
Wir dachten, dass unsere Tochter irgendwann das Alter diversen McDonald’s Clubs überschreitet und wir endlich anderen Fast-Food-Ketten zuwenden können. Denken ist Glücksache. Wir haben selten Glück. Einmal Club-Mitglied, immer Club-Mitglied. So suchen wir auf der Autobahn nach dem berühmt berüchtigen gelben „M“-Zeichen, wenn wir bei längeren Fahrten mal die Beine verteten möchten, oder jemanden vom Airport abholen oder zum Airport hinbringen. Heute war so eine Gelegenheit. Aber das ist nicht das was ich eigentlich erzählen wollte. Das Bild oben ist nur die Vorderseite der Tischkarte. Die Rückseite sieht so aus:

mcdo2

Manche könnten meinen, mein Leben ist voller Stress. Es stimmt nicht. Ich mag nur den letzten Gang eines Menüs.

10 km Walking – First Time

Ok, ich bin Geld gierig. Meine andere Hälfte meint, manchmal geizig. Aber sag mal ehrlich, wenn Du für Deine Gesundheit etwas tun kannst und erhältst von Deiner Krankenkasse noch Geld dazu: Würdest Du es nicht tun?

Ich kriege von meiner Krankenkasse jährlich ein Bonusheft. Dieses Bonusheft enthält verschiedene Maßnahmen, die, wenn durchgeführt worden, ein Bestätigungsstempel kriegen. Für drei solche Stempeleinträge kriege ich 50€ von meiner Krankenkasse, für 6 100€ und für 9 Maßnahmen gibt es sogar 200€. Einfach, oder? Denke ich, also blättere ich dieses Bonusheft durch und finde die Maßnahme: Teilnahme an einem Volkslauf etc.

Also Laufen ist nicht mein Ding, ich bin zu groß, zu schwer und meine Kniegelenke besitzen deutliche Gebrauchsspuren. Aber Gehen kann ich, d.h. ich suche nun nach einer Möglichkeit wie man beim Gehen Geldverdienen kann und komme mit einer Arbeitskollegin ins Gespräch, die bei der gleichen Krankenkasse ist wie ich. Sie macht mich auf den Aachener Engellauf aufmerksam, 10 km walking oder Nordic walking, in 3 Wochen.

Nordic Walking habe ich schon mal gehört: trockener – weil ohne Schnee – Langlauf. Ohne Skier natürlich, aber mit Stöcken. Was ist walking? Erstmal anmelden über ein Fitness Center, nicht direkt, weil (ich bin ja geizig): Das Fitness Center spendiert ein T-Shirt. Bei der Anmeldung frage ich, was ist walking. Offizielle Antwort: schnelleres Gehen, irgendwo zwischen Gehen und Laufen. Ok, kann ich, schnell auch, wenn es sein muss. Nächste Frage, an mich selbst. Vorbereitung? Erstmal durch den Stadtgarten und zurück. Gedacht und gemacht: 6 km in 1h 06 min, hochgerechnet auf 10km: 1h 40 min. Zu langsam, also nächste Woche nochmal. Aber es gab kein nächstes Mal, sondern nur Fitnesscenter und Crosstrainer.

Der Tag kommt. Ziel gesteckt: 90 min, optimistisch; 100 min realistisch. Der Start ist ein wenig chaotisch: keiner weiß genau wo und in welcher Richtung, aber alles regelt sich von alleine. Das Startkommando wird gegeben und schon das erste Problem: zu viele Leute, die Ski-Langlauf machen wollen und nicht vom Fleck kommen. Lösung: irgendwie durch mogeln. Endlich freie Bahn. Vorne marschieren, Entschuldigung, walken die ersten in einem beachtlichen Tempo. Zu schnell für mich. In diesem Moment kam mir das Glück zur Hilfe: Ein Herr, etwa in meinem Alter, besitzt ungefähr ein Tempo, mit dem ich irgendwie mithalten kann. Solidarisch walken wir ca. 6,5 km, durch Matsch mit Sonne oder Windböen oder Regen, alles abwechseln inklusive Steigungen hoch und runter, wobei mir das runter etwas schwerer fällt als das rauf, weil meine Zehen irgendwie gegen die Schuhe drücken, bei bergab. Das Ganze begleitet durch eine nette Unterhaltung mit dem Mitstreiter.

