Ai là tác giả bài „Tiền và lá“?

Trong bài Blog „Dậy sao?“ tôi có trích thơ „Tiền và lá“, đề tác giả là Kiên Giang, dù nhiều giả thuyết cho rằng Nguyễn Bính mới là chủ nhân thật sự.
Tôi có tìm thấy một bài trên mạng mà trong đó nhà thơ Kiên Giang xác nhận bài này là của ông, Nguyễn Bính chỉ sửa vài chỗ thôi. Tôi không những „phen“ (fan) Kiên Giang với „Hoa trắng thôi cài lên áo tím“, mà tôi cũng phen „Tiền và lá“, tiền thì khỏi giải thích rồi, lá thì năm nào thu đến tôi đều ca cẩm:
Thu ơi thu đến làm chi?
Lá rơi, gió cuốn thổi đi phương nào ?

Nhiếp ảnh gia: Nicholas Đặng

Vì vậy tôi chong đèn đọc đi đọc lại
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra

để xem „dáng thơ“ ra sao, xem tiền của ai, xem lá của ai?
À, để độc giả có thể so sánh tôi xin đăng lại bài thơ với hai ghi chú khác nhau về tác giả nhé!

Kiên Giang Nguyễn Bính
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“
Ngày thơ, mẹ bắt đeo „bùa cầu ông“.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn „tượng người“,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“.
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!
Tuổi thơ tóc để gáo dừa,
Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cần ong.
Hai ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay nhau giữa cánh đồng cỏ xanh,
Hai nhà chung một mái gianh,
Chia vui từng trái ngọt lành có nhau,
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời,
Em moi đất nặn hình người,
Anh thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Em mang ra bán lấy tiền lá rơi.




Tiền là giấy bạc em ơi!
Tiền là giấy bạc do đời làm ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ mỗi buổi chiều lên,
Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời …
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Ngày xưa cô giáo dạy phân tích phải có đầu có ngọn, nên tôi tạm dẹp kiểu viết văn kể chuyện … trên trời
… có đám mây xanh,
ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
mà đánh số thứ tự như làm liệt kê dân số ấy.

Thứ 1
Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“

Trích tự điển Khai Trí Tiến Đức

Theo tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt tên tiếng Pháp của l’Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites), một hiệp hội tư lập với mục đích trao đổi văn hóa giữa trào lưu Tây học và truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 (1919-1945) thì „vùa“ là đồ dùng nhìn như cái bát, cái lư. Mô-đen „miểng vùa“ tức là tóc cắt nham nhở như một phần của cái vùa – „miểng“ là tiếng miền Nam, ám chỉ một phần nhỏ của thủy tinh hay đồ sứ bị vỡ, người Bắc gọi là „mảnh“.
Nếu cho là

Tuổi thơ tóc để gáo dừa

thì cũng không đúng hẳn „Bắc-Kỳ“.
Trong „Hồi ký về thời thơ ấu và quãng đời học sinh của tôi cho đến lúc ra đời kiếm sống“ của ông ngoại, chào đời tại làng Yên-Nhân, huyện Yên-Lãng nay là huyện Mê-Linh thuộc ngoại thành Hà-Nội, thì để đi „hỏi vợ“ theo phong tục tảo hôn thời ấy, năm 13 tuổi ông cố bắt ngoại đi „hớt“ tóc theo kiểu người lớn chứ không theo kiểu „móng lừa“ như trước. Vậy đúng ra nếu là của Nguyễn Bính bài thơ phải bắt đầu
Tuổi thơ tóc để „móng lừa“

Thứ 2
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.

Văn bản của Kiên Giang đọc nghe tròn vẹn hơn từ ý đến lời, tả cảnh hai đứa bé dắt tay nhau đi học, băng qua những cánh đồng lúa miền Nam cò bay thẳng cánh.
Hơn nữa những câu thơ như
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời
không đúng bằng hình ảnh
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời
ý muốn tả con nít chơi „ngu“ leo lên miệng giếng, ngồi đếm những ngôi sao được phản ánh xuống nước, chứ không phải „ra bên giếng“ rồi đứng ngó lên trời đếm sao.
Nguyễn Bính là thi sĩ với những bài thơ tình tuyệt tác, mỗi bài thơ tả đúng tâm trạng nhân vật, như „phải lòng“ cô giáo thì
Ước gì tôi được quen cô giáo
Để đến theo cô học vỡ lòng
Chỉ sợ trò đông bàn ghế chật
Tuổi nhiều cô có nhận cho không?
Nếu cô đồng ý nhận cho tôi
Tôi sẽ theo cô đến suốt đời
Suốt đời tôi chỉ theo một lớp
Suốt đời tôi học lớp cô thôi!

Nên hai câu
Đêm nằm ngắm ánh giăng cao,
Ra bên giếng ngọc đếm sao trên giời

khiến bài thơ tả tình yêu dại khờ tuổi tóc „miểng vùa“ đâm ra chân thấp chân cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (ca dao)
vì chỉ có người lớn mới thơ mộng kiểu thức khuya nằm dưới đất nhìn lên trời mơ mơ mộng mộng, chứ con nít quê ở miền Nam tối trăng lên là chui vô mùng trốn muỗi hết rồi, ngồi trong nhà nhìn ra thì đúng là thấy
Đêm vàng soi bóng trăng cao
thật vì trong nhà để đèn dầu tối u u, vàng leo loét, sẽ thấy đêm vàng do ánh đèn và ánh trăng pha vào nhau tạo nên hình ảnh đó.

Thứ 3
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“

Vùng Nam-Kỳ lục tỉnh vốn ít nhiều chịu ảnh hưởng của tôn giáo xứ Chân-Lạp như đạo Bà-La-Môn, có phong tục đúc những tượng thần bằng đất để thờ. Người Bắc nếu nói về nắn tượng thì chỉ có trò chơi nặn tò-he mà thôi, còn thì họ đúc những tượng lớn để trong đền, chùa.
Cũng như người nặn tượng trong bài thơ phải là nam giới và người mua là nữ thì mới hợp lý hợp tình với câu
Người mua đã bị mua rồi
ở đoạn kết.

Thứ 4
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì?

Câu trên không đủ xuất sắc để làm câu „đến đây là chấm hết chương trình của ban Tùng-Lâm“ bằng

Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!

Chợ lòng có hai nghĩa
1/ Chợ „trong lòng“, ý nhắc lại kỷ niệm xưa với cô bé chơi trò nhặt lá mua tượng vẫn còn để lại trong ký ức.
2/ Chợ lòng = chợ nhà lồng, loại chợ tiêu biểu ở miền Nam – giống kiểu chợ Bến-Thành tại Sàigòn – mà hầu như các tỉnh Nam-Kỳ đều có, như chợ lồng Hàn-Dương (Cần-Thơ), chợ lồng Trà-Ôn (Long-Xuyên), chợ lồng Rạch Giá, quê của thi sĩ Kiên Giang. „Chợ nhà lồng“ mang ý nghĩa tượng hình giống như cái lồng, có giới hạn phạm vi nhưng không bị che kín, có mái che nhưng kiến trúc và tổ chức không gian của chợ vẫn thoáng mát, mang đặc trưng của vùng sông nước Cửu Long, vì chợ Nam bộ thường nằm sát bến sông hoặc gần các ngã đường lớn.
Người Nam phát âm „lồng“ và „lòng“ na ná nhau nên có lẽ Kiên Giang đã „chơi chữ“, dùng „chợ lòng“ theo kiểu phát âm của người Nam để vừa đưa lên hình ảnh chợ quê ở Nam-Kỳ, vừa diễn tả nỗi lòng u hoài nhớ về một trò chơi trẻ con mà nay
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi (Hàn Mạc Tử)

Chợ nhà lồng Rạch Giá

Thứ … Chủ nhật

Càng đọc càng thấy văn bản của Kiên Giang mang âm hưởng của một người miền Nam hiền hòa, không
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa (Nguyễn Bính)
mà chỉ tự an ủi
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.

