Chương II: Chùm táo ngọt

Chuyến bay từ Jakarta, trong đó có ba anh em – mẹ, bác Hiệp và bác Đức – đáp xuống phi trường Hannover cuối năm 1980, vào một chiều đông chí, lất phất tuyết rơi. Bông tuyết chỉ to hơn giọt mưa một tí nhưng cũng đủ làm mẹ ngẩn ngơ, vì mẹ chưa thấy tuyết bao giờ. Hồi còn bé, mỗi lần trong giờ Pháp văn mà phải vẽ cảnh một căn nhà của xứ Phú Lang Sa có ống khói, có tuyết rơi, thì để vẽ được tuyết, mẹ sẽ phủ lên nền trời một lớp màu xám tro bằng than viết chì, sau đó dùng đầu gôm của cây bút xóa nhẹ lớp than, tạo ra những vòng tròn nhỏ màu trắng. Thế là thành cảnh mùa đông „Tombe la neige“ của Adamo, ca sĩ nổi tiếng người Bỉ gốc Ý:

Tombe la neige
Tu ne viendras pas ce soir
Tombe la neige
Et mon coeur s’habille de noir

được nhạc sĩ Phạm Duy biến thành bài hát bất hủ „Tuyết rơi“:


Ngoài kia tuyết rơi đầy
Sao anh không đến bên em chiều nay
Ngoài kia tuyết rơi rơi
Trong băng giá tim em tả tơi

Đoàn người tị nạn, đa số là thanh thiếu niên không có cha mẹ đi kèm, được chuyển sang một chiếc xe buýt loại dành cho khách du lịch đường dài, thẳng tiến đến trại tiếp cư Friedland. Suốt chặng đường, ba anh em không ai nói với ai tiếng nào, mà chỉ dí sát mũi vào kính xe, lạ lẫm nhìn cảnh vật mờ mờ sau làn sương tuyết.

Ở đảo Galang, mẹ có ê a học tiếng Đức do một cô người Thụy sĩ làm việc thiện nguyện dạy vài ba tiếng trong tuần. Mẹ chỉ bập bẹ được mỗi câu „Guten Tag“ khi một bà sơ tươi cười xổ một tràng tiếng Đức xí xa, xí xồ đón đoàn người tị nạn lúc xuống xe. Mẹ còn có cái tên ở nhà là „tí Quắt“, nên bà sơ người Đức làm mẹ thấy sợ hãi với vóc dáng đồ sộ quá khổ trong chiếc áo đen nhà dòng cũng thùng thình không kém. Mẹ có cảm tưởng bà mang đôi hia bảy dặm vì mẹ phải bước như chạy mới theo kịp bà. Cái gì ở trại cũng to, cũng lạ, cũng đẹp đối với mẹ, nhất là chiếc giường với chăn gối căng phồng, còn thơm phưng phức mùi xà bông mới, bởi tám tháng qua, mẹ đã quen với tấm nệm mút trên con tàu Cap Anamur hay miếng phản gỗ cứng còng của trại tị nạn Galang. Lạ nhất là buổi ăn tối, có bánh mì đen, mẹ cũng chưa ăn qua bao giờ.

Đêm đầu tiên ở trại Friedland, ba anh em trùm đầu trong chăn để trốn cái lạnh. Mẹ nhớ nhà hết sức. Mẹ thèm cái nóng bức của Sài Gòn, cái tấp nập của bùng binh Nguyễn Huệ. Mẹ thèm vô cùng một tô phở Hiền Vương nghi ngút khói. Ánh lửa lập lòe từ cái lò sưởi dầu trong phòng làm đêm đó mẹ thao thức không ngủ được.

Trại tiếp cư Friedland


Ngoại trừ một hôm cả trại nhốn nháo do báo động cứu hỏa kêu inh ỏi vì mẹ phơi quần áo lên cái lò sưởi dầu, bị bén lửa phựt cháy, thì những ngày tạm trú ở Friedland đúng như tên gọi của nó: mảnh đất bình yên. Ba anh em cùng những người Việt tị nạn khác ngày ngày ăn điểm tâm xong thì đi học tiếng Đức. Sau bữa ăn trưa đa số – trong đó có hai ông „quyền huynh thế phụ“ – do thói quen, lại leo lên giường trùm chăn ngủ khò, một phần „căng da bụng, chùng da mắt“, nhưng có lẽ tại bên ngoài chẳng có gì lạ hơn là bầu trời mùa đông xám xịt, lạnh lẽo. Ăn tối xong, lại leo lên giường … đắp chăn tiếp, vì xem ti-vi thì toàn tiếng Đức, nghe cứ như tiếng xe lửa xập xình, xập xình.

Mẹ chỉ ở Friedland một thời gian ngắn, sau đó được chuyển đến trại Nazareth, Norddeich-Norden, một thành phố nhỏ sát bờ Bắc Hải, gió vù vù rít cả tai. Dù đã được phát chiếc Parka, một loại áo khoác có lớp lót rất dày, mẹ vẫn rúm ró như con mèo hen mỗi khi ra đường. Mẹ chỉ ngao ngán cái lạnh. Mỗi ngày, mẹ phải chiến đấu với nó ít nhất ba lần, vì tuy Bungalow chỗ ba anh em ở cũng có bếp, nhưng mọi ăn uống, sinh hoạt, học tiếng Đức, thánh lễ sáng chủ nhật v.v. đều tập trung trong căn nhà chính nằm ở giữa trại.

Trại Nazareth với những Bungalow hình lục giác


Nazareth buồn hiu hắt. Sau này, con còn nhớ lần gia đình mình đi nghỉ hè ở miền biển Bắc, và nhân dịp đó, ghé thăm thành phố Norddeich không? Con đã than thở:

– Phố nghỉ mát mà chả có gì hết vậy mẹ?

Vậy đó, mà ngày xưa, mỗi lần trại tổ chức chở ra trung tâm dạo chơi, hay ba anh em trốn học tiếng Đức đi „xe ngoắc“, tức là lưng quay theo hướng xe chạy, vừa đi giật lùi, vừa đưa ngón tay cái ra dấu ngoắc ngoắc, may ra có ai mủi lòng, dừng xe cho quá giang thì đỡ phải lội bộ dưới cái lạnh cắt da, là mẹ vui như Tết, vì được thấy phố phường đèn xanh đèn đỏ, nhất là lúc đó vào mùa Giáng Sinh, tiệm nào trông cũng sáng choang, sang trọng, với hàng hóa, bánh kẹo, bày chật tủ kính.

Cô giáo dạy tiếng Đức cũng „vĩ đại“ không kém bà sơ ở trại tạm trú Friedland. Giọng cô nói oang oang, tiếng cô cười khanh khách. Có lẽ vì thế mẹ học tiếng Đức không lấy gì làm khó khăn lắm, bởi cô phát âm chữ nào chữ nấy rõ mồn một, nặng chình chịch.

Cô giáo:
– Die Frau kauft Saft. (Bà ta mua nước ngọt).
Bác Đức khôi hài, lập lại ngon ơ:
– Đi phao cầu xập.

Buồn cười nhất là con bé ngồi cạnh mẹ, phát âm chữ „en-nờ“ thành „en-lờ“.

Cô dạy chào hỏi:
– Gute Nacht
Nó choảng lại:
– Guốc lắc
Cô:
– Nein, nein, nicht „good luck“, GUTE NACHT!
Nó:
– lích lai, lắc (nicht Nein, Nacht)

Sau giờ học, mẹ dùng tiếng Anh giải thích cho cô giáo là người Việt có một số phát âm lẫn lộn hai chữ „n“ và „l“ này. Cô phá ra cười, lại giọng cười khanh khách, và cô kể mẹ nghe – đương nhiên là bằng tiếng Anh vì vốn liếng tiếng Đức của mẹ chỉ đủ để „cầu xập“ – cô cũng có dạy tiếng Đức cho người Tàu, họ phát âm „e-rờ“ thành „en-lờ, “ tức là „phờ-lu-linh-lô-lờ“ (Frühlingsrolle). Thế là tới phiên mẹ cười. Mẹ không chỉ học tiếng Đức với cô, mẹ còn rèn luyện thêm được Anh văn qua những mẩu chuyện bên lề à la „phờ-lu-linh-lô-lờ“.

Những ngày ở Nazareth là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời xa xứ của mẹ. Mẹ chỉ biết ăn, ngủ và học tiếng Đức. Mỗi bài học đem mẹ gần với quê hương thứ hai này hơn một chút. Mẹ biết cách hỏi “Cái này bán bao nhiêu hở cô?“, biết trả lời mẹ từ đâu đến, biết lịch sự nói câu cám ơn … như người Đức:

– Danke schön, wünsche ich Ihnen auch.

Mẹ rời Nazareth vào một ngày hè nắng rực rỡ rọi vào kính chiếc xe buýt loại dành cho khách du lịch đường dài. Ông Roman trưởng trại, anh Phúc thông dịch viên, cô giáo tiếng Đức và mấy bà nhân viên nhà bếp mập mạp phúc hậu giơ tay vẫy vẫy từ giã. Mẹ thấy lòng mình chợt chùng xuống như vừa bỏ lại sau lưng cái gì đó rất thân quen, dù những người đang vẫy tay kia không ai cùng họ với mẹ cả. Hành trang họ gói cho mẹ mang theo, ngoài số vốn Đức ngữ khiêm nhường, chỉ vỏn vẹn một tấm lòng mà cho đến nay, mẹ vẫn còn giữ mãi.

Nước Đức không có „chùm khế ngọt“. Mà mẹ cũng chưa bao giờ được ăn quả khế nào ngọt cả, toàn khế xanh, chua lè lè. Nhưng mẹ được ăn táo ngọt, lê ngọt, nho ngọt, anh đào ngọt.

Nếu mẹ nói:

Quê hương là chùm táo ngọt
Cho tôi trèo hái mỗi hè …
thì không biết nhà thơ Đỗ Trung Quân có hiểu cho nỗi lòng của kẻ xa xứ này không nhỉ?

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Chương I: Mối tình cầu tàu

Trong đoạn hồi ký này mẹ sẽ kể con nghe về mối tình đầu của mẹ. Viết „love story“ phải dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất mới thích hợp, con ạ!


Tôi ở Galang từ tháng 5 đến đầu tháng 11 năm 1980. Đó là quãng thời gian đẹp nhất cuộc đời tôi, vì ngoài một tương lai sáng ngời đang chờ tôi ở nước thứ ba, tại Galang, tôi bắt đầu học làm người lớn!

Như đã viết trong đoạn trước, hằng ngày, nhiệm vụ của tôi là của tôi là làm đầu bếp. Nói cho oai chứ thật ra chỉ việc nấu nồi cơm có hơi vất vả một tí, còn thức ăn thì cứ … đồ hộp khui ra, bỏ vào nồi, hâm nóng lên là xong, vì ở nhà, bà ngoại tôi nấu tất tần tật, mỗi chuyện rửa chén mà tôi khất lần khất lữa, cho đến khi ngoại giận lẫy đòi rửa vì sợ để qua đêm chuột sẽ mò ở dưới cống lên do đánh hơi ngửi thấy mùi đồ ăn, tôi mới đủng đỉnh đi làm phận sự. Xong việc cơm nước, tôi lên khu văn hóa và huấn nghệ học tiếng Anh. Sau này, có cô người Thụy Sĩ dạy tiếng Đức, tôi cũng ghi danh học lớp của cô ấy. Buổi tối, nếu không đi xem ti-vi ở khu công cộng thì tôi về barrack của mình ngủ khoèo, bởi trong barrack không có điện, phải đốt đèn cầy hay đèn dầu. Ban ngày, hôm nào hai ông anh tôi không bận đi thông dịch hay đi cua gái thì hai ổng lại la cà với nhóm bạn quen trên đảo, lúc đàn hát, lúc ra biển tắm, ông nào có bồ hay đang cua cô nào thì dẫn theo cô đó, đôi khi chỉ toàn đực rựa với nhau. Bạn hai ông ấy – anh Sơn, anh Ấn, anh Hùng, anh Cường, anh Tiến v.v. – ai cũng … già hơn tôi rất nhiều. Tôi là đứa bé con, làm tà lọt để mấy ổng sai vặt. Có lẽ vì vậy, không ai gọi tôi bằng tên cúng cơm mà kêu tôi là „bé con“.

