Nâu đỏ hay đen?

Mới đây, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đòi nhuộm tóc màu nâu đỏ. Không phải tôi không thích màu nâu đỏ, cũng không phải tôi bài bác việc nhuộm tóc, mà chính là sự kết hợp giữa tuổi tác và việc nhuộm tóc làm tôi bị „một phút suy tư“.

Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi có mái tóc đen tuyền. Đen như màn đêm, dù có ánh trăng và hàng ngàn ngôi sao sáng lấp lánh vẫn cần ánh sáng điện để có thể nhìn thấy mái tóc huyền, đen như đêm ba mươi.

Tôi yêu màn đêm. Ban đêm thì không phải làm việc. Giấc ngủ đêm giúp cơ thể hồi phục, tái tạo tế bào và giúp chúng ta trông khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng vào ban ngày. Tôi không thể nói rằng tôi yêu tóc đen như yêu màn đêm. Đôi khi tóc đen, đen nhánh quá đỗi, nhất là khi tuổi tác đã đến, khiến những sợi tóc bạc ở người châu Á như những sợi chỉ trắng lạc loài, xen lẫn trong mái tóc đen trẻ đẹp, quý phái.

Tôi mất ngủ vì lướt mạng suốt đêm. Tôi phát hiện ra rằng luật pháp cấm tiệm hớt tóc nhuộm tóc cho trẻ em dưới 16 tuổi vì trong thuốc nhuộm tóc chứa các chất hóa học có thể gây sốc. Một cô bé ở Anh đã chết vì một cơn sốc như vậy ngay trong tiệm khi đang trong quá trình thay đổi màu tóc.

Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi bị dị ứng nhiều thứ. Dị ứng với Đi-Ngủ-Trước-Mười-Một-Giờ, dị ứng với Quần-Áo-Dơ-Phải-Bỏ-Vào-Giỏ-Giặt, dị ứng với Đồ-Không-Được-Vứt-Lung-Tung-Trên-Sàn và vô số những dị ứng khác liên quan đến sự gọn gàng và kỷ luật. Vì vậy, tôi rất lo lắng khi đọc về việc dị ứng với thuốc nhuộm tóc. Tôi và đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đã thảo luận khô nước miếng, cãi nhau sùi bọt mép, tóm lại là tình hình rất căng thẳng, không tìm ra giải pháp gì có thể giúp ích cho cả sư tử mẹ lẫn chó sói con.

Vấn đề sau đó được tạm gác lại vì những lo toan cho kỳ nghỉ hè gần kề.

Saint-Hubert. Con đường mua sắm dài hàng cây số ở Montreal. Tiệm bán quần áo. Tiệm bán giày. Tiệm bán nữ trang. Và các tiệm bán tóc nối kẹp. Thông tin thêm cho những bà mẹ lần đầu tiếp xúc với chủ đề này: Tóc nối kẹp là một cách nhanh chóng để tóc làm tóc dài thêm ra hoặc có lọn màu vàng, màu nâu, màu đỏ. Chúng ta chỉ cần kẹp nó vào tóc. Tóc ở kẹp có thể là tóc thật hoặc tóc giả, và có đủ MÀU SẮC để lựa chọn (xin chú ý, chỗ nhấn mạnh ở đây là từ “màu sắc”). Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi rất rành về tóc nối kẹp. Con bé thuyết phục tôi rằng nó sẽ trông như những sợi tóc nhuộm thật. Còn người bán hàng thì đảm bảo với tôi có thể nhuộm, cắt, uốn và tạo kiểu tóc nối kẹp như tóc thật và chúng không gây hại cho tóc tự nhiên. “Không gây hại” vang lên như tiếng kêu „cạch“ của chiếc chìa khóa khi mở được kho báu.