Ông mất vì đột quỵ khi đem tiền lương hưu của mình từ Long Xuyên lên Sàigòn giúp gia đình một đứa trẻ ở An-Giang bị xe tông văng khỏi bụng mẹ.
Khoảng 40 năm trước, ông có ước hẹn với soạn giả Hoa Phượng (người An-Giang) khi nào có điều kiện sẽ về quê hương tổ chức hát cải lương miễn phí cho bà con ở quê xem. Gia đình đứa bé trên ở cùng làng, cùng quê với Hoa Phượng khiến Kiên Giang động lòng quyết đi thăm. Trong khi ông đang ngồi viết một lá thư kể về ý định vì sao mình muốn giúp gia đình này, có dính dáng đến soạn giả Hoa Phượng ra sao thì ông đột quỵ và mất.
Ông là thi sĩ, ký giả, soạn giả người Nam „rặt“, nên nếu có ai nói bài „Tiền và lá“ là của Nguyễn Bính thì chắc ông sẽ vui vẻ trả lời:
„Dậy sao?“

Dậy sao?

Tặng những người bạn “bắt cá gô bỏ gổ kêu gột gột” của tôi.

Nhiều người hỏi bộ tôi sinh ra tại vùng Đất Mũi hay sao mà ghi „Đến từ Cà-Mau“ ?
Thật ra tôi chào đời ở nhà bảo sanh Đức-Chính, nằm trên đường Cao-Thắng, Sài-Gòn. Nhưng Facebook không có địa danh Sài-Gòn nên tôi chọn Cà-Mau, nơi đã gắn liền một thời tuổi mộng mơ tôi của với những ao cá đầy sình, những gốc chuối đầy vắt và những tấm mùng đầy muỗi của những buổi chiều tối om om, ngồi thu lu trên giường mà nhớ trường, nhớ bạn da diết.

Khoảng năm 1978-1980 tôi thường túc trực ở Cà-Mau tìm đường vượt biên. Những hôm không phải trông „anh, chị“ – tuy là vai trên vế trước nhưng lại nhỏ tuổi hơn nên tôi thành … vú em – tôi hay la cà với đám con nít cùng trang lứa, lội ao, bắt ếch, hay tập tành gánh nước. Nhưng có lẽ người „thành phố“ như tôi không quen cửu vạn cho nên tôi không tài nào làm theo được, nước cứ sóng sánh cả ra ngoài, gánh về đến lu nhà thì vơi đi chỉ còn nửa thùng.
Thời gian ở Cà-Mau tôi vỡ dạ nhiều thứ.
Thứ nhất: Không được bơi kiểu „yết-kiêu“ như ở hồ An-Phú – tức là bơi đúng như vận động viên, đầu hụp lên hụp xuống, hít thở nhịp nhàng – mà phải bơi … chó, giữ đầu luôn ở trên mặt nước, vì nếu không một hồi sình sẽ bám đầy lỗ tai, lỗ mũi.
Thứ hai: Người Cà-Mau không đi „một mình“, người Cà-Mau đi „ên“.
Người Cà-Mau nói riêng, và người Nam nói chung, có khẩu âm khác với người Bắc tuy cùng nói một ngôn ngữ giống nhau, cùng hưởng một nền văn hóa giống nhau, cùng … chưởi thề giống nhau. Thí dụ ở Sàigòn tôi nghe tụi con nít ở ngõ tôi í ới:
– Đ.M. mày con bà Ba bán xôi!
thì ở Cà Mau tôi hầu như ngày nào cũng vừa một tay giữ „thằng anh họ“ đang sợ hãi ôm chân tôi, tay kia giơ đấm ra dọa mấy đứa con nít đứng trước cửa nhà hét đổng vào:
– Đ.M. mày con bác sĩ Nhã!
vì „thằng anh họ“ của tôi suốt ngày đàn đúm đánh nhau với đám trẻ con trong xóm.
Hồi đó tôi không hề thắc mắc dở „ẹt“ hay „ẹc“, „cụt“ hat „cục“, „cát“ hay „các“, tôi chỉ thấy ở Cà-Mau có nhiều cái tôi phải học, phải nhớ để không bị lạc lõng ở cái xứ mà muỗi, vắt sinh sôi nẩy nở theo một tỷ lệ tôi không thể nào giải nổi phương trình dù chỉ có một „con ẩn số“ này.

Hôm nọ, vô tình có đứa bạn hỏi „dở ẹt hay dở ẹc nhỉ ?“ làm tôi chợt nhớ về cái thuở „tập làm người Cà-Mau“ của tôi. Người Cà-Mau phát âm chữ „mình ên“ không giống như „đi lên“, cũng không như „đi lơn“, mà là một âm ở giữa hai âm „ơn“ và „ên“. Phải học được cách bơi để tai không bị dính sình thì mới phân biệt được sự khác nhau này, nhất là nếu bạn là „Bắc kỳ ăn cá rô phi, ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc kỳ“ như tôi.
Người Nam hiền hòa, dễ tính, nên chẳng hay kèo nèo, phải trái hơn thua, nếu bạn cho là đúng thì họ cười xòa thân thiện trả lời „Vậy sao?“, dù bạn dùng tiếng thổ ngữ của họ vì
– người Nam dùng „chén“ thay cho „bát“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „bát“ và „bác“
– người Nam dùng „bén“ thay cho „sắc“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „sắt“ và „sắc“
– người Nam dùng „bận“ thay cho „mặc,“ bởi họ không phân biệt được 2 âm „mặt“ và „mặc“
– người Nam dùng „xắt“ thay cho „cắt“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „cắc“ và „cắt“
– người Nam dùng „tiên“ thay cho „bụt“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „bụt“ và „bục“
– người Nam dùng „vớ“ thay cho „tất“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „tất“ và „tấc“
Và người Nam nói dở … ẹt.
Đó là mới nói về cái khó khi phải phân biệt giữa „t“ và „c“, chưa kể đến những chữ như „bông“ thay cho „hoa“, bởi họ không phân biệt được 2 âm „hoa“ và „qua“, hay người Nam có tiếng „dạ“ ngọt ngào bởi họ không phân biệt được 2 âm „vâng“ và „dâng“, vân vân và „dân dân“.

Tiếng miền Nam phong phú, văn thơ miền Nam gần gũi:

Ngày thơ, hớt tóc „miểng vùa“
Ngày thơ, mẹ bắt đeo „bùa cầu ông“.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn „tượng người“,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem „người đất“ đổi tiền „lá rơi“.

Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.

Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!