Anh Ấn có người bạn cùng học Lasan Taberd là anh Toàn. Anh Toàn hay rủ rê mọi người, trong đó có anh Đức, anh họ tôi, đi ăn uống, ca hát, nhảy nhót. Anh cũng hay cho bạn bè mượn quần áo của mình để „ăng-tô-ny“ đi tán gái, vì so với người tị nạn đa số chỉ sở hữu một, hai bộ đồ thì anh Toàn thuộc loại „công tử“, quần là, áo lượt. Anh Toàn cho anh họ tôi mượn một cái áo sơ-mi vạt bầu, tôi giặt đem phơi, ướm vào thấy mình mặc chỉ bị dài một tí thôi nên lúc áo khô tôi lấy mặc luôn. Cũng nên nói thêm rằng ở đảo, ngoài lương thực được cấp không bị túng thiếu, cái gì cũng là vay mượn, hay được người đi định cư trước để lại cho người chưa đi, như quần áo, giầy dép, nồi niêu, soong chảo v.v. Không bị đòi tức là coi như đã sang nhượng quyền sở hữu.


Vào một buổi tối sáng trăng, tôi chưa ngủ khoèo vì … trăng sáng (ai ở đồng quê hay ở trại tị nạn Galang mới thấm thía câu „sáng trăng sáng cả vườn chè“), anh Toàn lù lù xuất hiện. Tôi chột dạ, vì giờ này là giờ „cảnh sát chìm hành sự“, hai ông anh tôi và đám bạn … già của hai ổng chắc chắn một là đang đi coi ca hát nhạc sống có nhảy đầm, hai là đang đi „thả dê“.

Tôi nghĩ anh đến đòi áo sơ-mi nên giả lả:

– Anh Đức đi với anh Hiệp qua barrack Disco rồi! (Disco là tên lóng gọi cô bồ nhí của ông anh tôi ở Galang)

Anh xua tay:

– Ồ, anh không kiếm hai người đó! Kẹo anh cho bé con đâu rồi?

Anh Toàn thỉnh thoảng hay cho tôi kẹo, chocolate, giống như kiểu người ta thưởng pourboire cho … tà lọt. Tôi không hảo ngọt lắm nên anh cho thì tôi nhận, rồi bỏ vào cái hộp ở đầu giường. Nghe anh hỏi, tôi mang hộp đưa anh. Mở hộp ra thì eo ơi, toàn kiến là kiến. Anh cười, tôi cười theo. Anh kéo tôi ngồi bệt xuống chỗ cái bệ cửa sổ, cả hai phùng mang thổi những con kiến vây quanh các viên kẹo. Rồi anh kể chuyện lung tung, hỏi tôi chuyện lung tung. Hồi đó, tôi có thói quen mút ngón tay cái, những lúc anh kể chuyện lung tung thì tôi ngồi mút tay. Anh nhẹ nhàng:

– Bé con ăn kẹo đi, mút tay giống con nít lắm!

Tôi chu mỏ bướng bỉnh cãi ngay:

– Ăn kẹo sâu răng!

Và càng mút chùn chụt để trêu tức anh.

Trong lúc tôi còn đang chơi cái trò trẻ con ấy không đề phòng thì anh giật tay tôi ra, mắt nhìn thẳng vào mắt tôi. Hôm đó, trăng sáng quá, sáng đến nỗi tôi nhận ra trong ánh mắt anh không phải là sự giận dữ mà một cái gì tôi chưa hề thấy bao giờ. Tim tôi tự nhiên đập loạn xạ, nhưng tôi cứ ngồi thừ ra đấy, không dám rút tay ra. Một hồi sau – có lẽ lúc đó tôi đã bị tê liệt dây thần kinh cảm nhận thời gian nên không còn nhớ „một hồi sau“ là một phút sau, năm phút sau, hay bao lâu sau đó – anh buông tay tôi ra:

– Thôi bé con đi ngủ đi, mai anh sẽ qua đánh thức bé.

Vì chả có phận sự, công việc gì, nên tôi ngủ rất kỹ, sáng „nướng“ rất lâu. Có lần, một thằng ở chung barrack lấy đèn cầy để ở gần gót bàn chân của tôi rồi đốt, hơi nóng của đèn cầy cũng không kéo được tôi ra khỏi giấc ngủ. Nếu không bị ai đánh thức, khi tôi vươn vai ngồi dậy thì mặt trời đã … me mé thái dương, gần sắp tới đỉnh đầu. Còn anh làm việc trên bệnh viện nên phải dậy sớm đúng giờ, làm gì thì tôi không rõ lắm. Đa số người Việt tị nạn ở đây, nếu có chút vốn liếng sinh ngữ – Anh, Pháp gì cũng được – có thể nhận các công việc như anh Thiệu trưởng trại, anh Tế trưởng ban Thông dịch, anh Cường trưởng barrack đảm nhiệm việc phân phát lương thực, nước uống cho đồng hương v.v. và được trả thù lao tượng trưng bằng tiền Rupiah, tương đương khoảng 2 đô-la một tuần. Nhờ anh đánh thức hàng ngày như vậy, tôi có nhiều thời gian „trống“ hơn, tôi chuyên cần học sinh ngữ hơn, có khi còn lên thư viện của trại mượn sách về nghiên cứu thêm văn phạm nữa. Tôi hết làm đứa con nít lêu lổng, lông bông, lang bang cho qua ngày trên đảo, mà nôn nóng chờ chiều xong việc anh về dẫn tôi ra biển. Đường ra biển là con đường mòn, cây cối rậm rạp, tôi dù gan có to như gan bò cũng chẳng dám đi một mình, ngộ nhỡ có chuyện gì xảy ra, biết kêu cứu ai đây? Anh bao giờ cũng đi đằng sau tôi, khác hai ông anh của tôi và đám bạn „già“ của hai ổng te te đi một mạch, chỉ kiểm điểm dân số khi ra đến bãi biển xem có mặt „tà lọt“ hay không. Do đi phía sau nên tôi lỡ trượt chân là anh nhanh tay đỡ được ngay, dép tôi sút ra, rơi xuống suối, anh xắn quần chạy theo vớt lên. Chiều ở biển, hôm nào gió trở lạnh, anh đi gom củi đốt sưởi ấm cho tôi. Hai ông „quyền huynh thế phụ“ của tôi chỉ đứng trên bờ, lâu lâu dõi mắt xem cái đầu của tôi còn nhấp nhô trên mặt nước không, chứ anh bơi rất cừ, tôi ra xa cỡ nào anh cũng theo sát, chỉ khi cảm thấy có thể bị kéo ra khơi do luồng sóng ngầm, anh mới ra dấu bắt tôi bơi ngược trở lại vào bờ. „Con nít hay mút ngón tay cái“ thích đi khám phá những chỗ có dựng bảng cấm „Attention, danger“, anh đi thám hiểm trước, nếu thấy không nguy hiểm lắm thì anh chìu ý hiếu kỳ của tôi. Nhờ anh, tôi biết được cả phía bên kia đảo, không thuộc vùng cư trú của người tị nạn, và vì Galang trước đó là hoang đảo nên những khu đó cũng không có thổ dân sinh sống. Nhờ anh, tôi được chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên, đồi núi, hang động, suối thác của một trong những hòn đảo đẹp nhất Đông Nam Á.

Nếu chỉ bao nhiêu đó thì anh chỉ có thể giành giải „quyền huynh thế phụ“ của hai ông anh tôi thôi, chứ không thể nào đoạt giải quán quân „người yêu lý tưởng“ được. Nét chấm phá của những bức tranh sơn thủy ở Galang là những nụ hôn ngọt ngào, những cái ôm nồng cháy. Nhưng hễ tay anh luồn vào trong lưng áo của tôi thì tôi lại giật thót mình, người tự động gồng cứng ngắc như lúc đang nằm trên ghế để nha sĩ khoan chỗ răng sâu mà không chích thuốc tê trước đó. Có lẽ anh thấy tôi hoảng sợ quá độ đâm ra tội nghiệp nên thở dài tiếc nuối rút tay ra, trả lại tôi cái hồn nhiên của đứa con nít còn mút ngón tay cái.

Rồi cũng đến ngày loa phóng thanh xướng tên những người sẽ rời đảo đến Jakarta để chờ lên máy bay đi định cư ở nước thứ ba vào mùng 04.11.1980, trong đó có ba anh em tôi. Tối hôm trước, anh rủ tôi đi uống cà phê ở quán nước mà chưa bao giờ anh dẫn tôi đến đó, anh bảo tôi con nít còn mút ngón tay cái không nên la cà những chỗ dành cho người lớn. Anh kêu cho tôi ly nước ngọt. Tôi bắt đầu tập tễnh uống cà phê khi bị thất tình lần đầu tiên, chẳng qua do cơ thể tôi không tiếp thụ được chất cồn, chỉ cần nhấp một tí là mặt đỏ gay, sáng chói như mặt trời, nên không thể uống rượu để „say cho quên sầu“ được. Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi cũng bị di truyền cái dị ứng này. Có lần, tại một buổi trình diễn dương cầm, nó uống ly nước cam có pha champagne để mời khách trong khi chờ đợi khai mạc chương trình. Sân khấu vừa mở màn, tôi thấy ở phía trước nhốn nháo cả lên, tưởng là khủng bố gài bom, ai dè con mình bị chất cồn làm xây xẩm, người ta phải khiêng ra ngoài cấp cứu. Từ đó, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi thấy rượu bia là tránh xa. Bị dị ứng chất cồn cũng có lý đấy chứ nhỉ? Trở lại chuyện quán cà phê Galang. Hôm đó, tôi chỉ còn nhớ là quán mở ca khúc „I have a dream“ của Abba:

I have a dream, a song to sing

To help me cope, with anything …

Anh ngồi đó, ly cà phê đen đắng, đen như nỗi buồn người ly hương, đắng như cuộc tình sắp bay xa.

Hôm sau, anh tiễn tôi ra cầu tàu. Sau này, tôi mới biết mình là người tình duy nhất mà anh có mặt lúc nói lời từ giã. Người tình đầu của anh, một cô gái lai Tây, phải đột ngột theo cha về Pháp khi biến cố 1975 xảy ra. Người thứ hai là „cô láng giềng“ – mà sau này cũng là vợ của anh – hai gia đình đi vượt biên cùng vào khoảng thời gian năm 1977, anh bị bắt, cô nàng đi thoát, qua Mỹ, hai người mới tìm lại được nhau.

Tôi tuy thực tập làm người lớn chưa thành, nhưng kể từ hôm đó, tôi đã hiểu tại sao ở Galang người ta hay dùng chữ „mối tình cầu tàu“.


Mười hai năm sau, mẹ vẫn còn „solo“, đang khóc người tình thứ tư lập gia đình, bỏ cuộc chơi, thì Tata Chi kêu mẹ qua Cali làm phù dâu, thay đổi không khí, quên „cuộc tình tàn“. Và mẹ tìm lại được „cố nhân“.


Khi gặp nhau, tay bác ấy không đeo nhẫn cưới, vì vậy mẹ ngỡ anh ta chưa lập gia đình. Do mẹ không hỏi nên bác ấy cũng chẳng khai là „em ơi, ván đã đóng thuyền“ rồi. Về Đức, mẹ gọi điện thoại sang thì một người phụ nữ nhấc máy. Mẹ hỏi cô ta là chị hay em của bác Toàn thì cô ấy trả lời là vợ. Mẹ chưng hửng, chỉ biết tự giới thiệu mình là em của bác Hiệp bạn của bác Toàn ở bên đảo, nhờ cô ấy nhắn lại dùm là bác Hiệp sẽ liên lạc khi đi công tác về.