Nach 6,5 km wird der Abstand zu meinem Mitstreiter etwas größer und ich kann auch die Lücke nicht mehr schließen. Ab 7 km walke ich alleine. Die Muskeln werden härter, die Bewegungen nicht mehr so flüssig. Die Sehnsucht nach einer Sitzgelegenheit wird größer. Der Inhalt eines gereichtem Becher Wasser erreicht nur zur Hälfte das Ziel. Jede kleine Steigung wird zur Qual. Endlich eine Bank nach Kilometer 8. Rückenschmerzen, verhärtete Beine und eine Blase am Fuß versuchen mich zu überreden, mich hinzusetzen. Mein innerer Schweinehund werft ein, dass, wenn ich erstmal sitze, nicht mehr so schnell aufstehe. Ergebnis: weiter. Hinter jeder Kurve wird vermutet, dass ein Schild mit 9 km auftaucht. Nach einer unendliches Anzahl von Kurven kommt das Schild. Das Ziel rückt näher, die Musik aus dem kleinen Stadion, in dem sich das Ziel befindet, wird lauter. Endlich ist eine Schranke beim Eingang zum Stadion zu sehen. Mehr Leute stehen dort auch rum. Jetzt noch ein kleines Stück. Jemand fragt mich nach meiner Startnummer. Mein Mitstreiter steht an der Seite und feuert mich an.

Endlich ist es geschafft. Erster Blick auf das Handy: Es ist 11:55 Uhr. Start war ca. 10:30 Uhr., d.h. unter 90 min. Schön! Ein Griff zu einem Powerrade fake und erstmal trinken und handshake mit meinem ehemaligen Mitstreiter. Irgendwann kommt meine offizielle Zeit: 1 h 26 min 2 s. Super Zeit.

Vielleicht mit einwenig mehr Training ist nächstes Mal eine bessere Zeit drin, vielleicht auch ein neues Bonusheft von der Krankenkasse. Leicht verdientes Geld? Nein. Wenn ich mir überlege, wie lange meine Beine und die Blase am Fuß weh tun, ist es ein mieser Stundenlohn, finanziell. Für die Gesundheit: UNBEZAHLBAR.