Tiền và lá – Kiên Giang

Nhiếp ảnh gia: Nicholas Đặng

Ngày còn bé tôi thường dùng tiếng Bắc, có lẽ vì ông bà, cha mẹ, cô chú bác đều cố giữ những gì gợi nhớ về một miền bắc xa lắc xa lơ không tưởng tượng ra nổi, dù trong trường đa số bạn bè người Nam, cô giáo người Nam. Một thằng bạn „bắc kỳ ăn cá rô phi“ của tôi mãi cho đến bây giờ đầu hai thứ tóc vẫn nhớ cái hôm giờ toán lớp Năm, học về đo lường, cô sai nó xuống văn phòng mượn cái „quặng“. Thằng con chẳng biết cái „quặng“ là cái gì, cũng chẳng dám hỏi lại cô giáo, chỉ ráng nhớ sao phát âm cho đúng chữ „quặng“, chứ mà về tay không thì chết đòn với cô.
Sau này, từ khi „tập làm người Cà-Mau“, tôi chuyển sang giọng Nam, dù cái tiếng Nam của tôi nó cứ lợ lợ như nước sông Cửu-Long, mà người Nam còn gọi là „nửa mùa Lệ-Thủy“.
Chỉ có cái tôi chưa học được của người Cà-Mau là tánh dễ dãi, xuề xòa, chưa biết trả lời:

– Dậy sao?

Đời không như ý

Hôm nay có việc cần ra bưu điện bỏ thư, định khoảng 3,4 giờ mới ra khỏi sở, sớm hơn thường lệ để còn kịp trong giờ làm việc của Post, nhưng đùng cái xếp lên giờ họp trễ nên tôi xin xếp cho chạy đi bỏ thư chút về liền. Xếp ok. Chạy ra bưu điện ở gần đây nhất thì thấy bà con làu bàu từ trong bưu điện đi ra. Tôi vô thì thấy dán bảng … hôm nay bưu điện nghỉ … „đột xuất“. Lại thêm 1 người làu bàu đi ra nữa.
Tôi phải lái xe vô tận trung tâm, bưu điện chính.
Xếp hàng.
Tới phiên.
Cô nhân viên nhát gừng: Bảo đảm hay không bảo đảm ?
Tôi (thấy teo): Chắc là gởi thường thôi cô ạ ! T
rả lời rất lễ phép vì biết cô ấy đang khó ở trong người, có lẽ do không có hứng làm việc trong một ngày nắng đẹp.
Cô nhân viên dán mẩu giấy nhỏ lên cái phong bì xinh xinh „par avion“.
Tôi rụt rè: Vậy bảo đảm thì bao nhiêu tiền hở cô ?
Cô nhân viên không nhìn lên, chuẩn bị dán tem lên cái phong bì xinh xinh: 6,20 Euro.
Tôi vội vàng: Vậy cho tôi gởi bảo đảm đi !
Cô nhân viên ngước lên chỉ thấy tròng trắng – bỏ thư lên cân: 6,20 Euro.
Trên đường lái xe về lại sở, đạp hết ga để gỡ gạc lại thời gian đứng xếp hàng ngoài bưu điện, tôi tự an ủi mình: Đời không như ý!

An Tiêm giạt bến sông Rhein

Tôi có thói quen nghe radio mỗi sáng trên đường lái xe đến sở làm. Thứ nhất để biết chó cán xe hay xe cán chó, và thứ hai – quan trọng hơn – là sau tin tức có thông tin về những chỗ hôm đó được đặt máy di động, chụp hình xe lái quá vận tốc cho phép trong thành phố là 50km/h, thậm chí có khúc chỉ 30km/h, lỡ nhấp chân ga hơi mạnh tí là „ăn đòn“ ngay. Một tấm hình đen trắng mờ tịt – nhưng bảng số xe thì rõ mồn một – rẻ nhất cũng 20 Euro, cộng thêm tiền cước chuyển vào trương mục của thành phố và lời phân trần với người chồng đáng yêu nhất trên đời này của tôi: „Lỡ“.
Sáng nay đài radio địa phương „HITRADIO 100’5“ loan tin:
Wassermelonen wachsen am Rheinufer!
Dịch nôm na tiếng Việt là „An Tiêm giạt bến sông Rhein“.

Quelle: kinder.wdr.de

Theo phân tích của các toán học gia và sử học gia Đức thì có lẽ do thiên hạ sầu đời rủ nhau ra bờ sông „picnic“, thay vì „ăn khế trả vàng“ thì … „ăn dưa nhả hột“. Hột dưa theo luồng nước sông trôi giạt, vướng vào ghềnh đá. Mùa hè năm nay Đức bị hạn hán, nước rút làm cạn bờ, nắng gắt liên tiếp hằng tháng trời, dưa đâm chồi nẩy lộc.
Người Đức có thói quen giải thích những sự việc xảy ra trong thiên nhiên một cách khoa học, đơn giản, dễ hiểu. Còn muốn thi vị hóa, thần thoại hóa nó thì mua vé vào rạp xi-nê xem phim „Ba hạt dẻ dành cho Lọ Lem“. Phim „Hạt dưa của Goethe“ chưa chiếu.
Người Việt giải thích nguồn gốc dưa hấu lưu lạc từ châu Phi sang Việt Nam qua hình ảnh „Mai An Tiêm là một nhân vật truyền thuyết thời Hùng Vương. Theo truyền thuyết, Mai An Tiêm vốn là con nuôi của Hùng Vương thứ XVII, được vua quý mến gả công chúa cho. Sau vì làm phật ý vua, An Tiêm bị đày ra đảo hoang, tương truyền nay là vùng Nga Sơn, Thanh Hóa. Tại đây, An Tiêm cùng vợ chăm chỉ làm ăn, gây được giống dưa hấu quý, nhiều người tìm đến trao đổi, tiếng đồn khắp xa gần. Vua xuống chiếu gọi về cho phục chức cũ. An Tiêm được coi là ông tổ của nghề trồng dưa hấu ở Việt Nam“ (trích Wikipedia).
Tôi thích truyền thuyết An Tiêm hơn xem phim „Hạt dưa của Goethe“ (chú thích: đến hôm nay vẫn chưa chiếu) không phải vì tôi mũi tẹt da vàng mà có lẽ vì nó cho tôi niềm tin vào hình ảnh ngày lập quốc của người Do Thái sau 2668 năm mang số phận một dân tộc lưu vong.
Tôi trôi giạt đến nước Đức vào mùa đông 1980.
Hạt dưa An Tiêm giạt bến sông Rhein và kết trái vào mùa hè 2018.
Tuyên ngôn lập quốc Do Thái được đọc vào mùa hè 1948.
Tôi tin rằng giấc mộng Đông Du sẽ thành sự thật trong một năm có số 8.

Mẹ-Ên

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường – Tôi đi học, Thanh Tịnh.
Hằng năm cứ vào đầu xuân, lá ngoài đường mọc nhiều và trên không xanh biếc chẳng có đám mây nào, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của dịp lễ Mẹ Hiền – phóng tác từ câu hỏi của thằng bạn tôi „Tại sao hoa Mẫu Đơn lại nở đúng dịp lễ Mẹ Hiền ở bên Mỹ ?“.