Ít lâu sau, mẹ nhận được thư bác Toàn, kèm một đĩa CD Album nhạc của ca sĩ Ngọc Lan, „Người tình trăm năm“. Mẹ vừa nghe nhạc, vừa đọc lá thư trần tình của bác Toàn, nước mắt cứ lã chã tuôn.

Trong chuyện tình cảm, đoạn tuyệt không có nghĩa là phủ nhận tất cả những khoảng thời gian tuyệt vời ta đã trải qua. Nếu ước mơ chỉ khiến ta khổ sở, thì có lẽ đã đến lúc ta nên buông bỏ nó. Trong vũ trụ bao la này, một cuộc đời chỉ là chớp mắt – quá ngắn để có thể hàn gắn những vết thương lòng. Nếu ta được cho biết ta chỉ còn một năm để sống, ta có còn theo đuổi một mối tình vô vọng hay không?

Và vì

It hurts to much to hold on to dreams that never come true

mẹ không gặp lại bác Toàn từ lần chia tay thứ hai tại phi trường LAX.


Còn đây là bài thơ „Tiễn em đi“ của mẹ, thay cho lời chia tay cuộc tình đầu. Bài này trong quyển thơ „Tình như cổ tích“ của mẹ, đa số gồm những bài thơ viết cho những cuộc tình đã mất. Còn cuốn „Tình không như cổ tích“ cũng là tập thơ tình, nhưng thuộc thể thơ khôi hài, là phiên bản „đối lập“ của „Tình như cổ tích“.


Tiễn em đi

Tiễn em đi mưa thu buồn ngơ ngác
Nắng thôi cười, mây tháng bảy thôi bay
Tình Ngưu Lang đành dang dở từ đây
Anh ở lại nghe tim ngầm tan vỡ

Tình chẳng trọn cho lòng mang thương nhớ
Duyên không tròn để nức nở hồn anh
Em vô tình hay hạnh phúc mong manh?
Khói thuốc cay đốt lời thề ân ái

Em đi rồi có nhớ người ở lại
Tương Giang đầu anh ngơ ngẩn trông theo
Chữ trăm năm em trả lại bọt bèo
Câu ước hẹn lỡ rồi em có tiếc?

Khóc đi em thay cho lời tiễn biệt
Chuyện chúng mình âu chỉ bấy nhiêu thôi
Giọt lệ sầu nhỏ xuống lúc chia phôi
Vỡ khối tình chàng Trương Chi phận bạc


Con có nhận ra tấm hình Acryl mẹ vẽ và treo trong phòng của con ngày xưa không? Bây giờ, chắc đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ đã hiểu tại sao mẹ chọn câu „Love means never having to say you’re sorry“ (Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói lời hối tiếc), có nghĩa là nếu hai người thật sự yêu nhau, thì dù có chuyện gì xảy ra, ngay cả phải đoạn tuyệt, chia tay, họ không phải nói với nhau lời xin lỗi, vì họ đã đến với nhau bằng tình yêu đích thực.

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Chương I: Thời thơ ấu

Có lẽ, như các em bé sơ sinh khi bắt đầu bước vào „cõi tạm“, mẹ cũng khóc oe oé quấy rầy mấy cô y tá, nữ hộ sinh, tại nhà bảo sanh Đức Chính, nằm trên đường Cao Thắng, số 15 bis (hồi đó, số nhà được đánh dấu theo hệ thống đánh dấu số nhà của Pháp, tức là nếu trên một con đường có hai căn nhà cùng mang một số giống nhau thì nhà thứ 2 sẽ thòng thêm chữ „bis“), đối diện rạp chiếu phim Đại Đồng. Sau này, các em của mẹ – các cô, cậu của con, 2 trai, 3 gái – đều „giáng thế“ tại nhà bảo sanh này. Trong giấy khai sanh ghi mẹ chào đời vào ngày 13 tháng Tư năm 1963, nhằm ngày 20 tháng Ba năm Quý Mão, lúc 17 giờ 25 phút.


Vài hình ảnh của mẹ, chụp lúc mẹ được khoảng 3 tháng rưỡi. Hồi bé, trông con cũng giống mẹ đấy chứ nhỉ?


Không phải chỉ con đầu lòng (là mẹ) mà tất cả các cô, cậu của con, ai cũng được thương yêu đồng đều như nhau, đều có một cuốn sổ tay ghi chép quá trình chăm sóc sức khỏe. Không có những chi tiết này thì mẹ sẽ không thể nhớ là cánh tay phải của mình hơi bị cong do lần té nặng vào ngày 27.05.1973.


Bố của mẹ, ông ngoại của con, Bùi Hồng Hưng, sinh ngày 12.01.1934 tại Thanh Hóa. Ông cố ngoại, bố của ông ngoại, Bùi Khắc Dụng, là địa chủ ở Thanh Hóa, vượt ngục trại tù Lý Bá Sơ, một trại tù ở ngoài Bắc trước kia, chỉ có vào mà không có ra, có lẽ ông cố là người trốn trại thành công duy nhất. Hai cha con vào Nam năm 1955, nghĩa là đến Sài Gòn năm 1956 chứ không được di cư chính thức bằng tàu há mồm. Ông ngoại bắt đầu cuộc sống nơi xứ lạ quê người với hai bàn tay trắng. Ông ngoại tự học, vừa làm, vừa học. Đậu Tú Tài I, Tú Tài II. Lấy vợ, bà ngoại của con, là nhà giáo. Hai vợ chồng đều vừa đi làm, vừa học.

Không biết Ông noi gương Bà, hay Bà noi gương Ông, mà bà ngoại đi dạy 8 năm sau mới thi đậu Tú Tài I (trước năm 1966), hạng Bình Thứ, ban C, gồm các môn chính là văn chương, triết học, sinh ngữ. Và thật đáng nể là 6 năm sau, khi bà ngoại đã 4 con, vẫn đi dạy mà thi nốt Tú Tài II, ban C, kèm theo bằng Proficency của Hội-Việt-Mỹ. Bà ngoại học ban Bổ túc trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn, niên khóa 1955- 1958. Sau khi tốt nghiệp, ngoại dạy tại trường Trung Học Bùi Thị Xuân Đà Lạt hai năm. Nay các học sinh cũ đã lớn, khi đi thi Tú Tài II, ngoại phải nhìn trước nhìn sau, chỉ sợ lỡ gặp phải học sinh của mình, người thì chấm thi, người thì làm giám thị, hoặc cũng đi thi tú tài, thì quê quá!

Còn ông ngoại vẫn vừa học, vừa làm, có năm con mới tốt nghiệp Cử nhân Luật và tiếp tục thực tập Luật sư. Đến năm 1975, ông ngoại chính thức được hành nghề và chuẩn bị khai trương văn phòng Luật sư ở đường Gia Long, ngay trung tâm Sài Gòn, với phần phụ tá dịch thuật Anh ngữ của phu nhân Vũ Thị Đan Thanh, bà ngoại của con, thì biến cố 1975 xảy ra.


Hình ảnh cuối cùng của ông ngoại trong trí nhớ đứa con nít 12 tuổi ngày ấy là một người đàn ông với khuôn mặt đăm chiêu, khi nằm nghỉ thì tay vắt lên trán trông càng ưu tư hơn. Những ngày cận 30.04.1975 cả gia đình qua ở hết bên nhà ông bà cố (ba mẹ của bà ngoại). Năm chị em mỗi đứa giữ một cái cặp mà trong đó có ít lương khô, tiền đô-la (mẹ không nhớ rõ là bao nhiêu, chắc khoảng $20), một tờ giấy ghi tên tuổi, ngày sanh của tất cả các thành viên trong gia đình:

Cha: Bùi Hồng Hưng, 12.01.1934
Mẹ: Vũ Thị Đan Thanh, 16.10.1937
Các con:
– Bùi Thị Tố Hồng, nữ, 13.04.1963
– Bùi Hồng Đức, nam (tên ở nhà là Công), 04.11.1964
– Bùi Hồng Hạnh, nữ, 08.03.1966
– Bùi Hồng Phúc, nữ, (tên ở nhà là Cẩm Tú), 22.05.1968
– Bùi Thị Diễm Quỳnh, nữ, 22.05.1970
cùng với địa chỉ nhà là 372/64 đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn.

Chiều ngày 30.04.1975, ông ngoại dẫn Công (em trai kế mẹ, con gọi là cậu, giống như cậu Giao), Hạnh, Tú, Quỳnh (3 em gái mẹ, con gọi là „cô“ theo lối xưng hô của người Bắc chứ không gọi là „dì“ như người Nam) về nhà ở đường Phan Thanh Giản, mẹ và bà ngoại (lúc ấy đang mang bầu cậu Giao) ở lại bên nhà ông bà cố. Hôm sau, không thấy ông ngoại quay trở về, mẹ cùng bà ngoại về nhà ở đường Phan Thanh Giản thì chỉ thấy một mảnh giấy ông ngoại để lại trên bàn với vài dòng chữ nhắn nhủ đừng lo lắng, sẽ có tin tức sau. Từ đó đến nay, cái tin tức mà ông ngoại hứa hẹn không hề xuất hiện. Mỗi đêm, trước khi ngủ, mẹ luôn lâm râm cầu nguyện ông trời phù hộ cho bố và các em của mẹ. Mẹ không còn nhớ đến khi nào thì mẹ thôi không làm việc ấy nữa. Sau này, mẹ cũng viết thư gởi đi các cơ quan quốc tế như hội Hồng Thập Tự, Caritas v.v. Bất kỳ hội đoàn nào có chương trình tìm người thân mất tích, mẹ đều gởi thư nhắn hỏi.

Vào thập niên 90, kỹ nghệ thông tin (Informationstechnologie) dần dần phát triển, bắt đầu có Email, World Wide Web v.v. mẹ mở rộng „phạm vi tìm kiếm“ bằng cách truy lùng những người có họ Bùi và gởi Email hoặc thư qua đường bưu điện. Có lần, khi mẹ du lịch qua Mỹ, một người bạn ngao ngán nhìn mẹ gởi một đống thư trị giá tổng cộng khoảng 200 đô-la, khi mà cước phí thư nội địa ở Mỹ lúc ấy vỏn vẹn 29 cents. Cũng nên nói thêm rằng số người Việt sống ở Hoa kỳ chiếm trên một nửa dân số Việt kiều trên thế giới, tức là mẹ hi vọng xác suất thành công cũng sẽ cao hơn.

Cho đến một ngày, mẹ nhận được thư trả lời của một người cũng mang họ Bùi (rất tiếc là mẹ đã để lạc mất lá thư này sau nhiều lần dọn nhà). Mẹ còn nhớ mãi câu đầu trong thư của ông ấy: „Tôi thành thật thán phục sự kiên trì của cô đã đi tìm người thân hơn một phần tư thế kỷ …“ Câu này làm mẹ suy nghĩ rất nhiều và đi đến quyết định … „giã từ vũ khí“, thôi không tìm kiếm tin tức bố và các em nữa. Ngạn ngữ Đức có câu „Die Zeit heilt alle Wunden“, thời gian chữa lành mọi vết thương. Nhưng nếu ta tiếp tục chạm vào vết thương, nó không lành hẳn được. Ví dụ khi ta bị một vết dao cắt chảy máu, ta sẽ dùng miếng băng dán phủ lên vết thương. Bằng cách này, chúng ta chấp nhận nó, chăm sóc nó. Lớp băng giúp vết cắt được che chở không bị chạm vào và bị nhiễm bẩn. Dần dần cái đau giảm đi và chúng ta quên nó. Vùng mặt trên của da sau đó được chữa lành.

Tại sao chúng ta không thể làm điều đó một cách dễ dàng với những vết thương tình cảm?