Chỉ có cái giá cả làm tôi hơi bị bối rối một chút. Một hộp với vài sợi tóc giả mỏng teng giá … 100 đô la. Đó là giá xướng lên ban đầu. Ngoại hình anh bán hàng có nhiều nét Trung Đông, lông mày rậm, râu ria xồm xoàm trông như hải tặc. Sau một … giây – tôi chưa kịp tính nhẩm xem chuyển sang tiền Euro là bao nhiêu – thì giá xuống còn 80 đô la cho 2 hộp và khuyến mãi thêm một hộp tóc nối kẹp không trọn bộ (một bộ có 1 lọn tóc giả với 5 kẹp, 1 lọn với 4 kẹp, 1 lọn với 3 kẹp, 2 lọn với 2 kẹp) mà anh ta gọi là „một món quà cho tình bạn của chúng ta“ (mãi tận đến hôm nay tôi vẫn không nhớ ra tình bạn đó bắt đầu từ đâu?). Liệu tôi có bị lừa không thì tôi không dám quả quyết vì tôi không còn sức để đi cửa hàng khác kiểm tra giá cả.

Thành thật mà nói, đây không phải là một cuộc giao dịch tồi vì tóc nối kẹp thực sự là một giải pháp tuyệt vời. Mỗi khi đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đi bạc-ti (Party, không phải là bạc tỉ), đít-cô đít-cậu (Disco), mà muốn thay đổi diện mạo, chỉ cần kẹp tóc nối vào thì ngay lập tức, trong bóng tối của màn đêm, một Miley Cyrus với các kiểu tóc từ nâu đến đỏ yểu điệu xuất hiện trước màn hình.

Với tôi, điều quan trọng duy nhất là tôi có thể ngủ ngon giấc, không phải trằn trọc vắt tay lên trán lo lắng về các quy định, luật lệ bảo vệ trẻ em dưới 16 tuổi.

11 năm sau …
Chó sói con lâu lâu lại đi thay đổi màu tóc, cứ y như là Kristen Stewarts, lúc nâu, lúc vàng, lúc đồng đỏ. Còn sư tử mẹ thì ngày càng bệ vệ với bờm đen loang đốm bạc. Đã đến lúc tái xử dụng tóc nối kẹp để có thể ngủ ngon giấc, không phải trằn trọc vắt tay lên trán lo lắng về giá cả thuốc nhuộm tóc ngày càng bị lạm phát.

Con ve sầu Lê Quí Đôn

Năm nay, cựu học sinh Lê Quí Đôn bên Paris tổ chức họp mặt, mời một số thầy cô mà trong đó có thầy Mun Pierre là thầy dạy Pháp văn lớp 5/6 của tôi, niên khoá 1973–1974. 

Lê Quí Đôn là một trường Việt–Pháp, tức là cũng học chương trình Việt như các trường khác nhưng đặc biệt hơn, chúng tôi được học Pháp văn từ lớp Một, một phương pháp sư phạm mà bên Đức này, mãi đến năm 2010, Bộ Giáo dục nước Đức mới đưa ra việc học sinh ngữ chính là Anh văn sẽ được bắt đầu từ lớp Một, vì trình độ tiếng Anh của học sinh Đức so với các nước Bắc Âu khác như Hòa Lan, Na Uy, Thụy Điển v.v. rất là … í ẹ. Cái chuyện ông thủ tướng Đức bắt tay thắm thiết tình „hữu nghị anh em“ với tổng thống Mỹ Reagan và nói „You can say you to me“ là một câu chuyện hài hước mà mãi cho đến bây giờ người ta vẫn hay đem ra làm bằng chứng để khuyến khích việc học sinh ngữ từ lớp Một, vì khổ cái nước Đức là xứ tự do dân chủ, thằng nào chiếm được đa số là thằng đó thắng, nên vẫn có những suy nghĩ đối lập cho rằng học nhiều, ngu nhiều, không học …. không ngu, nên không cần học tiếng Anh sớm như vậy. 