Mẫu Đơn là tiếng Mãn Châu (Mudan), có thể do hoa xuất xứ từ Mẫu Đơn Giang, tên một thị trấn ở Mãn Châu, nơi có dòng sông Mẫu Đơn chảy qua:
Lặng nghe tiếng ai ngân bài ca Mẫu Đơn Giang
Lòng tê tái nhưng âm điệu người sao êm ái
Gió chung vui đùa với chuông treo
Thôn nhỏ bên phía sông yên bình giấc nồng an lành

Who is singing ‚Peony River‘ outside the door
I listen carefully to the sorrowful rise and fall of your voice
The windchime sways and makes a clear sound
The small village beside the river sleeps a serene afternoon nap

Từ Hán-Ngữ „mǔ“ (牡) chỉ lấy âm „Mu“ của tiếng Mãn chứ không lấy nghĩa, vì theo Hán-Ngữ 牡 là „giống đực“ hoặc „chốt cửa“ hay còn có nghĩa là „lồi lên, gồ lên, gò đống“.
Người Hán lấy âm Hán để Hán-Ngữ hóa „Mudan“ thành 牡丹, phát âm từa tựa là „mǔdān“.
Người Việt lấy âm Việt để Việt-Ngữ hóa 牡丹 sang Hán-Việt, phát âm từa tựa là „Mẫu Đơn“.
Như vậy „Mẫu“ không có nghĩa là „mẹ“, và „Mẫu Đơn“ không có nghĩa là „Mẹ một mình“, là … „Mẹ-Ên“. Nhưng thằng bạn tôi nhận xét đúng, mùa hoa Mẫu Đơn thường rơi vào tháng 5, trùng vào ngày lễ Mẹ là chủ nhật thứ nhì của tháng này.

Mẫu Đơn

Ở Đức, ngày lễ Mẹ Hiền là ngày hoa bán chạy nhất. Năm ngoái doanh thu riêng cho ngày này lên đến hơn 60 triệu. Vì chủ nhật nhân viên bưu điện bị cấm hành nghề theo Điều §9, Luật giờ làm việc (ArbZG Arbeitszeitgesetz) của Đức, nên „Hằng năm cứ vào thứ Bảy trung tuần tháng năm, lá ngoài đường mọc nhiều và trên không xanh biếc chẳng có đám mây nào“ mẹ tôi lại nghe tiếng nhấn chuông đinh-đong của ông phát thư để mở cửa ký giấy nhận chậu hoa do thằng em tôi gởi đến. Tôi có đăng hình một trong những chậu hoa của nó ở bài Mẹ 8x.

Bạn cũng có thể tặng nước hoa, xà bông thơm, hộp kẹo, nữ trang, hay đơn giản chỉ một tấm thiệp tự làm, trông ngây ngô như tác phẩm thủ công của học trò lớp Nhất. Một món quà khá đặc biệt là „BỨC-VẼ-KÝ-TÊN-HAI-NGƯỜI“ của con bạn tôi, vẽ chung với mẹ nó.Một già, một trẻ, một con thuyền
Lững lơ dòng nước, bóng mẹ nghiêng
Lua khua mái chèo miên man vỗ
Mẹ đưa con về bến bình yên

Trở lại với „Mẹ-Ên“.
Hoa Mẫu Đơn trắng có tên Hán-Việt là Bạch Thược (hoa đỏ là Xích Thược) hay còn được biết dưới tên gọi „Bạch Thược Dược“ vì rễ của nó là một dược liệu trong Đông y. Tương truyền một buổi tối Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe ngoài cửa sổ có tiếng con gái thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ một người con gái rất đẹp mặc xiêm y bằng lụa trắng đang đứng khóc, dường như có điều gì ấm ức lắm. Hoa Đà quá bước ra xem thì chỉ thấy ở chỗ cô gái đứng khóc là cây Mẫu Đơn trắng. Vài hôm sau, vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà lén ra vườn đào rễ cây Bạch Thược đem sắc uống, nửa ngày sau, bụng hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà chợt hiểu Bạch-Y cô nương chính là đóa Mẫu Đơn trắng, do không được ông chú ý đến nên hiện thân thành người con gái khóc than thân phận bị bỏ quên.
Trong tiếng Việt „Thược Dược“ là tên gọi loài hoa Dahlia – được đặt theo tên nhà thực vật học Thụy Điển Andreas Dahl – nên dễ bị nhầm vì trong Hán-Việt hoa Mẫu Đơn trắng không gọi là „Bạch Mẫu Đơn“ mà gọi là „Bạch Thược“ (白芍 Bai Sháo).

Thược Dược trắng (white dahlia)
Mẫu Đơn trắng (white peony)

Không rõ lắm tại sao qua tiếng Việt thì bị lẫn lộn tên như vậy, có lẽ do mình cũng phiên âm sang từ tiếng Hán, mà trong tiếng Hán thì có hoa Mẫu Đơn, Bạch Thược, Xích Thược và Thược Dược. Nhưng „Mẹ-Ên“ thì không nhầm lẫn vào đâu được vì trong tiếng Hán không có hoa „Mẹ-Ên“ bởi

Mẹ-Ên chỉ nở trong vườn nhà tôi

Người em sầu mộng

Theo chương trình Đại-Học Maastricht, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi phải trải qua một lục cá nguyệt tại một trường ở ngoại quốc nhằm mục đích trao đổi kiến thức, văn hóa, khẩu vị ăn uống v.v.
Nó chọn Đại-Hàn, trường Yonsei University.
Bắt đầu từ hôm được chính thức xác nhận có chỗ học lẫn chỗ ở cũng như ký kết nếu dẫn người khác phái vào ký túc xá là xách va-li ra ngủ ngoài sân ga xe điện ngầm Sinchon ngay lập tức, cho đến lúc tiễn nó lên máy bay tôi luôn miệng dặn dò:
– Con đừng đi Bắc-Hàn nghe con, lỡ ông Ủn buồn tình ổng đóng cửa biên giới là tiêu đời đấy con ạ !
Vì vậy khi thấy hình nó chụp ở khu phi võ trang của Hàn-Quốc (Korean Demilitarized Zone) tôi lo ngay ngáy chỉ sợ nó „lỡ bước sang ngang“ vượt quá mức quy định của vùng vĩ tuyến 38 thì đúng là „bỏ bu“ (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). May thay, cùng ngày hôm đó truyền hình tại khắp nơi trên thế giới tường thuật buổi gặp gỡ lịch sử giữa Kim-Chính-Ân (Kim Jong-un) và Văn-Tại-Dần (Moon Jae-in) với cảnh hai nhà lãnh đạo dung dăng dung dẻ nắm tay nhau bước qua lằn ranh biên giới.
Vậy là cả 3 chúng tôi – cha, mẹ và con – đều biết thế nào là chia đôi đất nước, thế nào là bức tường ô nhục, thế nào là vĩ tuyến 38 North. Mỗi người mang một tâm tư, một ấn tượng khác nhau về tổ quốc xé toạc làm hai.
Sau hai tháng sáng kim chi chiều bắp cải muối cay xè thì theo nhận xét của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi hiến pháp Nam-Hàn cũng từa tựa hiến pháp Đức trước 1990 – Điều 23 và Điều 146:
(Nội dung Điều 23: Hiến pháp này trước mắt có giá trị cho các tiểu bang Baden, Bayern, Bremen, Groß-Berlin, Hamburg, Hessen, Niedersachsen, Nordrhein-Westfalen, Rheinland-Pfalz, Schleswig-Holstein, Württemberg-Baden und Württemberg-Hohenzollern. Hiến pháp này có hiệu lực với những vùng khác thuộc nước Đức sau khi những vùng này được sát nhập vào).
Tức là vẫn mở cửa hậu cho một quốc gia có thể thống nhất trong dân chủ và hòa bình.

Người Đức đã xóa chia cắt đất nước và xóa Điều 23 trong hiến pháp của họ, mở trang mới cho một quốc gia hùng mạnh, tự do, dân chủ.
Người Đại-Hàn đang vun xén cho hy vọng „chung một con xuồng“ theo mô hình dựa trên hiến pháp tương tự của người Đức.