Để vượt qua nỗi đau này ta cũng cần làm như khi bị vết thương dao cắt, tức là chúng ta phải biết chấp nhận, và biết tìm cách chữa lành nó. Liều thuốc chữa lành vết thương lòng chính là khả năng quyết định và ý niệm riêng của mỗi người về việc buông bỏ. Mẹ đã tháo được miếng băng dán phủ trên vết dao cắt, chỉ còn lại nơi đó là vết thẹo nhắc mẹ đã có một người bố hiếu thảo (ông cố ngoại bịnh nằm liệt giường, ông ngoại tắm rửa, đút cơm ăn, dù nhà mình có mướn người giúp việc), nhân hậu (ai khó khăn nhờ vả, ông ngoại đều giúp đỡ, thân chủ nghèo không trả nổi tiền thù lao luật sư, ông ngoại cãi miễn phí) và kiên trì nhất trên đời này, cũng như nhắc mẹ đã có 4 người em đáng nhớ nhất trên đời này.

Chụp ngày 16.02.1975

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Cô Liễu

Suốt thời gian học ở Lê Quí Đôn, tôi nhớ tôi chỉ học nhạc với cô Liễu mà thôi.

 Cô Liễu trẻ đẹp nhất trong ban giảng huấn ở trường Lê Quí Đôn. Tóc cô dài và uốn thành những lọn lớn quăn quăn nên nhìn cô thật là tân thời. Cô có khuôn mặt trái soan, người dáng mảnh mai, trông cô cứ như là nữ sinh nếu cô mặc áo dài trắng. Hồi đó, đám học trò chúng tôi hay kháo với nhau rằng thầy Tam Nhiều … „khoái“ cô, có lẽ vì phía bên nam giáo sư, thầy là người cao ráo, bảnh trai nhất. Có Thúy Kiều thì phải có Kim Trọng thì ông Nguyễn Du mới có … hứng mà làm thơ để làm … khổ con cháu đời sau phải học và phân tích „Đoạn trường … thất thanh“ của ông chớ. Nhất là thầy lại dạy môn hội họa nữa. Bên âm nhạc, bên hội họa, thật là tương xứng. Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò … Lũ Quỉ Đói. Xin thầy và cô tha thứ cho chúng em tội hỗn láo này.

Tôi vốn dốt về âm nhạc vì, khác với các bạn cùng lớp, đa số được cha mẹ cho đi học một nhạc cụ Âu Tây như Tuấn Hồ học accordeon, Quỳnh Anh học dương cầm, với những nốt nhạc nghe thật cao sang Do Re Mi, thì tôi học … đàn tranh Hò Xự Xang Xê Cống. Tuy nhạc lý cũng từa tựa như nhau (đàn tranh chỉ có 5 nốt, không có nốt Fa và nốt Si) nhưng cách học thì khác nhau vì đàn tranh là một loại đàn cổ truyền. Tân thời như cô Liễu thì đàn tranh của tôi làm gì có chỗ đứng? Điểm môn âm nhạc của tôi cũng … nghèo nàn theo luôn.

Trong các buổi lễ của trường như ngày khai trường, ngày bãi trường, hay có phần văn nghệ. Với các bạn khác như Tuấn Hồ mà hầu như lúc nào cũng có mặt „trên từng cây số“ với cây đàn accordeon trên vai trong các buổi trình diễn này thì tôi không biết sao, chứ đối với tôi, được lên sân khấu trình diễn là một vinh dự lớn. Tôi nhớ năm lớp bảy, tôi và Bích Quyên tập một bài múa „Con bướm vàng“ với hi vọng một lần trong đời được lên sân khấu. Hai đứa, với đầy tâm huyết, chế các điệu múa nửa tây theo kiểu múa ba lê, nửa ta theo kiểu múa … tùm lum, hì hục tự may cắt cánh bướm bằng những vải voile mỏng, trông thật …. có một không hai (dịch qua tiếng anh gọi là … individual character). Cánh được gài vào hai tay áo bằng kim băng, khi vẫy hai cánh tay thì hai cái cánh bướm nó phất phơ bay lên bay xuống thật là giống … người dơi.

Các màn văn nghệ đều phải qua sự xét duyệt của cô Liễu. Hôm đó tôi và Bích Quyên trình diễn thật xuất sắc, đám bạn đi theo cổ vũ đứa nào cũng xuýt xoa khen tụi tôi múa lạ mắt (chắc vì bị hai cánh … dơi làm chúng nó chóng mặt). Thế mà màn „Con bướm vàng“ của hai đứa chúng tôi vẫn không lọt vào mắt xanh của cô.

Mộng ước trở thành nghệ sĩ của tôi tan vỡ từ dạo ấy. Tôi ngoan ngoãn học toán lý hoá, văn sử địa, và hài lòng với điểm môn âm nhạc lúc nào cũng dưới trung bình của tôi.

Sau này, khi con tôi đem phiếu điểm về nhà mà môn âm nhạc là môn điểm kém hơn tất cả các môn khác (rút kinh nghiệm của mình, tôi cho nó đi học dương cầm để … đề phòng), mẹ tôi tỏ vẻ bất bình, hỏi nó là:

– Sao cháu bà học dương cầm giỏi như vậy mà cô không cho điểm tốt à?

thì tôi chỉ mỉm cười nhớ lại những kỷ niệm của tôi về môn này thuở còn đi học.

Nuối

Chắc các bạn sẽ thắc mắc về tựa đề của bài này?

Số là như vầy:
Cách đây không lâu, do thời tiết nóng và khô khan, gần thủ đô Athens (Nhã Điển) của Hy Lạp đã bùng lên một đám cháy rừng khá lớn với những đám khói dày đặc.
Con bạn tôi gởi một clip ngắn và nhắn tin: „Athens is burning, we just came back“

Tức cảnh sinh tình, nó sáng tác bài thơ „Athens is burning“:
https://thuytrangtran.jimdofree.com/2022/07/21/3-athens-is-burning/

Trong đó có đoạn:

Hồn vẫn nuối nhau
Bám vào tro nóng
Vũ với gió nồng
Chút cuối long đong …

Tôi la quảng la tiều:
– Sai chính tả rồi chị Hai ơi! „Hồn vẫn nối nhau“ chứ lị!
Nó điềm nhiên trả lời:
– Ý „chị Hai“ là lúc chết thì hồn bay ra khỏi xác, nhưng vì vẫn còn nuối nhau nên mới bám vào nhau đó mà.

Ái chà! Tôi chỉ biết nuối tiếc, tiếc nuối, tiếc hùi hụi ngẩn ngơ con cá vàng, chứ chưa bao giờ thấy động từ „nuối“ đứng „mình ên“ như vậy. Lại nhớ „Giáng Ngọc“ và Bàn tay năm ngón, bèn đi tra tự điển thì hóa ra có động từ „nuối“ thật: Mong đợi ai, khi chết không được nhắm mắt.

Keine Beschreibung verfügbar.

Thế mới biết tiếng Việt không đơn giản tí nào. Mỗi chữ đều có nguồn gốc, xuất xứ chứ chẳng phải đùa, lơ tơ mơ là đi trật đường rầy ngay.
Trong „Tôi tập viết tiếng Việt“ của Nguyễn Hiến Lê, chương XI, „Sự thuần khiết của ngôn ngữ“, ông có phân tích: Không ai có thể bắt một sinh ngữ giữ hoài giọng nói ngữ pháp, nhất là dụng ngữ của nó, phải để cho nó phát triển, mỗi ngày một mới mẻ thì nó mới phong phú, mới thêm sinh lực“. Nhưng ông cũng cho rằng “ … ít tài như chúng ta thì nên nhớ hai tiếng „họa hổ“ – vẽ cọp mà chẳng thành cọp – của cổ nhân“. Ông nghiêng về phe chủ trương thuần khiết của tiếng Việt vì „ … nó như một cô gái nền nếp, nhưng không cổ lỗ … Và tôi vốn ưa những cô gái nền nếp.“
Tôi vốn ưa những bài viết của Nguyễn Hiến Lê, nên sau khi tìm tòi tra cứu, tựa đề của bài này chỉ vỏn vẹn duy nhất một chữ … Nuối.

Hoa của tuổi thơ, hoa của kỷ niệm

    Những năm đầu đặt chân lên quê hương thứ hai Canada (1983), tôi thường lái xe chở ba má tôi đi dạo phố phường, mùa xuân ngắm hoa uất kim hương (tulip), mùa hè đi thăm các vườn ươm cây, mùa thu ngắm lá vàng trong các công viên và mùa đông vào trung tâm thành phố xem thành phố trang trí hoa đèn cho lễ Giáng Sinh.

    Một lần vào cuối tháng 5 năm 1985, chúng tôi ba người đi dạo trong công viên bên bờ hồ Dows của thủ đô Ottawa.  Nơi đây hằng năm vào cuối tháng 5 có lễ hội hoa uất kim hương, bắt nguồn từ lòng tri ân của nữ hoàng Hòa Lan Juliana đối với Canada đã cưu mang gia đình hoàng gia suốt mấy năm Thế Chiến Thứ Hai và nhất là quân đội Canada hy sinh xương máu giải phóng Hòa Lan từ Đức Quốc Xã.

    Đi bộ được một lúc ba má tôi ngồi nghỉ chân trên một băng ghế đá.  Băng ghế gần đó có hai ông bà cụ người Pháp, tóc hạc da mồi vừa ngồi nghỉ mệt vừa nghe nhạc Pháp từ trong cái máy radio-cassette Walkman.  Cụ ông từ chiếc ghế bên cạnh nói vọng sang ba tôi, bằng tiếng Anh pha giọng Pháp, hỏi âm thanh có làm phiền ba má tôi không? Ba tôi vui vẻ đáp lời bằng tiếng Pháp, không phiền, trái lại ba tôi rất thích nghe nhạc Pháp.  Thấy ba tôi biết nói tiếng Pháp, hai ông bà cụ nhích lại gần cạnh ba má tôi, bắt tay và tự giới thiệu cụ ông là Pierre và cụ bà là Marie.  Cả hai cụ lúc đó đã 77 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, cử chỉ nhanh nhẹn, thái độ thân mật ngay từ lúc bắt đầu cuộc đàm thoại.     

tulip        Vốn liếng tiếng Pháp của tôi chẳng có bao nhiêu, nghe thì đì đùng nói thì lạch cạch cho nên im lặng nghe các cụ trò chuyện với nhau.  Được một lúc, hai cụ Pierre và Marie chợt im lặng khi nghe trong băng cassette ca sĩ Nana Mouskouri hát bài ‘Chèvrefeuille que tu es loin’.  Cụ bà lại hát theo nho nhỏ, rồi quay lại bài hát nghe lần nữa, tầm mắt mơ màng nhìn khoảng trời xa.  Nghe xong cụ Marie âu yếm nhìn chồng cười và nói: ‘C’est magnifique!’ (that’s magnificent, wonderful-tuyệt vời).  Cụ Pierre đáp lời cụ bà: ‘A oui, c’est toujours belle!’ (yes, always good-nghe lúc nào cũng hay) sau đó quay sang ba má tôi và bắt đầu giải thích vì sau cả hai vợ chồng đều thích bài hát này.  Đó là một câu chuyện tình tuyệt đẹp mà hai cụ Pierre và Martie bỏ ra suốt mấy giờ đồng hồ để kể cho ba má tôi nghe.  Và đó cũng là lần đầu tiên tôi biết về hoa chèvrefeuille, hoa kim ngân, một thời là ‘hoa của tuổi thơ’ (fleur de l’enfance) và ‘hoa của kỷ niệm’ (fleur des mémoires).