Vì Mít ta nghĩ xa hơn, nên hồi lớp 5/6 tôi thật là diễm phúc được học Pháp văn với thầy Mun Pierre, một mơ ước của tất cả các nữ học sinh tiểu học Lê Quí Đôn thời bấy giờ. Đố các bạn biết tại sao? Vì thầy Mun Pierre (cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao chúng tôi lại gọi thầy bằng cả tên lẫn họ trong khi các thầy cô khác thì nếu là thầy cô dạy tiếng Việt thì chỉ gọi tên như cô Nương, cô Lang … còn mà thầy cô dạy Pháp văn thì gọi bằng họ như Madame Azzie) đẹp trai như tài tử xi-nê-ma Alain Delon. Đây là hình thầy hồi đó: 

Thầy Mun Pierre 

Năm 5/6 là năm tiếng Tây tiếng U của tôi lưu loát nhất vì tôi muốn được là học trò cưng của thầy. Chỉ duy nhất một điều đó thôi. Tôi hãnh diện được thầy kêu lên đọc recitation bài „La cigale et la foumi“ mà cho tới bây giờ tóc … đủ màu (do nhuộm) tôi vẫn không quên … hai câu đầu: 

La cigale, ayant chanté 

Tout l’été …. 

Cũng nhờ vậy mà năm đó là năm „huy hoàng“ nhất của tôi, đi đâu tiệc tùng vui chơi gì, ông ngoại cũng dắt tôi theo … làm trò vì tôi vừa đọc bài recitation, vừa khoa tay, khoa chân, trợn mắt, trợn tai như một đứa Tây con, nên lúc nào cũng được các ông bà bạn của ngoại tôi vỗ tay ầm ĩ và thưởng nào kẹo, nào bánh, nào lời khen … ông ngoại (là có đứa cháu gái giỏi thế). Phải kể thêm rằng, thời đó muốn tỏ ra mình thuộc giới phong lưu thì nói chuyện phải xen tiếng Tây, gọi nhau „moi, toa“ ơi ới, hoặc đôi khi nói toàn cái tiếng Tây mà sau này khi sang Đức, học lại Pháp văn với thầy cô người Đức, tôi mới biết ông ngoại nói tiếng Tây rặt âm hưởng … Nghệ An, vì cô giáo người Đức dạy Pháp văn của tôi nói tiếng Tây nếu ai không biết không thể nào đoán ra cô là Đức Arier (Aryan/ Aryens) chính thống. 

Đi dạy, lúc nào ông thầy Alain Delon cũng ăn mặc rất bảnh bao nên tuy thầy không cao lắm vẫn có vẻ uy nghi của một nhà giáo, đủ làm chúng tôi nể sợ. Tôi không được học tư thêm với thầy vì, thứ nhất, ba mẹ tôi chỉ chìu ý ông ngoại mới cho tôi học trường tiếng Tây chứ ba mẹ tôi học Anh văn là sinh ngữ chính, cho nên ba mẹ tôi chẳng thiết tha gì việc tôi đọc recitation con ve hay con dế cả. Thứ hai, là nhà tôi cũng chẳng giàu có gì, nhà có một cái bảng to đùng như ở trong lớp học, tối nào ba tôi cũng dạy „tư“ thêm tụi tôi môn toán, hiểu không hiểu cũng không dám hỏi lại vì ba tôi nghiêm lắm. Nhưng tôi vẫn hiểu lờ mờ là ông thầy „Delon“ của tôi rất công bằng, không phải vì học tư thêm ở nhà thầy mà được thầy ưu ái hơn, qua bằng chứng là … tôi, bởi tôi đã được làm con ve sầu kêu ve ve suốt … năm 5/6 ấy. 

Con ve sầu Lê Quí Đôn 

Hôm rồi, đi thăm cô Nương, ngồi nghe cô kể chuyện ngày xưa, tôi mới biết thầy dạy tư rất có hiệu quả, và mấy chục năm sau thầy cũng không quên là cô đã đem tặng vợ thầy một chiếc cà rá thay lời cám ơn sự dạy dỗ của thầy. 

Từ 1975, những ý niệm về ông thầy „Delon“ của tôi chỉ duy nhất còn sót lại qua tấm hình chụp lớp 5/6 và hai câu đầu của bài con vẻ, con ve. Chẳng bao giờ tôi nghĩ sẽ gặp lại thầy vì dù có sang được xứ Tây Âu thì tìm đâu ra thầy trong 65 triệu người Pháp mắt xanh mũi lõ? 