Còn tôi ? Tôi có phải ca bài „Người em sầu mộng muôn đời“ của nhạc sĩ Y Vân không nhỉ ?

Quán triệt

Hôm nọ, khi đọc bài tường trình về chuyến đi thăm các em học sinh nghèo ở Tân Châu tôi thắc mắc hỏi „tiền lì-xì tính sao đây ?“ thì con bạn tôi trả lời:
– Tiền lì xì của TT thì tự nó bỏ ra, của mẹ tao thì mẹ tao bỏ ra, không trích từ quỹ chung đâu vì TT quán triệt điều lệ hội là phải tự mình bỏ hết chi phí, quà cáp trong chuyến đi thăm các em mình bảo trợ mà lị !
Tôi i-meo hỏi lại:
– Quán triệt nghĩa là gì?
Con bạn tôi chảnh chọe:
– Từ Hán-Việt đó chị Hai !!!
Quán: quan sát ; triệt: thông suốt một cách triệt để. Vậy „quán triệt“ là thông suốt vấn đề nào một cách triệt để. Đây là từ Hán-Việt.

À há !!!
Tôi chợt nhớ câu chuyện nhỏ về từ ngữ HánViệt của một thằng bạn trong một lần bàn luận về đề tài Hú em ai ?. Nó viết cho tôi như sau:
„Tiếng Việt mình thường dùng chữ „ưu việt“ để chỉ tài năng xuất chúng, nhưng không ai biết nó xuất xứ từ „tú Sở, ưu Việt“.
Tú, túc là đi trước, có trước, tức là nước Sở văn minh, cái gì cũng khám phá ra trước. Còn „ưu Việt“ là dân tộc Việt cái gì cũng giỏi. Bây giờ mình dùng từ „ưu tú“ hay „ưu việt“, „siêu việt“ là do thành ngữ này mà ra, tiếng Pháp hình như là avant-garde. Khi mình nói ông A „sở trường“ về vẽ, hay thi sĩ B „sở trường“ về thơ lục bát thì chữ „trường“ trong tiếng Hán-Việt hay Việt-Cổ có nghĩa là tài giỏi, chuyên về. „Sở trường“ là ví cái tài giỏi của người nước Sở, tức là mấy cụ tổ tiên của mình đó.
Có một câu thành ngữ mà bây giờ bị lãng quên, đó là „Sở quốc tài tử, Việt nam giai nhân“ (nước Sở có nhiều anh tài, phụ nữ tộc Việt ở vùng Nam có nhan sắc). Hầu như 98% phụ nữ Việt Nam có mắt mí đôi, mặt nhỏ, xương hàm nhỏ, cho nên người Tàu mà mắt mí đôi, xuơng nhỏ đều có tổ tiên là Việt tộc của các nuớc Sở, Ngô và Việt. Viện bảo tàng Ontario mượn của Tàu 4 tấm tranh tứ đại mỹ nhân (Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền) về trưng bày, trong đó Tây Thi là gái nước Việt, mắt mí đôi, vai nhỏ, xương nhỏ giống dân Việt mình bây giờ. Còn mấy bà kia, ngưòi thì mập, mắt xếch và ti hí, vai to, mông bự. Ngu Cơ là vương phi của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ, cũng là người nước Sở, tức là tộc Việt, tuy không được liệt vào tứ đại mỹ nhân nhưng nhan sắc không hề kém Tây Thi.“

Chiêu Quân
Dương Quý Phi
Điêu Thuyền

Tôi vốn sợ mình ở xứ người lâu năm sẽ dần quên cái tiếng

I tờ năm dấu ngã nghiêng
Thương em phải biết: chữ „duyên“ y gì ?

nên mỗi lần gặp chữ nào mà không rõ xuất xứ của nó, không biết i ngắn hay y dài, không biết bỏ dấu hỏi hay dấu ngã, tôi thường bắt chước một thói quen của người Đức là … tra tự điển. Việc làm này cũng giống như việc „hỏi cụ Gồ“ (ask google) ở thời đại mà mẹ tôi cũng có Facebook, có Viber, có Skype và đủ thứ những Apps lỉnh kỉnh khác, rồi thỉnh thoảng lại hỏi „Sao mẹ không gọi điện thoại được nhỉ ?“, đơn giản chỉ vì điện thoại cầm tay của mẹ tôi đã „quá tải“ do chứa đủ thứ dữ liệu của đủ thứ Apps.

Khi tôi hỏi cụ „Khai-Trí-Tiến-Đức“ thì cụ gởi tôi tấm hình này:

Vậy „quán triệt“ là trạng từ diễn tả một hành động nào đó được làm … suốt suồn suột:

I tờ năm dấu ngã nghiêng
Thương em quán triệt: chữ „duyên“ y dài.

Vị-Trân

Tôi vốn yêu … đủ thứ ngôn ngữ, không chỉ riêng tiếng Việt hỏi ngã lộn tùng phèo.
Với tôi, tiếng Việt là „bầu trời thơ ấu“ vì đến

Tuổi nào em bắt đầu yêu
Ngồi bên song cửa chiều chiều ngắm mây
Tuổi nào em hết thơ ngây
Đêm đêm cắn bút chau mày làm thơ

(Tác giả: L)

thì tôi toàn xài … tiếng Đức.

Tôi cũng yêu tiếng Hán-Việt, đơn giản vì nó là một phần của cái tiếng Hỏi-Ngã-Lộn-Tùng-Phèo, là „bầu trời thơ ấu“ của tôi.
Đi lòng vòng chẳng qua muốn nói về một từ Hán-Việt mà có lẽ ít ai còn nhớ: Vị-Trân.
Xin trích đoạn thằng bạn đăng trên „Phây-Bút“ của nó, chưa xin phép vì nó còn ngủ mà tôi thì … chuẩn bị đi ngủ, chờ nó ô-kê chắc tôi cũng không còn nhớ Vị-Trân là ai, em từ đâu tới, đã mấy xuân xanh ?
Dọn nhà là một việc làm rất mất thì giờ. Riêng đối với mình thì sẽ mất gấp đôi thì giờ, vì mỗi lần thấy lại một quyển sách cũ hay một tấm hình xưa là mình lại … thẫn thờ suy nghĩ. Dưới đây là hình hai quyển sách cũ tiêu biểu mà mình giữ được đến giờ.
Một quyển bài tập Toán, soạn bởi các giáo sư Toán Cù An Hưng và Phạm Hạnh Thái, trong thập niên 80, dân ban C gọi quyển sách này là sách … Vàng. Vi bìa nó màu vàng, và cũng đồng thời là một cách chơi chữ, gợi nhớ lại loài sách Vàng là sách phóng tác truyện bằng trang của Pháp cuối thập niên 70.

Hai là một quyển sách dạy nấu ăn. Bà cụ mình gửi qua cho con trai xa xứ, để tập nấu ăn. Quyển sách này được soạn vào những năm 30, 40 của thế kỷ trước, nên dùng từ rất xưa, mình đọc nhiều khi không hiểu gì hết. Ví dụ như bột ngọt, người ta gọi là bột Vị-Trân. Quyển sách này xưa ở nhà mình bên Việt Nam được cất trên đầu garde manger nên nó ám khói, ám mỡ nhìn rất giang hồ, dạn dày sương gió. Bây giờ thuộc loại sách cổ, mỗi lần lật ra đọc lại cứ sợ rách …
Bột „Vị-Trân“ là tiếng Hán-Việt, chuyển ngữ từ chữ 味精.
Theo Bính âm (Pinyin) là „wèijīng„. Lỗ tai „Giao-Chỉ“ của tôi nghe nó mài mại như … „mì chính“.