    Hai cụ Pierre và Marie sinh năm 1908 ở một làng quê nằm về phía Bắc xứ Provence gần Côtes du Rhône, phía Đông Nam nước Pháp.  Khu vực Provence-Côtes du Rhône này có địa lý lịch sử và văn hóa pha trộn Pháp và Ý, trước Bordeaux trăm năm từng là nơi sản xuất những loại rượu vang đỏ và trắng ngon nhất nhì châu Âu như Grenache noir, Viognier, Muscardin, Terret noir, Roussanne… vùng này cũng là nơi trồng hoa oải hương (lavandre-lavender) lớn nhất nước Pháp.

   cotedurohne       Từ bé hai cụ ở cùng trên một con đường làng, đi học cùng trường lớp.  Năm các cụ 6 tuổi (1914), Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, xứ Provence tuy nằm xa vùng giao tranh Alsace nhưng các thành phố lớn như Avignon và Marseille vẫn bị máy bay hai tầng cánh của Đức ném bom thường xuyên.  Trong suốt bốn năm thế chiến, trai tráng trong làng của hai cụ cũng như xứ Provence tòng quân nhập ngũ, một số không bao giờ trở về, một số trở về mất mát tứ chi, một số bị hội chứng động kinh ‘Shell Shock’ do nghe pháo bom suốt ngày (PTSD-post traumatique stress disdorder) mà vào thời đó được gọi nôm na là ‘World War I Shellshock Symptoms’ và một số mang về quê hương vi khuẩn ‘cúm chiến hào’ (trench  flu, trench fever) để rồi phát tán toàn châu Âu thành đại dịch Cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu) và cướp đi 50 triệu sinh mạng toàn cầu.

    Chưa đầy 10 tuổi hai cụ đã nhìn thấy hậu quả do chiến tranh gây ra.  Một năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vùng thung lũng sông Rhône và xứ Provence bắt đầu công cuộc tái thiết xứ sở, cố quên đi dĩ vãng đau buồn.  Người dân Pháp một lần nữa được hưởng cuộc sống thanh bình. Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt vào năm 1918, hai cụ được 10 tuổi và bắt đầu để ý nhau.  Cuộc sống bình dị ở vùng đồng quê khiến cho dân làng trở nên thân thiết và gắn bó với nhau hơn.  Suốt 5 năm tiểu học hai cụ đi bộ đến trường làng và trở về nhà trên cùng con đường đầy giàn hoa kim ngân bò lan trên các hàng rào gỗ và các bờ tường đá.  Sang trung học, hai cụ cùng học ở trường lớn xa hơn trường làng và ngày ngày đèo nhau trên xe đạp đến trường.  Từ trong lớp học nhìn ra ngoài cửa sổ là một mảng vườn hẹp chẳng có trồng hoa gì đặc biệt, một đám cỏ dại, vài lùm cây trắc bá diệp và giàn hoa kim ngân mọc chi chít trên hàng rào.  Khi ở Việt Nam hoa phượng nở đỏ rực vào cuối tháng 5 thì ở bên châu Âu cây kim ngân bắt đầu trổ bông.  Nhìn hoa kim ngân nở học sinh biết là sắp đến mùa bãi trường, hè đã tới rồi!

    Vào mùa hè các cô cậu thường tụ họp ở trường làng, bồn nước, nhà thờ hay đầu chợ rồi kéo nhau đi ra bờ sông câu cá, rong chơi trên các cánh đồng hoa oải hương hay vào rừng chơi trò trốn tìm.  Một số đông con nít phụ cha mẹ chúng những công việc lặt vặt trong các tiệm buôn hay nông trang.  Nông trang gồm những trại chăn nuôi gia súc và gia cầm để sản xuất lương thực như thịt, trứng, bơ, sữa, phô-mai (fromage, cheese), những trại trồng rau cải, hoa màu và nhiều nhất vẫn là các vườn trồng hoa oải hương để làm mỹ phẩm và vườn trồng nho để sản xuất rượu vang.

provence       Provence là vùng trồng hoa oải hương và nho nổi tiếng thế giới từ bao thế kỷ cho nên các cô cậu trong làng của hai cụ đa số làm việc hè ở các trang trại sản xuất rượu vang.  Hồi ức của hai cụ vẫn còn rõ ràng là những ngày hè êm ả ở vùng quê xứ Provence nơi hai cụ sinh trưởng, lớn lên, kết hôn và xây dựng gia đình.  Mỗi người ở đây đều ôm ấp các chuyện đời đẹp như chuyện cổ tích.

    Vào sáng sớm bọn trẻ trong làng tập trung ở bồn nước đầu làng trước cửa tiệm bánh mì, hay bồn nước trước cửa nhà thờ làng, xe buýt của thị xã sẽ chở khách đi vào Avignon hay Aix-en-Provence và trở về, một ngày chỉ có hai chuyến.  Ngang qua nông trại, xe buýt thả công nhân làm việc ở đó rồi đi tiếp vào thành phố.  Các cô cậu muốn tiết kiệm tiền xe buýt thì đi xe đạp hay quá giang các xe tải camioncamionnette của các hãng xe Peugeot, RenaultBerliet.

pegeat     Các chuyến xe tải phân phó hàng hóa như sữa, rau cải, gà vịt, rượu vang, bột mì… giữa các làng lân cận, đến Avignon và Aix-en-Provence cũng như Nice và San Remo ngay sát biên giới Pháp-Ý.  Hai cụ Pierre và Marie còn nhớ rõ những ngày hè cùng các bạn đồng lứa ngồi ngất ngưởng trên thùng xe tải, ca hát reo hò vui vẻ cho đến khi xe dừng trước trang trại.  Buổi chiều các cô cậu lại quá giang trên các chuyến xe tải khác trở về làng của mình.

    autos      Ở xứ Côtes du Rhône người ta thường ngửi được mùi nho chín và mùi rượu vang phảng phất trong không gian khi đi ngang vườn nho và xưởng rượu.  Ở vùng Provence dân quê vừa trồng nho vừa trồng hoa oải hương cho nên người ta luôn ngửi được mùi thơm từ cả hai thứ hoa quả này quyện vào nhau và bay lan man trong gió.  Không, còn có một mùi hương mà dân quê Côté du Rhône, Provence cũng như ở khắp đồng quê nước Pháp ai cũng thích, đó là mùi hoa kim ngân.

    Hai cụ Pierre và Marie lúc đó chính thức cặp bồ (dating) với nhau, cùng làm hè ở một trang trại sản xuất rượu nho, kể lại vào buổi chiều sau khi trở về từ trại nho, hai cụ thường đèo nhau trên xe đạp hoặc nắm tay nhau đi bộ trên con đường làng, không gian yên tĩnh, trời trong xanh, nắng hanh vàng, hai bên đường là những giàn hoa kim ngân hai màu trắng vàng hay đỏ cam nở to trong nắng và tỏa hương thơm nhè nhẹ, xa xa là các cánh đồng hoa màu, tất cả tạo nên một cảnh sắc tuyệt đẹp và một khoảnh khắc thơ mộng, lãng mạn mà người thời nay không bao giờ cảm nhận được. ‘… và những đôi nhân tình xưa thả hồn dưới mây chiều…’(Đồng Xanh-Lê Hựu Hà)

liebe      Vào ban ngày mùi hoa kim ngân chỉ bay thoang thoảng trong gió.  Mùi hoa trở nên đậm đà hơn từ sau hoàng hôn và về đêm tỏa ngát và lan rất xa.  Vào thời đó dân quê chẳng có phương tiện gì để giải trí ngoài đi xem lễ chiều, đi chợ đêm ở quảng trường, đạp xe loanh quanh trên các con đường làng, tụm năm tụm ba tán dóc trước tiệm tạp hóa hay bên hàng rào, các cô cậu nhỏ rủ nhau đi bắt ếch dưới gầm cầu, lang thang trong rừng, các cô cậu lớn hơn một chút thì ôm đàn guitar ca hát trong sân vườn trong khi các cặp bồ lớn tuổi hơn thì ‘toi et moi’ nắm tay nhau đi dạo hay đạp xe trên các con đường làng, vô hình chung người dân làng ai cũng ngửi được hương thơm của hoa kim ngân ngọt ngào trong không gian.  Hai cụ Pierre và Marie từng cùng chúng bạn đi soi ếch ban đêm và cũng từng tay trong tay đi xem thánh lễ tối, đi dạo trên các vỉa hè lát đá, đi chợ đêm… và dĩ nhiên luôn luôn ngửi được mùi hương quen thuộc của hoa kim ngân.

kinder     Nếu hương hoa hồng nồng nàn, hoa huệ (lily) thanh khiết, hoa linh lan (muguet-de-mai) e lệ, oải hương (lavandre) quyến rũ thì mùi hoa kim ngân đơn thuần như đời sống nơi thôn dã.

    Ngửi mùi hoa kim ngân người thời đó sẽ liên tưởng ngay đến những ngôi làng đẹp như trong các truyện cổ tích, những con đường lát đá yên tĩnh, những bờ tường đá và hàng rào gỗ mọc đầy cây leo, những cây cầu đá rêu phong, khuôn cửa xanh của tiệm tạp hóa kiêm nhà bưu điện ở cuối dốc, hoa kim ngân bò lan trên mái hiên xiêu vẹo, ngôi giáo đường khum khum với mái ngói đỏ, tường vôi trắng, gạch nung loang lổ và tháp chuông bé tí trên đỉnh nóc, chợ làng (farmers’ market) với các xe rau cải quây quần trước quảng trường thị xã, giếng làng với tay bơm bằng đồng cũ kỹ, bồn nước hoen rỉ ở công trường nhà thờ, ga xe lửa xơ xác mốc meo …
dorf

dorf2      Người dân đồng quê xứ Provence cũng như khắp nước Pháp sống an phận với công việc nông gia ngày này qua ngày khác.  Cuộc sống thực sự cũng không buồn chán, vì cứ cách vài tuần lại có một lễ hội hay các hội chợ bày bán các sản phẩm địa phương, luôn luôn có những giàn ngựa quay, xích đu, các quầy ném banh và các chú hề làm trò để thu hút đám con nít.  Đó cũng là dịp các đoàn xiếc hay đoàn ca kịch ‘miệt vườn’ đến lưu diễn tại các làng.  Nhiều đoàn xiếc nhỏ đến độ chỉ có một ông bầu gánh, hai con chó và một con khỉ con nhưng vẫn thu hút khán giả mọi lứa tuổi.  Hai cụ Pierre và Marie và đám bạn bè cùng trang lứa trong làng thường rủ nhau đi xem hội chợ, xem hát ở khắp vùng Provence và cũng có rất nhiều lần bán rượu vang và nước giải khát trong hội chợ làm bằng hoa kim ngân tươi và chanh ngâm trong nước đá.

fest      Hai cụ và đám bạn bè thích nhất là xem phim ở các máy chiếu phim di động.  Vào những năm 1920’s lúc phim ảnh chiếu ở rạp hát chỉ là những ước mơ của người dân ở các làng mạc xa xôi thì người ta sáng chế ra rạp hát bỏ túi và rạp hát lưu động để mọi người nhất là dân nghèo ở làng quê đều có thể xem phim miễn phí hay chỉ tốn vài xu, gọi là máy Kaiserpanorama (Kaiser-Panorama).  Các máy chiếu phim được thiết kế cho 20 đến 28 người xem cùng một lúc và được đặt ở thư viện hay tòa hành chánh thị xã.  Các máy chiếu phim lưu động nhỏ hơn rất nhiều, thường chỉ có 2 tới 4 người xem, và luân phiên đặt trong các hội chợ để phục vụ nhu cầu ghiền xi-nê của mọi lứa tuổi.  Một số máy chiếu phim được lắp đặt ngay trên xe tải, có 4 đến 12 ống dòm, mãn phiên hội chợ chủ ‘rạp hát’ lại lái xe đi hội chợ khác, rất tiện lợi và nhanh chóng.         