Vô cùng thương tiếc – Ơn mãi tạc lòng

Với bộ râu cằm đặc biệt, hình ảnh Tiến sĩ Neudeck qua bao năm tháng không chỉ neo chặt trong lòng hơn 11.000 thuyền nhân Việt Nam mà còn là biểu tượng của người Đức nhân ái, trút bỏ cái vỏ lịch sử đen tối đè nặng lên họ từ chiến tranh thế giới thứ hai.
Sinh ngày 14.05.1939 ở Danzig-Langfuhr nay thuộc lãnh thổ Ba Lan, cậu bé Rupert theo mẹ, chị và 2 em trai chạy trốn Hồng quân Liên Xô vào mùa đông năm 1945. Họ lỡ chuyến cuối cùng của tàu „Wilhelm Gustloff“ trong „chiến dịch Hannibal“ di tản thường dân và viên chức. Và sống sót. Con tàu này bị tàu ngầm Nga bắn ngư lôi đánh chìm làm khoảng 9.400 người mạng vong. Gia đình ông trốn chạy vất vưởng đến Westfalen, sống qua ngày nhờ những chén súp của tín đồ phái giáo hữu Quaker. „Hương vị súp vẫn còn đọng trên lưỡi tôi„, ông thổ lộ mỗi lần hồi tưởng lại cuộc phiêu lưu đã in đậm trong tiềm thức. Định cư tại thành phố Hagen, đại học ngành Triết, Ngôn ngữ và Văn chương Đức ở Münster, sau khi trình luận án tiến sĩ, Neudeck hành nghề phóng viên, biên tập viên cho các báo, đài phát thanh tên tuổi, chuyên mục chính trị.
Một ngày vào năm 1979, Neudeck vào phòng thu hình của ký giả Franz Alt, hiện là giám đốc đài truyền hình Baden-Baden, trỏ tay chỉ vào hình ảnh những chiếc ghe mong manh chòng chành trong lòng đại dương mênh mông: “Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi nhìn thảm cảnh như vầy mỗi ngày sao ?”. Trước sự quả quyết của Neudeck, ông Alt liều lĩnh đưa ra đề nghị mà chưa được sự chấp thuận của ban giám đốc chương trình truyền hình: “Tôi cho anh 2 phút để kêu gọi khán thính giả về sự tha thiết của anh”. Chỉ trong vòng ba ngày, dân Đức đóng góp một triệu ba Đức Mã. Đây là „một trong những hành động cứu người đẹp nhất trong lịch sử hậu chiến của Đức“ mà không có sự hỗ trợ nào từ phía chính phủ. „Ein Schiff für Vietnam“ (Một con tàu cho Việt Nam) nhổ neo rời hải cảng Kobe, Nhật Bản, vào ngày 9 tháng 8 năm 1979, lúc 15 giờ 23 phút, trực chỉ biển Nam Hải tìm vớt thuyền nhân Việt Nam. Và Rupert Neudeck đã tìm thấy mục đích cuộc sống đời mình. Cap Anamur I ra khơi từ 09.1979 đến 05.1982, vớt 9.507 thuyền nhân, Cap Anamur II ra khơi từ 03.1986 đến tháng 07.1986, vớt 888 thuyền nhân, Cap Anamur III ra khơi từ 04.1987 đến 07.1987, vớt 905 thuyền nhân, tổng cộng 11.300 người.
Ủy Ban Cap Anamur sau thời gian cứu người tị nạn vượt biển mở rộng phạm vi hoạt động, xây dựng và duy trì một số bệnh viện tại Việt Nam, một số trạm y tế tại Kolumbia, Ethiopien và Irak. Năm 1993, tại Storkow thuộc bang Brandenburg, “Làng Hòa Bình Cap Anamur” được thành lập, nơi người Đức và người ngoại quốc sống chung với nhau. Năm 1999, trong giai đoạn chiến tranh tại Kosovo, Neudeck tổ chức cứu trợ người di tản. Cap Anamur giúp đỡ người tị nạn tại Mazedonien và Albanien, xây dựng lại nhà ở và trường học tại Kosovo, cung cấp xe chở rác và xây dựng các trạm xá y tế. Cap Anamur giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc tại Sudan cũng như nạn nhân Taliban tại Afganistan. Năm 2003, Neudeck sáng lập tổ chức „Grünhelme“ (Hội Mũ xanh lục) kêu gọi giúp thiện nguyện xây lại nhà ở, làng mạc hoặc hệ thống nước bị tàn phá do chiến tranh.
Rupert Neudeck được trao nhiều giải thưởng cao quý – một phần cùng với vợ là bà Christel – như huy chương Công dân anh dũng Theodor-Heuss, giải Nhân quyền Bruno-Kreisky, giải Bác ái, hòa bình dân tộc Erich-Kästner, giải Nhịp cầu tôn giáo, chính trị Walter-Dirks. Tháng Tư 2016 vừa qua, cựu nghị sĩ hạ viện Wolfgang Thierse vinh danh 40 năm dấn thân cho người tị nạn của ông bà Neudeck.
Trong buổi kỷ niệm 35 năm Cap Anamur tổ chức tại Hamburg, Neudeck mở đầu bài diễn văn làm xúc động hàng ngàn trái tim: Hỡi các bạn Việt Nam trên nước Đức cũng như khắp nơi trên thế giới, xin noi gương một tổng thống Mỹ, hôm nay tôi muốn nói với các bạn rằng „Tôi cũng là một người Việt Nam“ – Ich bin auch ein Vietnamese. Ông không hề hối tiếc việc khởi xướng Cap Anamur mà còn tự hào „Những thuyền nhân Việt Nam là nhóm người ngoại quốc ưu tú nhất mà người Đức vẫn từng mơ ước đó là đồng hương mới của mình. Sự hội nhập của họ thật là tốt đẹp„.
Sau ca giải phẫu tim lần thứ 3, Tiến sĩ Rupert Neudeck từ trần tại bệnh viện ngày 31.05.2016, hưởng thọ 77 tuổi. Hàng ngàn người Việt từ khắp nơi trên toàn nước Đức đổ về dự lễ tưởng niệm ông hôm 14.06. Trong không khí trang nghiêm, xúc động, đầy tri ân tại thánh đường St. Aposteln ở Köln, Đức Hồng Y Woelki trân trọng bày tỏ: „Rupert Neudeck đã bảo vệ sự sống, nhất tâm và không nhượng bộ. Nhiều người hiện diện tại đây hôm nay mang ơn ông cứu mạng„. Với Hồng Y Woelki, sự ra đi của Neudeck chỉ như một „tạm dừng“ vì „sứ mạng của ông dường như vô tận không bao giờ chấm dứt“.
Một bài báo WDR đặt tên sự nghiệp cứu người nhân đạo của Neudeck bằng tựa đề „Menschenfischer und Dickkopf“- Kẻ chài lưới người ương ngạnh.