Vâng, đúng vậy, bột „Vị-Trân“ chính là bột ngọt mà sau 1975 trở thành bột „mì chính“.
Chữ 味 là mùi, là „vị“. Năm vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn là năm mùi, là ngũ vị (五味). Nếu thơm thì thành … Ngũ-Vị-Hương (五味香). Không có mùi thơm nhưng lấy từ phương pháp tách chiết rong biển của nhà hóa học Nhật bản Ikeda Kikunae thì cũng là loại trân quý rồi, nên trước kia nó mang một cái tên Hán-Việt rất có ý nghĩa là … „Vị-Trân“, thay vì chỉ đơn giản dịch trơn tuồn tuột theo khẩu âm là … „mì chính“, khi mà chữ „mì“ trong tiếng Việt thật ra là một loại thức ăn làm từ bột, có hình dài dài như sợi dây.

Từ khi nào „Vị-Trân“ thành „bột ngọt“ thì không rõ. Có lẽ do năm 1954 nhiều người Bắc di cư vào Nam, họ phát âm vần „trờ“ như „chờ“, ít nhiều gây ngộ nhận, hiểu lầm, nên „bột ngọt“ ra đời, ám chỉ loại gia vị có màu trắng giống như bột gạo và có công dụng làm cho thức ăn có vị ngọt thịt.

Ai nói tiếng Việt trước 75 không „thuần Việt“ ?
Bột ngọt và mì chính, ai „thuần“ hơn ai ?

Chuyện thằng Hòa Bao Tử

Thằng Hòa Bao Tử cỡ 13-14 tuổi.
Ở ngoài đời nó chuyên đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy, nhiều nhất là bộ phận thông hơi của máy xe gắn máy bằng cao su màu đen có hình dạng giống như cái bao tử người, bởi vậy nên có biệt danh là Hòa Bao Tử. Một băng của nó hoạt động khoảng 7-8 thằng nhóc, băng này bị bắt vô trại giam, mấy tên Đại Bàng nhận tụi nó làm đệ tử, được gọi là Se Sẻ ăn theo đám Đại Bàng. Khi bị đưa lên nông trường thì bị những người đi cùng chuyến từ trại giam lên tố cáo. Luật của nông trường là ngày đầu tiên nhập nông trường, tất cả những người mới lên được cho ngồi ngoài sân đá banh chờ làm thủ tục hành chánh và bảo vệ khám xét hành trang cá nhân coi có dấu tiền hoặc đem theo xì ke. Cùng lúc đó thì những người là Đại Bàng hay Se Sẻ phải tự giác đứng ra nhận hành động của mình ở trại giam, sau đó sẽ bị phạt đánh bằng roi cá đuối (roi là đuôi của cá đuối, có gai nhỏ, quất vô là rách thịt, chảy máu liền) hoặc có khi bị những người đã từng bị ăn hiếp khi ở trại giam đánh trả thù theo lệnh của bảo vệ gọi là luật “Cá ăn kiến, kiến ăn cá“.  Sau khi bị phạt đòn thì đưa về ở đội kỷ luật bị quản lý chặt chẽ hơn thêm một thời gian rồi mới đưa về đội lao động bình thường.
Đám thằng Hòa bị đánh mỗi thằng 10 roi dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Mấy đứa đồng bọn của nó khi mới bị một, hai roi đầu là đã than khóc, xin tha. Riêng thằng Hòa cắn răng chịu đựng, không nói một lời. Tôi chú ý ngay dến nó liền, mỗi một roi chân nó khụy xuống nhưng rồi nó cắn răng, mím môi đứng lên chứng tỏ bản lãnh gan lỳ của nó cho nên tôi „kết“ nó liền vì tính lỳ lợm đáng nể của nó. Sau khi bị đánh thì cả đám được đưa đi ra bờ sông tắm để rửa vết thương chảy máu. Nước sông ở Duyên Hải là nước lợ, có nhiều muối nên chạm vào rất xót, nhưng vì thế nên mau lành. Khi thủ tục hành chánh đã xong thì số người mới lên được chia đều cho các đội. Tôi muốn nhận thằng Hoà làm đệ tử nhưng muốn hù nó thêm, coi bản lãnh nó cỡ nào nên đang đêm cỡ 1 – 2 giờ sáng, tôi sai người qua đội thằng Hòa đang ở, kêu:
– Thằng Hòa Bao Tử đâu ? Qua bên Bảo Vệ làm việc.
Ai đã từng ở trên những trại lao động nông trường đều biết khi mình được nghe lệnh này là „đời tàn trong ngõ hẹp“ rồi. Nó có một cái gì đó khủng khiếp, kinh hoàng, và là nổi ám ảnh của tù nhân lao động. Bạn cứ tưởng tượng trong đêm khuya thanh vắng, dưới ngọn đèn dầu leo lét, bạn phải đối diện với công an hoặc giám đốc và trưởng hay phó Ban Bảo Vệ để trả lời những câu hỏi về một vấn đề gì đó bị nghi ngờ, chung quanh là 4-5 tay bảo vệ mặt mũi bặm trợn, cô hồn, sẵn sàng đánh những đòn không thương tiếc cho tới khi đạt được mục đích. Bởi vậy thằng Hoà có nghe tù cũ ở đây nói về vụ đi qua „Căn Nhà Màu Tím“ (vì vô đó thế nào cũng bị đánh thâm tím mặt mày) làm việc nên nó sợ xanh mặt, líu ríu đi theo tên bảo vệ.
Tôi kêu nó ngồi đối diện với tôi, chung quanh 4 góc là 4 tên bảo vệ mặt mũi bặm trợn đứng khoanh tay chờ lệnh. Tôi hỏi nó về gia cảnh và lý do vì sao bị bắt.
Nó kể là nhà 6 anh em, nó lớn nhất, ba nó bỏ má nó và tụi nó. Nhà quá nghèo, má nó mượn vốn người ta đi bán vé số, nó ở nhà giữ em, có hôm bị giựt mất hết vé số, cụt vốn, thêm nợ nần, xoay sở kiếm sống nuôi 6 đứa con rất là chật vật. Là anh lớn nó muốn giúp mẹ nó nhưng xin đi làm không ai muớn vì nhỏ quá, đói ăn vụng, túng làm liều, nó đành đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó.