kaiser      Vài năm sau từng cặp từng cặp kết hôn.  Hôn lễ của hai cụ cũng như các hôn lễ trong làng không bao giờ thiếu hoa kim ngân.  Bó hoa cô dâu cầm trên tay, vòng hoa trên đầu của các phù dâu, bé gái thiên thần hoa (bouquetière, flower girls),  hoa rải trên lối đi, hoa trên bàn các thánh, hoa trang trí trong sảnh đường của tiệc cưới tất đều được kết nối hay tổ điểm bằng hoa kim ngân.

hochzeit     Cụ Marie kể lúc vợ chồng cụ thành hôn, gia tài của hai cụ chỉ có hai chiếc xe đạp cũ kỹ và một chú chó BergerAllemand (German Shepherd) dễ thương.  Ba năm sau vợ chồng son sắm được một căn nhà nhỏ ở cuối dốc đường làng, hai bên có hoa oải hương mọc chen lẫn với hoa kim ngân, chung quanh nhà luôn luôn thoảng hương thơm của hoa trong gió, nhất là vào ban đêm.  Vào mùa hè lũ trẻ con kéo nhau ra cánh đồng hoa oải hương hay vào cánh rừng thưa gần nhà hai cụ chơi trốn tìm.  Lúc trở về chúng thường mang hoa kim ngân cho cụ Marie cắm vào bình vì biết cụ thích hoa kim ngân.  Các bé gái hái thật nhiều hoa kim ngân cho cụ Marie nấu canh truyền thống và làm rau trộn.  Chúng mang thật nhiều bao bố đựng hoa kim ngân vàng cho cụ Marie làm mật kim ngân (honeysuckle jelly).  Mùa thu lũ trẻ con hái thật nhiều trái kim ngân tím (honeyberries)cho cụ Marie làm mứt, làm bánh pie và bánh crepe.  Các con của hai cụ cùng vui đùa với lũ trẻ trong làng, lập lại tất cả những gì ngày xưa hai cụ Pierre-Marie và chúng bạn từng làm thuở bé.

    Cuộc sống an bình của dân miền đồng quê xứ Provence kéo dài được 20 năm.

fieden      getränk      Chiến tranh thế giới lần thứ hai xảy đến, mùa hè năm 1940 quân Đức dũng mãnh đánh chiếm một nửa miền Bắc của nước Pháp.  Một nửa miền Nam là Vichy France, một chính phủ thân Đức của thống chế Pétain.  Kháng chiến quân Pháp (La Résistance, French Resistance) lấy Toulouse làm thủ đô kháng chiến, thường tập trung và tung ra các nhóm quân du kích chặn đánh quân Đức.  Các trận giao tranh dữ dội ở phía tây Langedoc-Toulouse khiến quân Đức tức giận.  Không quân Đức dội bom khắp nơi với mục đích triệt hạ nền kinh tế của Vichy France.  Miền đồng quê Provence và các làng mạc thung lũng sông Rhône bị các trận oanh tạc thường xuyên khiến dân làng bỏ chạy tứ tán.  Vichy France rơi vào cảnh khan hiếm lương thực.  Quân kháng chiến Pháp và thường dân tử thương ngày càng nhiều, mãi cho đến tháng 6 năm 1944 quân đội đồng minh Mỹ-Anh-Canada đổ bộ Normandy, giải phóng nước Pháp và lật ngược thế cờ của Pháp và châu Âu.

  briefparis2paris     Hai cụ lúc đó đã thành vợ chồng (32 tuổi), có 5 đứa con, đang làm chủ một tiệm tạp hóa nhỏ phải bồng bế nhau rời làng đi lánh nạn ở xứ Langedoc-Toulouse, nơi bị thiệt hại nhẹ nhất tuy lương thực vẫn bị thiếu hụt.  Hai cụ vào làm việc ở một công xưởng sản xuất vũ khí ở ngoại ô Toulouse, công việc rất nặng nhưng hai cụ vẫn vui vẻ chấp nhận như là để bày tỏ lòng ái quốc.  Cụ Pierre thường xung phong lái xe tải chở quân dụng và vũ khí ra tiền tuyến trong khi cụ Marie đi học thêm một khóa trợ tá cấp tốc và phục vụ thiện nguyện ở các lâu đài cổ hay biệt thự được biến thành bệnh xá tạm thời.  Lâu đài cổ nơi cụ phục vụ cứu thương ở vùng đồng quê cách Toulouse khoảng 20 km, chung quanh lâu đài mọc đầy hoa kim ngân.  Cụ Marie làm việc cùng với một nhóm nữ y tá đến từ bên kia bờ đại Tây Dương, Canada.  Một số nữ y tá Canada xung phong ra chiến tuyến và tử nạn trong khi làm nhiệm vụ, và đó cũng là một trong các lý do khiến hai cụ chọn di dân sang Canada.  Các con của hai cụ tự chiếu cố lẫn nhau trong khi cha mẹ vắng nhà.  Ban đêm hai cụ ngồi bên nhau nghe tin chiến sự qua cái radio mang theo từ quê nhà.

radio      Sinh hoạt thường nhật của gia đình hai cụ cứ diễn ra đều đặn như thế cho đến khi chiến tranh chấm dứt.  Hai cụ mang các con trở về xứ Provence, quê nhà vẫn còn đó, hàng xóm và dân trong thị xã người còn tồn tại người lưu lạc chưa về, các công thự đổ nát và chung quanh các nhà thờ có thêm rất nhiều ngôi mộ mới với thánh giá sơn trắng.  Chính phủ cho hai cụ một số tiền không nhỏ (tiền hồi hương) để giúp gia đình hai cụ tạo dựng cuộc sống mới.  Hai cụ Pierre và Marie lại mở cửa hàng tạp hóa, sắm thêm một chiếc camionnette cũ cho đứa con trai lớn đi lấy hàng và giao hàng đồng thời chở các em đến trường.  Vào những ngày hè cuối tuần, cụ Pierre đưa gia đình đi thăm các thành phố lớn ở miền nam như Marseille, Toulon, La Ciotat, Bandol và những làng chài cổ kính ven biển.  Nhìn thấy các nghĩa trang bên cạnh ngôi giáo đường trông ra biển, hai cụ Pierre và Marie từng ước mơ được chôn cất ở đây, để ngày ngày ngắm biển Địa Trung Hải tuyệt đẹp, lắng nghe tiếng sóng biển, tiếng chim hải âu và tiếng chuông giáo đường như là bài hát ru trẻ (berceuse, lullaby) không bao giờ dứt.

kirche      Tháng 6 năm 1968, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri lần đầu tiên hát bài ‘Chèvrefeuille que tu es loin’ (Pierre Delanoë viết lời Pháp) trên radio thì hai cụ Pierre và Marie vừa tròn 60 tuổi.  Với giọng rất là đồng quê và buồn xa vắng Nana Mouskouri đã làm rung động thính giả qua chuyện tình buồn của một cặp uyên ương trẻ.  Thay vì dùng một dàn nhạc đại hợp xướng để đệm cho ca sĩ hát như các nhạc sĩ Việt Nam thường làm, Pierre Delanoë chỉ dùng một cây đàn guitar để đệm cho Nana Mouskouri.  Những người còn sống sau đại chiến khi nghe tiếng đàn guitar đệm ở phần nền khiến họ hồi tưởng lại chính mình và những chàng trai trẻ trong làng đàn và hát trong các lễ hội địa phương, đàn cho người yêu nghe hay đàn cho đồng đội ở ngoài chiến tuyến giải sầu.  Họ viết thơ gởi lên báo kể về chuyện tình của họ và của thân nhân của họ, về những nỗi niềm đau mà châu Âu bỏ lại sau lưng từ hơn hai mươi năm trước.

nana      Bài hát này như là quà sinh nhật 60 tuổi cho hai cụ, vừa lúc hoa kim ngân nở rộ khắp châu Âu.  Hai cụ bùi ngùi nhớ tới bạn bè của hai cụ và các trai làng xứ Provence lục tục đi lính mỗi năm khi mùa hè đến.  Những mùa hè sau chỉ có vài người trở về mất mát tứ chi, mặt mày biến dạng hay nói năng khật khùng do tác động của hội chứng động kinh ‘Shellshock Symptoms’.  Hai cụ may mắn được sống bên nhau cho đến bây giờ, trong khi những thanh niên kém may mắn vĩnh viễn ra đi giống như số mệnh của chàng trai trẻ trong bài hát và cũng kém may mắn không nghe được bài hát mà Pierre Delanoë chủ ý viết về họ, những anh hùng vô danh của tổ quốc.  Trong bài hát có đoạn cậu trai hỏi người yêu tìm cho cậu một mảnh đất gần bờ biển, cạnh ngôi giáo đường và táng cậu nơi đó, nơi an nghỉ cuối cùng để hằng ngày tiếng hải âu, tiếng sống biển và tiếng chuông giáo đường nguyện hồn cậu.  Hai cụ thích nhất đoạn hát này vì đó chính là ước mơ của hai cụ. …

Veux-tu me trouver un arpent de terre (Tìm một mảnh đất cho tôi, nàng ơi)

Chèvrefeuille que tu es loin                       (Giàn thiên lý đã xa mãi nghìn xanh)

Tout près de l’église au bord de la mer    (Miếng đất ngay bên giáo đường ven biển)

Pour chanter mon dernier refrain           (để tôi nghe lời ru của biển ở nơi tôi an giấc lần cuối cùng)

  (‘Chèvrefeuille que tu es loin’, lời Việt ‘Giàn thiên lý đã xa’, đoạn 3)

    Sau khi di dân sang Canada, hai cụ trở về xứ Provence đôi lần, đi thăm các ngôi làng cổ, các nông trang trồng nho và hoa oải hương mà hai cụ và chúng bạn từng làm việc hè, các nhà thờ làng, thành phố Aix en Provence, Avignon, Toulon, Marseille và các thành phố ven biển, đi tìm lại những giàn hoa kim ngân mọc trên hàng rào và các con đường làng cũ, và một lần đi thăm nghĩa trang của liên quân Mỹ-Anh-Canada ở Normandy, miền Bắc nước Pháp, nơi họ đổ bộ và hy sinh vào ngày 6 tháng 6 năm 1944.  Khi trở về Canada cụ Marie thường mang về từ quê nhà mứt tím làm từ trái kim ngân và vài chai nước hoa mùi chèvrefeuille, lâu lâu cụ thoa lên cổ tay để ngửi và tưởng nhớ lại tuổi thơ của hai vợ chồng.  Pauvre vieille Marie qui pense au pays, tội nghiệp cụ Marie, cứ nhớ thương mãi quê nhà…     

    Không riêng gì người Pháp, dân châu Âu đều nghĩ đến những người thân đã hy sinh trong hai cuộc thế chiến.  Mỗi người dân châu Âu có một loài hoa mà họ yêu thích, nhưng sau khi nghe bài hát ‘Chèvrefeuille que tu es loin’, họ bàng hoàng nhớ lại tuổi thơ của họ và chợt nhận ra kim ngân mới là loài hoa đã đi vào tâm hồn của họ từ lúc mới sinh ra.  Họ từng chơi đùa bên bạn bè, ngửi hoa, ăn trái, ép hoa kim ngân vào tập vở, kết vòng hoa trên đầu, cắm hoa lên bàn thờ các thánh… mà nay bạn bè của họ không còn nữa.  Hoa kim ngân không chỉ là hoa của người dân miền thôn dã, mà còn là ‘hoa của tuổi thơ’ (fleur de l’enfance) và ‘hoa của kỷ niệm’ (fleur des mémoires).

memoire      Qua sự bảo lãnh của một vị cựu y tá từng sang Pháp và làm việc với cụ Marie ở lâu đài cổ năm xưa, năm 1970 ở tuổi 62 vừa lúc về hưu hai cụ Pierre và Marie lại theo các con di dân sang Canada, ở thủ đô Ottawa và bắt đầu cuộc đời mới với số tiền dành dụm ở quê nhà.  Dù vĩnh viễn xa lìa cố hương nhưng hai cụ Pierre và Marie vẫn luôn hướng lòng về quê nhà xưa ở Provence và vẫn thường nghe đi nghe lại bài hát ‘chèvrefeuile que tu es loin’, bài hát luôn gợi nhớ về khung trời kỷ niệm của hai cụ… ‘Pauvre vieux couple qui pensent au pays, chèvrefeuille que tu es loin…’, tội nghiệp đôi vợ chồng già cứ nhớ thương mãi quê nhà, giàn kim ngân đã mãi xa rồi…

    Sau khi kể chuyện xong, cụ Pierre ngắm cánh đồng hoa uất kim hương rồi nói với ba tôi: ngày nay nước Canada và các cựu chiến binh may mắn vẫn còn được dân chúng Hòa Lan tri ân, trong khi quân đội đồng minh Mỹ-Anh gian khổ giải phóng châu Âu, Bắc Phi và châu Á thì chẳng còn ai muốn nhớ.  Di dân tràn ngập châu Âu, không ngớt thóa mạ nước Mỹ về chiến tranh Việt Nam.  Họ không nhớ hay không muốn nhớ nếu không có nước Mỹ dẫn dắt quân đội đồng minh bao thầu 3 mặt trận chịu tổn thất lớn lao và vất vả chiến thắng phe trục, họ không hề có cơ hội đặt chân lên nước Pháp và châu Âu để hưởng cuộc sống sung sướng hơn nơi họ sinh ra.