Nghe hoàn cảnh như vậy tôi không muốn hù nó như ban đầu dự dịnh nữa, tôi chỉ hỏi nó:
– Mày bị đánh đau như vậy mà không khóc như mấy đứa kia hả ?
Nó trả lời tỉnh bơ:
– Có sức chơi, có sức chịu, khóc cái gì.
Tôi hỏi nó:
– Mày muốn qua đây ở với tao không ?
Chỉ cần mày hứa là không được lợi dụng chuyện đi lại thoải mái rồi trốn trại. Mà tao cho mày biết, những người khác có trốn trại thì tao mặc kệ, nhưng nếu mà mày trốn trại thì tao hứa là chân trời góc bể nào tao cũng lôi đầu mày về đây lại vì mày dám lợi dụng sự chân thành của tao mà bội tín, mày hiểu chưa ? Nếu như mày ngoan ngoãn ở đây với tao, phụ giúp tao trong công việc, mà mày làm tốt thì sẽ được hưởng nhiều quyền lợi, tao còn có thể ký giấy cho mày về phép thăm má với em mày nữa.
Nó trả lời:
– Nếu anh thương em cho em qua ở với anh, em xin hứa sẽ không phụ lòng tốt của anh, em xin thề !
Thế là sau hôm đó thằng Hòa bắt đầu qua ở với tôi mà một thời gian sau tôi cũng không ngờ là mình đánh giá nó quá thấp. Tôi chỉ tưởng là nó lỳ thôi, nhưng đầu óc của thằng nhóc 13-14 tuổi siêu việt hơn tôi nghĩ nhiều. Vì nó là đệ tử cưng của tôi nên từ đó nó là một „Ông Trời Con“, đám lính bảo vệ thằng nào cũng ngán đụng đến nó. Nó còn dám sai khiến một vài tên lính bảo vệ đi làm việc riêng cho nó nữa. Chuyện kế tiếp của thằng Hòa mà tôi sắp kể là những chuyện mà một thời gian sau cũng gần một năm tôi mới biết vì tôi ỷ y nó chỉ là thằng con nít 13-14 tuổi. Sau khi về ở với tôi thì thằng Hòa có nhiều tự do và điều kiện để bắt đầu làm ăn kiếm tiền, mà khi tôi biết ra, tôi và mọi người phải thán phục.
Đầu tiên nó có nhiều thì giờ rảnh vì không phải làm gì cả khi mọi người trên nông trường bị bắt buộc đi ra ngoài làm lao động. Nó rủ thêm một tên bảo vệ ra ngoài chu vi nông trường để bắt cá, tôm, cua và các loại hải sản khác. Đem về, nó đưa cho mấy chị bảo vệ, nhờ mấy chị chia ra và làm thành món mặn, một phần cho tôi và nó ăn cơm, một phần nhỏ khác cho chị bảo vệ nào làm dùm mấy chuyện này gọi là để trả công, còn phần lớn nhất nó nhờ người đó kho dùm hoặc làm món mặn như tôm rang, cá kho, thậm chí canh chua chẳng hạn, rồi nó đem đến chào hàng, bán cho những người ở đội lực lượng có tiền do người nhà gửi trên nông trường để những người đó có món ăn thêm trong bữa ăn hàng ngày.
Luật của nông trường là không một đội viên lực lượng nào được quyền giữ tiền. Tất cả mọi người, nếu có tiền, lúc mới nhập trại ngày đầu tiên đều phải khai báo và nộp cho thủ quỹ của nông trường. Chị này vừa là phó trại vừa là thủ quỹ. Khi nào muốn mua nhu yếu phẩm hay uống cà phê ở quán cà phê của nông trường thì nhờ tổ trưởng dẫn lên gặp chị để làm giấy tờ trừ tiền ra. Chị chưa có chồng con, gặp thằng Hòa khôn lỏi gọi bằng „Má“ nên mê tít, cưng nó, coi nó như con. Vì thế khi nó bán món ăn mặn của nó cho người nào thì nó dẫn người đó tới gặp chị, hoặc có khi chị theo nó xuống tận nơi giao thẳng tiền mặt cho nó rồi người mua ký giấy xác nhận. Thằng Hòa còn dám bán thiếu cho những khách hàng quen thuộc của nó, khi tới ngày thăm nuôi thì người nhà của người đó đem tiền lên trả cho thằng Hòa. Nó bán cho cả đội nam và đội nữ.
Lúc có chút vốn, nó bắt đầu đi ra chợ nổi của người dân địa phương tụ tập mua bán trên sông, cách nông trường không xa nhưng phải chèo ghe ra đi chợ. Nó bỏ tiền ra mướn một thằng bảo vệ biết chèo ghe để đưa nó đi. Trước khi đi, nó đến từng đội hỏi xem khách hàng của nó cần mua gì, nó ghi vô cuốn sổ, sau đó nó đi ra chợ mua, rồi về bán lại với giá gấp rưỡi hay gấp đôi tùy theo mặt hàng. Nhiều khi có nhiều nhưng nó nói hàng khan hiếm rồi nâng giá … chặt khách hàng. Ngoài ra nó còn mua gương, lược, kim chỉ và những đồ phụ tùng của bên nữ về để bán cho khách hàng nữ.

Source: http://www.ignaziocorrao.it/vietnam-le-multinazionali-ce-ne-freghiamo-dei-diritti-umani/

Tôi thì bận rộn cả ngày, tối về sau khi họp hành xong tôi hay lang thang xuống các đội chơi với một số bạn bè hoặc tụ tập đàn hát nên ít có thì giờ để ý tới thằng Hòa. Còn nó thì ngoài những việc lặt vặt tôi giao cho nó làm hàng ngày, còn lại nó lo lắng từng miếng ăn, giấc ngủ cho tôi. Tôm cá, hải sản nó đi bắt về giao cho chị bảo vệ có nhiệm vụ nấu cơm cho tôi với nó. Đến giờ ăn thì nó bưng lên, dọn sẵn sàng, rồi đi mời tôi về ăn cơm. Giường chiếu, mền gối tôi nó xếp ngay ngắn và giữ sạch sẽ. Cứ thỉnh thoảng nó bỏ tiền mướn một chị bảo vệ ra bờ sông giặt, phơi chiếu. Còn gối, mền mùng của tôi thì giặt bằng nước ngọt và xà bông thơm của Mỹ nên lúc nào cũng thơm phức.
Đến một hôm, nó xin tôi được về thăm má nó vài ngày nhân dịp có một vài người bảo vệ được về phép cho nó đi cùng. Tôi đồng ý, ký giấy cho nó về phép để nó cầm trình lên địa phương. Nó nói cám ơn rồi về lục tục thu dọn đồ đạc. Tôi thấy nó lôi ra một bọc to tướng để chung với ít quần áo. Tôi hỏi:
Cái gì trong bọc vậy Hòa ?
Nó hớn hở trả lời
– Dạ, tiền em làm ăn ở đây kiếm được, giờ em đem về cho má nuôi mấy đứa em của em.
Tôi ngỡ ngàng hỏi nó:
Làm ăn ? Mà mày làm ăn cái gì trên nông trường này mà có nhiều tiền dữ vậy ?
Nó nói:
– Ủa anh hổng biết gì hết hả ?
– Biết cái gì ? Tao đâu biết cái gì, mà tiền ở đâu ra mày nói tao nghe coi .
Lúc đó nó mới kể cho tôi nghe nó bắt đầu làm ăn ra sao, làm tôi phải thán phục cái đầu óc kinh doanh của thằng nhóc 13-14 tuổi. Tôi hỏi nó
– Mày bán thiếu cho người ta rủi tụi nó quỵt mày rồi sao ?
Nó cười hề hề rồi nói:
– Lo gì chuyện đó, có anh, có Má Tâm, đố ông nội thằng nào, con nào dám giựt tiền của em. Thằng Hòa làm kinh doanh theo kiểu của nó ở đó cho tới khi được tha về vì còn nhỏ nên được mãn hạn sớm. Tôi không biết là nó kiếm được bao nhiêu, nhưng nó nói tháng nào nó cũng nhờ người đem tiền về cho má nó. Sau khi về, thỉnh thoảng nó theo ghe nông trường chở người đi thăm nuôi lên thăm tôi và những người trong đội bảo vệ. Một thời gian sau không thấy nó lên nữa. Tôi đoán là nó lại bị bắt ở đâu đó. Nhưng khi tôi được tha về, tìm đến địa chỉ mà nó đưa cho tôi thì nghe hàng xóm nói má nó vì đời sống quá khó khăn và phần cũng không muốn nó trở thành kẻ hư hỏng để bị bắt nữa nên dẫn anh em nó về quê ở Sóc Trăng.
Từ đó tôi không còn gặp lại nó nữa. Về sau tôi cũng có gặp một số thằng trong băng cũ của nó, làm ăn quanh khu vực Lăng Cha Cả và chợ Tân Bình, nhưng hỏi tụi nó cũng không biết tin tức gì của thằng Hòa. Tôi không biết bây giờ nó làm gì, có còn sống không, nếu cứ tiếp tục cuộc sống giang hồ.
Tôi nhớ hồi đó tôi dạy cho nó hát bài „Em sẽ là mùa Xuân của Mẹ“ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nó còn con nít nên giọng trong và cao như con gái. Sau này hễ tình cờ nghe lại bài này tôi đều nhớ tới nó.
Nicholas Đặng – Tháng 12 / 2017