    Hai cụ nói rằng hai cụ luôn luôn ghi nhớ công ơn của các chiến sĩ liên quân Mỹ-Anh-Canada đã đổ máu, mồ hôi và nước mắt để giải phóng nước Pháp và châu Âu, và các bác sĩ y tá người Canadiens đã xả thân cứu sống rất nhiều lính và thường dân Pháp suốt mấy năm chiến tranh.

Cụ Marie không biết tiếng Anh nhiều, trước khi từ giã quay sang cầm tay má tôi và tôi, cụ nghiêm trang nói: Quand vous buvez de l’eau, pensez à sa source’ (when you drink water, think of its source-tục ngữ Việt Nam: uống nước nhớ nguồn).

Tháng 6 hoa kim ngân nở rộ ở khắp châu Âu và châu Mỹ, nhắc nhở mọi người trên hai châu lục sự kiện lịch sử June 6-1944 đã thay đổi vận mệnh thế giới với máu, mồ hôi và nước mắt của gần 160,000 chiến sĩ của quân đội đồng minh Mỹ-Anh-Canada.  Người dân Pháp ngày nay chẳng còn ai nhớ hay muốn nhớ đến ngày 6 tháng 6 và những nấm mồ trông ra biển của những anh hùng vượt đại dương giải phóng nước Pháp và châu Âu…

cementery3      Tôi may mắn được gặp hai cụ Pierre và Marie để được nghe hai cụ kể chuyện xưa, một mối tình đồng quê tuyệt đẹp, để được biết đến thiên tài văn chương và âm nhạc người Pháp Pierre Delanoë và để biết được ý nghĩa thật sự của bài hát ‘Chèvrefeuille que tu es loin’, một thiên tình ca thời chiến mà đã làm xúc động hàng chục triệu người dân châu Âu hơn 20 năm sau Thế Chiến Thứ Hai.  Thời gian xóa mờ tất cả, những người dân châu Âu của thế kỷ trước dần dần ra đi, bài hát vang bóng một thời cũng dần dần chìm vào quên lãng, chẳng còn ai biết đến hoa kim ngân và huyền thoại của nó, giống như số phận của chàng trai đáng thương trong bài hát:     

    … Pauvre garçon que l’amour oublie (tội nghiệp cho thằng bé chẳng còn ai thương nhớ)          

    Un peu plus à chaque matin (tình yêu dần quên lãng theo thời gian).

hang rao

Ottawa, 6 tháng 6, 2021

Lê Anh Dũng

altes paar

Chương I: Câu chuyện tháng Tư

Hôm nọ, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi chợt thắc mắc:

– Bạn con nói ba mẹ nó chẳng kể gì về chuyến vượt biên của họ, mà con cũng chẳng bao giờ nghe mẹ kể về chuyến vượt biên của mẹ?

Ừ nhỉ, có lẽ đến lúc tôi nên chuyển sang ghi chép những gì còn sót lại trong cái ký ức bắt đầu lão hóa của mình thay vì viết nhăng nhăng cuội cuội về những câu „Chuyện cõi tạm“, để sau này đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi còn có lý do ngồi đánh vần i tờ mà đọc „Hồi ký của mẹ“.

Vào một ngày tháng 4 năm 1980, bà ngoại tìm được „mối“ móc nối đưa người đi vượt biên bằng đường biển, khởi hành từ Sóc Trăng, giá 2 cây vàng một đầu người, mẹ và bác Hiệp, bác Đức thì họ lấy tổng cộng 5 cây, 3 cây giao trước, 2 cây còn lại đưa trước khi lên ghe.
Ba anh em, ngoài bộ đồ vá chằng vá đụp trên người giả dạng làm dân quê bản xứ, chỉ mang theo mỗi người một bộ quần áo và ít tiền dằn túi. Bây giờ nghĩ lại mẹ mới thấy đó là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa vì người thành phố dù có ngụy trang kiểu gì đi chăng nữa vẫn lòi đuôi cáo do đi đứng, dáng dấp, cách ăn nói, âm hưởng, khuôn mặt v.v. không có vẻ gì là dân quê miền Tây Nam bộ cả.

Nhóm người đi vượt biên được đón ở bến xe đò rồi đưa tới tạm trú trong một căn nhà lá vách đất. Họ cho ăn uống qua loa, sau đó bắt ngồi chờ đến lúc trời chạng vạng tối thì chia ra nhiều tốp nhỏ và ra dấu đi theo họ đến bờ sông. Không ai dám nói với ai câu nào vì đã được dặn dò kỹ lưỡng không lòi đuôi cáo „dân Sài Gòn vượt biên“.

Mẹ mất hoàn toàn khái niệm về thời gian, một phần vì sợ, mắt dán chặt vào bác Hiệp để khỏi bị lạc, một phần chung quanh là cây cối, sông nước, chẳng biết đâu là đâu. Thật là vất vả mới leo lên được chiếc ghe mỏng manh, tròng trành ở ven sông, không nhẹ nhàng, an toàn như kỳ mình xuống thuyền trong chuyến du lịch ở Hội An đâu, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ à! Một thằng bé năn nỉ bác Hiệp cõng dùm người chị cậu ấy vì con bé có tật, không thể lội nước.
Ra gần cửa biển, một lần nữa nhóm vượt biên lại bị lùa lội lõm bõm để leo lên chiếc ghe lớn hơn. Phụ nữ, trẻ em họ dồn xuống khoang dưới, thanh niên, đàn ông chen nhau đứng ở trên boong. Mẹ ước chừng hơn năm mươi mạng bị ép cá mòi trên chiếc ghe, mà theo như tấm hình do nhân viên Cap Anamur chụp lại ở trên, mẹ đoán nó dài khoảng hơn 10 mét. Do không chịu được sự ngột ngạt ở khoang dưới, mẹ lần mò leo lên boong, gần chỗ bác Hiệp, ở phía đầu mũi ghe.

Mẹ rời quê hương, để lại sau lưng gia đình, người thân, bạn bè, kỷ niệm …, ra đi vô định, chỉ mang theo duy nhất một ước mơ có được tương lai tự do, tươi sáng. Mẹ không khóc, nhưng nghe lòng mình chùng xuống khi khoảng cách giữa chiếc ghe và đất liền ngày càng lớn dần, cho đến khi chung quanh chỉ còn là đại dương bao la, đen ngòm, không trăng, chỉ thấy sao trời lấp lánh trên cao.

Tháng 3 bà già đi biển.

Câu này ý nói tháng 3 âm lịch là mùa biển lặng, ít sợ sóng có thể đánh lật tàu. Mà quả là đúng như vậy. Biển êm ru, phẳng lì, ta có thể nhìn đến tận chân trời xa tít mù khơi. Lần đầu tiên trong đời mẹ hiểu thế nào là „sống chết nằm trên đường tơ kẽ tóc“: chỉ cần một cơn sóng nhẹ thì cái thuyền mong manh như chiếc lá trong đại dương này sẽ bị lật úp, dù mẹ là vô địch Yết Kiêu hay có hàng vạn huy chương vàng bơi sải, bướm, xấp, ngữa … gì đi chăng nữa, mẹ cũng sẽ là mồi ngon cho đám cá đang vô tư búng mình tanh tách trên mặt biển kia.

Lâu lâu, mỗi người được chia cho chút đồ ăn, mẹ không còn nhớ rõ là cơm ngưội hay bánh mì khô, đại khái chỉ ăn cầm chừng mà thôi. Uống thì mỗi lần là một ngụm nước từ cái nắp của can dầu rỗng 10 lít bằng nhựa trắng mà nhóm tổ chức hứng đầy nước sông đục lờ lợ sau khi họ trút hết dầu vào máy tàu trước khi khởi hành. Mẹ có cảm giác mẹ đang uống nước dầu hôi. Cái cảm giác này theo mẹ mãi đến bây giờ, nên cứ mỗi lần ngửi mùi lá mơ hăng hắc như dầu hôi mẹ lại nhớ đến những ngụm nước trên con tàu vượt biên dạo ấy.

Tuy uống ít nước nhưng cơ thể vẫn làm việc chăm chỉ: lọc và đào thải nước tiểu. Đàn ông thì đơn giản rồi, họ cứ thế là „phi“ nước tiểu xuống biển. Mẹ cũng như các phụ nữ khác chỉ có cách „xả nước cứu thân“ duy nhất là „ở đâu làm đó“, mà hình như lúc ấy mùi dầu hôi đã trở thành một loại EdT (Eau de Toilette) tự nhiên, lấn át hết các mùi amoniac. Cũng có thể cái khứu giác của mẹ đã bị tê liệt dần theo tỉ lệ nghịch của ánh nắng mặt trời ngày càng trở nên gay gắt.
Khi nào quá buồn ngủ mẹ dùng một tay khoèo vào một cái móc ở trên boong để ngộ nhỡ có ngủ gục không bị lăn xuống biển. Mà hình như con người có trực giác sống còn, cứ lúc mẹ sắp say ngủ, tay lỏng ra là tự nhiên giật thót mình tỉnh dậy hay có ai đó đụng vào người mẹ do ghe lắc qua lắc lại.

Lênh đênh trên biển như thế được 2 đêm thì đến khoảng trưa ngày thứ 3, ở mãi phía chân trời xa tắp, chợt hiện lên một đốm đen. Mọi người trên boong nhổm dậy dõi mắt nhìn theo cho đến khi đốm đen ấy to dần và hiện rõ là hình một chiếc trực thăng đang bay thẳng về hướng chiếc ghe của mẹ. Họ bắc loa nói một lô tiếng Anh xí xa xí xồ. Hồi đó vốn liếng Anh ngữ của mẹ chỉ „How are you? I’m fine, thank you“, nhưng mẹ cũng hiểu lờ mờ rằng họ nói sẽ cứu mình và hướng dẫn tài công cách điều khiển ghe tiến dần đến gần con tàu Cap Anamur thế nào để không bị sóng của con tàu vĩ đại này làm lật úp – mẹ phải nói là vĩ đại nếu so với chiếc ghe vượt biên mỏng manh, tròng trành của mẹ.
Khi chiếc thuyền con cặp sát được vào mạn tàu Cap Anamur thì thủy thủ – đa số là người Phi Luật Tân – thòng dây có có căng bạt xuống để kéo trẻ em hoặc phụ nữ quá yếu sức không thể tự leo thang dây lên tàu lớn được.