***

Đây là một phần hồi ký của thằng bạn tôi, kể lại thời nó bôn ba đi vượt biên không thoát, bị bỏ tù chung với dân du đãng, bụi đời, nghiện xì ke, rồi bị bắt đi lao động ở nông trường Duyên Hải, Cần Giờ.
Chuyện của nó chính xác với thực tế hơn các truyện của Duyên Anh như „Trần Thị Diễm Châu“, „Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang“, vì là hồi ký viết lại chuyện thật, còn Duyên Anh ngày xưa dựa vào chuyện thật rồi tiểu thuyết hóa cho lâm li bi đát.
Khi đọc đến khúc thằng Hòa Bao Tử vì nghèo túng làm liều „đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó“, tôi chợt nghe có chút gì đó xót xa cho thân phận một đứa bé thông minh, tháo vát, có trách nhiệm, đầy tình cảm, chỉ vì hoàn cảnh khốn khó đưa đẩy nó ra khỏi cuộc đời được làm người lương thiện.

Warren Buffet xuất thân sang giàu. Cha ông, Howard Buffet, là nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ và là người thành lập công ty đầu tư chứng khoán Buffet-Falk & Company. Warren Buffet tốt nghiệp Tiến sĩ kinh tế. Ông được xếp hạng người giàu thứ 3 trên thế giới với gia sản hơn 80 tỷ đô-la, chỉ thua Jeff Bezos (hạng 2) – người sáng lập Amazon – và tỷ phú Bill Gates.
Buffett tặng 85% tài sản của mình cho các quỹ từ thiện, phần lớn là quỹ „Bill & Melinda Gates“.
Tháng 6 năm 2010, cùng với Bill Gates, ông phát động chiến dịch „The Giving Pledge“ (Lời hứa ban tặng), kêu gọi người giàu nên tặng tiền cho hoạt động từ thiện. Vào tháng 8 năm 2010, 40 nhà tỷ phú đã tham gia chiến dịch này.

Source: Mark Hirschey – Work of Mark Hirschey, CC BY-SA 2.0

Nếu thằng Hòa Bao Tử có cơ hội được học hành đến nơi đến chốn, tôi không biết nó có trở thành Warren Buffet phiên bản Việt hay không, nhưng một điều tôi chắc chắn rằng bí danh „Hòa Bao Tử“ của nó sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.

…-bla-bla-usw-…

Ich habe einen jüngeren Bruder. Ein Spielkind.

Manchmal schickt er mir per Whatsapp seine Gedankengänge, wo zwischen den Zeilen „…-bla-bla-usw-…“ als Platzhalter auftauchen.

Letzten Samstag kam am Vormittag dieses Bild
mit der Mitteilung:
„Morgen! Hat die Darstellung eines exponentiellen Wachstums als 1. Ableitung und als Logarithmusfunktion eine Bedeutung im Finanzwesen?“

Ich nix kapito, du was wollen.

„Hast du eine Buchempfehlung für Finanzmathematik?“

Berk and de Mazo, Corporate Finance.

„Ich suche mal nach de-Ausgabe.“

Etwa eine halbe Stunde später:

„Du kannst den mir auffallenden Zusammenhang für die GiKaD Seite nutzen und schreiben:
Adam Smith fand bereits vor ca. 250J heraus, dass Kinder wohlhabender Familien mit großer Wahrscheinlichkeit eine elitäre Berufslaufbahn ansteuern (heute wissen wir, der Schnitt liegt bei weit über 70%) und umgekehrt.
Als Pessimisten würden Sie nun sagen, der sprichwörtliche Silberlöffel determinierte den beruflichen Werdegang eines Kindes, wie ungerecht die Welt doch sei und es könne nicht sein, dass die Geburt das Recht auf Bildung festläge.
Doch als Optimist erkennen Sie, dass Intelligenz nicht erblich ist oder das genetische Prädisposition, sollte dies tatsächlich eine Rolle spielen, der sozialen Herkunft untergeordnet ist. Ausnahmen bestätigen diese Annahme (suche nach Nobelpreisträgern aus ärmlichensten Verhältnissen).
Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind (Urheber des Satzes finden). Wenn Sie spenden, verhelfen Sie gemeinsam mit GiKaD begabten aber unterprivilegierten Kindern zu ihrem Glück, ja sogar zu ihrem Recht auf Bildung.
Wir von GiKaD träumen von einer besseren Welt und hoffen, dass diese Kinder eines Tages erfolgreich ins Berufsleben starten werden, und sich dann für andere, weniger privilegierte Kinder einsetzen (Zinseszins-Effekt der Spende).
Wie möge die Welt in der wir heute leben aussehen, wenn Sir William Gates nicht Vater von Bill, sondern ein obdachloser Alkoholiker wäre. Oder Marks Vater sei nicht der Zahnarzt Dr. Edward Zuckerberg sondern alleinerziehender Tagelöhner? Angenommen beide hätten aufgrund von Fremdmitteln profitiert und sind nun zu den Menschen herangewachsen, die sie heute sind. Wieviel mehr würden von ihrem Reichtum der Gesellschaft zurückgegeben? Traumhafte Vorstellung.
Wer träumt … Hoffnung … bla bla usw … Träumen Sie gemeinsam mit uns und Give Kids a Dream … bla bla usw …“

Habe recherchiert.

Einige Nobelpreisträger aus ärmlichensten Verhältnissen:
Ada Yonat, Nobelpreis Chemie
Isidor Isaac Rabi, Nobelpreis Physik
Alexander Fleming, Nobelpreis Medizin
Lech Walesa, Friedensnobelpreis
Günter Grass, Nobelpreis Literatur

Nur Günter Grass war mir bekannt.

Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind. Kann Urheber dieses Satzes nicht finden.

Suche nach „Herkunft, woher kommen wir“ ergab den Denkspruch von Karl Heinz Karius:
„Woher kommen wir? Wohin gehen wir – und vor allem wann?“
Bahnreisende verbindet häufig das Interesse an allen existenziellen Kernfragen der Philosophie. Wie recht er hat. Bahnfahren ist einfacher als das Studium der Philosophie.

Für seine „…-bla-bla-usw-…“ ist mir noch nichts eingefallen.

Übrigens, hier ist die GiKaD-Webseite http://www.givekidsadream.de (bitte auf den Link klicken).