BOAT PEOPLE WERDEN 1980 VON DEM FLÜCHTLINGSSCHIFF CAP ANAMUR AUFGENOMMEN / ARCHIVBILD 80ER

Trong khi chờ cứu hộ phụ nữ trẻ em, đám chủ ghe lôi dừa ra chặt lấy nước uống, mẹ thấy trong khoang của họ nào dưa hấu, đồ ăn, thức uống chồng chất. Một chút gì đó nghe chua cay trong lòng khi mẹ nhớ đến những cái nắp lõng bõng nước sông, đục lờ lợ, toàn mùi dầu hôi. Nhưng nỗi tức giận đó chỉ thoáng qua trong chốc lát vì khi ấy mấy ông thủy thủ ra dấu tới phiên mẹ chuẩn bị bám thang dây để leo lên.

Lên tàu lớn mẹ được cho uống nước, húp chút súp nóng. Các vị bác sĩ, nhân viên làm việc thiện nguyện ân cần chăm sóc mọi người. Mẹ nhìn họ mà ngỡ đó là những thiên thần không có cánh, chỉ có hai bàn tay đầy thương yêu đang mở ra đón mẹ vào thiên đường hạ giới. Đúng như vậy đó, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ! Thời gian ở trên tàu Cap Anamur – sau khi vớt ghe của mẹ họ còn tiếp tục vớt nhiều chiếc khác nữa – là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của mẹ: không sợ đói khát, không chút lo âu, ban ngày chạy nhảy tung tăng trên boong, nhìn từng đàn cá chim bàng bạc dưới ánh nắng mặt trời, búng mình tanh tách trên biển, buổi tối ngồi ngắm ngàn vì sao rọi xuống đại dương đen ngòm, y hệt như phi hành gia đang du hành trong vũ trụ. Cả tương lai sáng ngời đang chờ mẹ ở phía trước!

Sau khi vớt một số ghe nữa và cũng không còn chỗ chứa thêm người vượt biển, tàu Cap Anamur gieo neo nơi bến cảng Singapore, chờ thủ tục đưa người đến tạm trú tại trại tị nạn Galang ở Nam Dương (Indonesia) trước khi hoàn tất hồ sơ đi định cư ở quốc gia thứ ba. Mẹ sẽ kể con nghe về những tháng ngày sống trên đảo Galang của mẹ trong một chương khác.

Câu chuyện vượt biên của mẹ là thế đấy, không có gì đặc sắc hay tình tiết éo le, ly kỳ như nhiều câu chuyện bi thương khác về số phận những „vietnamese boat people“ vào thập niên 80. Con có thể kể lại cho bạn bè, con cháu của con nghe khi họ thắc mắc về cội nguồn của con, một người da vàng mũi tẹt, sinh ra, lớn lên ở Đức và mang quốc tịch của dân da trắng mũi lõ. Hoặc sau này, trong một chuyến du thuyền nào đó trên biển Thái Bình Dương, vào ban đêm, khi ngồi trên boong tàu ngắm ngàn vì sao chiếu lấp lánh trên trời, con sẽ nhớ đến mẹ cũng đã từng làm như thế trên con đường đi tìm tự do, hỡi đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ!

Würselen, viết ngày 27.04.2022

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.

Khúc hát thanh xuân

Hôm nọ, mẹ tôi nói:
– Con rảnh tìm cho mẹ bài hát „One day when we were young“, bản tiếng Pháp nhé!
Tôi nghĩ bụng „dễ ẹt“, rồi quên béng đi mất vì cứ hễ định lên internet kiếm bài ấy thì xếp lại hỏi thăm sức khỏe.
Mẹ tôi đợi lâu quá nên quay qua hỏi con bạn tôi, dân Bà-Rịa (Parisienne), nói tiếng Tây như gió.
– Cháu rảnh tìm cho bác bài hát „One day when we were young“, bản tiếng Pháp nhé!
Dân Bà-Rịa cũng bó tay vì bài này cũ rích, xưa như trái đất, là một trong những bài điệu Valse được trình bày bởi nữ minh tinh Miliza Korjus trong phim The Great Waltz do MGM sản xuất năm 1938, tức là lúc ấy mẹ tôi mới … tròn một tuổi xuân.
Không nhằm nhò gì, con bạn tôi khoe:
– Bác ơi! Bài này phiên bản tiếng Việt là „Khúc hát thanh xuân“ đó bác!
Ngày ấy khi xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui

Mẹ tôi vẫn ôm mối u hoài nhớ về thuở ngày ấy khi … mẹ tôi mới ra đời, phiên bản tiếng Pháp, bất di bất dịch.
Một con bạn khác (tôi có nhiều con bạn hơn thằng bạn) mò mẫm, lục lọi, tìm được lời dịch qua tiếng Pháp, hớn hở reo:
– Eureka!
Thế là chúng tôi thiên biến vạn hóa, „Ngày ấy khi xuân ra đời“ thì chúng tôi cũng cho lọt lòng bài „Chanson de jeunesse“, hay hơn cả bản gốc Miliza Korjus hát nhiều, vì cái giọng chim sơn ca của cô minh tinh màn bạc này ở tầng số siêu âm thanh, tôi nghe cứ như là … „Đỉnh gió hú“ í.

Sau khi kiểm duyệt bản quyền, mẹ tôi nhắn tin cho con bạn tôi:
– Hai câu tiếng Pháp bài „One Day …“ không biết bác nghe và viết lại có đúng không, nhưng hình như là:
Nos coeurs j‘ avais vingt ans
C’était un mois du printemps

Bỏ bu rồi, không thiên biến vạn hóa được, trí nhớ người già ai bảo „Mẹ ta trả nhớ về không“, thơ Đỗ Trung Quân:

Ngày xưa chào mẹ, ta đi
Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười
Mười năm rồi lại thêm mười
Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không
Ông ai thế? Tôi chào ông
Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi
Ông có gặp thằng con tôi
Hao hao … tôi nhớ … nó … người … như ông.
Mẹ ta trả nhớ về không
Trả trăm năm lại bụi hồng rồi đi

Cuối cùng thì Chanson de Jeunesse cũng „lên sóng“ với phụ đề Pháp ngữ để mẹ tôi có thể vi vu hát theo như hát Karaoke.

Tôi cũng giống mẹ tôi, trình độ Pháp văn của tôi cũng mấp mé ở hai câu của những bài hát tiếng Pháp thập niên 60-70.
Chắc bắt đầu từ hôm nay tôi phải chép lại các bài hát tiếng Pháp mình ưa thích và chuyển vào bộ nhớ của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi, để mai kia khi tôi nghêu ngao:
J’avais dessiné
sur le sable …

là hai câu đầu của bài Aline do Christophe trình bày 1965, thì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi không phải hỏi lại:

– Mẹ mà cũng biết vẽ trên cát à?

Thiên đường ngàn dặm

Hôm nay, vô tình xuống tầng hầm (bên Đức đa số nhà thường có tầng ở dưới tầng trệt gọi là „Keller“, thường là nơi để hệ thống lò sưởi, máy giặt, những két nước, đồ khô, đồ hộp, hoặc các thứ đồ dùng ít xài đến) thấy mấy cái va-li đóng bụi nằm xếp xó, tự dưng thèm „lê va-li“, không phải „les valises“ tiếng Pháp mà là … kéo va-li chạy xềnh xệch ở phi trường để kịp bắt chuyến bay sắp cất cánh.
Bấm ngón tay thì thấy đại dịch Vũ Hán đã trói chân tôi hơn hai năm nay rồi.
Chợt nhớ bài Paradise của Meduza:

Oh, my, my, my
There’s a thousand miles between you and I
Oh, my, my, my (my, my, my)
Just a thousand miles between me and paradise

We’re all scared to fly, still we try
Learn to be brave, see the other side
Won’t you lead me there? Have no fear
Close your eyes, find paradise

Ôi, hỡi ôi,
Thiên đường ngàn dặm cách xa
Em đưa tay với ngỡ là thiên thu
Sợ gì mà chẳng phiêu lưu
Thiên đường ngàn dặm, phù du cuộc đời


Trong bài Paradise, ban tam ca Meduza đã thành công khi lồng một giai điệu gợi lên sự khao khát tìm thấy thiên đường xa diệu vợi:

Have no fear
Close your eyes, find paradise
Đừng sợ hãi
Hãy khép mắt lại, tìm thiên đường ước mơ


Meduza để thính giả tự chọn định nghĩa cho thiên đường của mình, nó có thể là một người, một địa điểm, hoặc chỉ là một ý tưởng tuyệt đẹp về một điều gì đó. Vì vậy, ai cũng có thể cảm nhận được giai điệu của bài hát với nội dung sâu sắc nhưng dùng từ đơn giản, vần điệu nhịp nhàng.

Ai cũng ước mơ tìm thấy thiên đường của mình. Tôi cũng vậy, nên tôi đã nghêu ngao hát bài Paradise suốt ngày chủ nhật hôm nay. Và tôi đã tìm thấy thiên đường của mình:

When the dark has gone, the morning’s won
We’re gonna feel something different
It will set you free, if you just tell me
Every secret, I’ll listen


C’était mon rêve, c’était Gérard

Người Việt có một thú tiêu khiển rất … Á châu là … hát Karaoke mỗi khi có hội họp bạn bè.

Mùa dịch, hết nước này ra lệnh giới nghiêm, nước kia „nội bất xuất, ngoại bất nhập“, nước nọ hò hét yêu cầu chích ngừa chống cúm v.v. Tức là chấm dứt luôn màn Party ăn uống, chè chén, ca hát. Không tụ tập được thì ta hát ở nhà một mình rồi thảy lên „phơi“ (Facebook) cho bạn bè thưởng thức. Cũng có cái hay là chỉ có „Ngón-Cái-Giơ-Lên“ (like) chứ không có những „Ánh-Mắt-Kém-Thiện-Cảm“ ra vẻ dè bỉu, chê bai.

Trong những bài hát „ca ra là ô kê“ đó có bài „Sonia“ của Patrick Duvet do một người bạn từ thủ đô ánh sáng mới thảy lên „phơi“, còn ướt át, chưa khô, một trong những bài hát tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.
Hồi đó thích Sonia vì điệu nhạc nhịp nhàng, dễ hát theo. Bây giờ sang đây, thấm thía thế nào là „le vent froid de sa steppe natale“ (gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em), nghe đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi mỗi lần hè đến lại gào lên „Nóng quá!“, mới thấy lời tự tình của Patrick Duvet thật là đẹp.

Elle était venue comme une étoile
Pareille à celle des nuits de mai
Le vent froid de sa steppe natale
La suivait comme une mère
Une mère

C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Était-ce un songe que j’ai inventé
Pour un été?

C’était mon rêve, c’était Sonia
C’était l’amour qui venait du froid
Son cœur de cendres a brûlé mes doigts
Encore j’en tremble

Elle n’avait pu se faire à l’idée
Que mon pays fait parfois l’été
Au doux soleil des mille ciels bleus
Je devais lui allumer
Un grand feu

Em đã đến như một vì sao sáng
Của những đêm tháng Năm
Gió lạnh từ thảo nguyên quê hương em
Quyện bước chân như vòng tay người mẹ

Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Em có phải là giấc mơ anh hằng ao ước
Cho một mùa hè oi bức
Sonia hỡi, em chính là giấc mơ của anh
Là tình yêu đến từ giá lạnh
Trái tim tro tàn của em làm cháy bỏng ngón tay anh
Làm run rẩy tình anh

Có lẽ em không hề tưởng tượng được
Rằng quê hương anh có cả mùa hạ
Trong ánh nắng dịu dàng của trời hè xanh ngát
Anh đã đốt cho em ngọn lửa tình nồng cháy

Nữ ca sĩ Dalida có trình diễn bài này, nhưng đổi thành „Illia“ là tên dành cho con trai.
Tôi cũng bắt chước Dalida, ném bông hồng „bis, bis“ (nữa đi, nữa đi) lên sân „phơi“ nhờ người bạn „đổi hệ“ cho bài hát mà tôi yêu chuộng nhất thuở thập niên 70.