Hôm con nhỏ bạn tôi ríu rít khoe đã liên lạc được với thầy, tôi tưởng nó … diễu dở, vì tất cả những gì chúng tôi biết về thầy chỉ duy nhất là cái tên Mun Pierre aka (as known as) Alain … „Delon“. Vui buồn lẫn lộn trong tôi. Tôi „gồng“ hết sức, ăn gian xài luôn ông „Gú Gồ“ (Google), mà chỉ viết được vài dòng hỏi thăm thầy, và không quên hỏi thầy còn nhớ „con vẻ, con ve“ ở trường tiểu học Lê Quí Đôn ngày xưa không? Đương nhiên thầy không thể trả lời „ve nào?“ được, mặc dù tôi biết thầy không nhớ tôi là cái chắc, vì cuộc đời của thầy lên xuống, lưu lạc từ xứ này qua xứ khác, trong đại dương mênh mông của thầy tôi chỉ là một hạt cát bé tí. 

Tôi đang lo sốt vó là tới này gặp lại thầy tôi biết nói gì đây khi con ve ngày xưa bây giờ chỉ rặn ra được … một câu „em cà phê no, xin vú lê“ (un café noir, s’il vous plaît) là chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm rồi. 

Hỡi các bạn Lê Quí Đôn „yêu vấu“ của tôi, ai sẽ tình nguyện làm con ve sầu cho tôi kỳ họp mặt tại Paris này đây? 

La cigale, ayant chanté 

Tout l’été, 

Se trouva fort dépourvue. 

Quand la bise fut venue: 

Pas un seul petit morceau 

De mouche ou de vermisseau. 

Elle alla crier famine 

Chez la Fourmi sa voisine, 

La priant de lui prêter 

Quelque grain pour subsister 

Jusqu’à la saison nouvelle. 

„Je vous paierai, lui dit-elle, 

Avant l’Août, foi d’animal, 

Intérêt et principal.“ 

La Fourmi n’est pas prêteuse; 

C’est là son moindre défaut. 

„Que faisiez-vous au temps chaud?“ 

Dit-elle à cette emprunteuse 

– Nuit et jour à tout venant 

Je chantais, ne vous déplaise 

– Vous chantiez? j’en suis fort aise 

Eh bien! dansez maintenant. 

ps: Bài này tôi viết năm 2014, năm nay là 2024, thời kỹ nghệ „Trí tuệ nhân tạo“ (Artificcial Intelligence) đang phát triển mạnh giúp tôi có thể tự sáng tác một bài nhạc „Ve và Kiến“ bằng Suno AI (Suno ra đời ngày 20.12.2023), xin trình làng xem cho vui cửa vui nhà.

Cái ba-lô để quên

Hôm nọ, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi cùng nhỏ bạn thân rủ nhau thăm viếng Paris, một chuyến du lịch không có gì đáng để đề cập đến vì từ chỗ nó ở đi xe lửa tốc hành Thalys chưa đầy ba tiếng là đã đến Gare du Nord.

Nhưng … (cuộc đời sẽ êm đềm biết bao nhiêu nếu không có chữ „Nhưng“) Paris không chỉ để lại những tấm hình chụp thật đẹp của tháp Eiffel, hay những hình các món ăn chơi, ăn thiệt của Tây, các món phở, bánh bèo ở quận 13, Paris còn tặng đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi một kỷ niệm để đời.

Thay vì

Ngày rời Paris em đã để quên con tim

thì đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi đã để quên cái ba-lô khi là người hành khách cuối cùng xuống xe lửa rời sân ga.

Chuyện „Cái ba-lô để quên“ không có gì đáng để đề cập đến nếu hôm Giáng Sinh về thăm nhà, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi không thủ thỉ:

Trong ba-lô có quà của tata Tuyền tặng mẹ, gởi con mang về.

Chuyện „Cái ba-lô để quên“ cũng không có gì đáng để đề cập đến nếu đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi không thú tội trước bình minh:

Tổng cộng giá trị đồ trong ba-lô của con khoảng gần 2.000 Euro mẹ ạ!

Thằng bồ nó phán một câu xanh rờn:

Chưa thấy ai đi du lịch mà mang cả „KÍ LÔ“ nữ trang như vậy!

Chuyện „Cái ba-lô để quên“ vẫn không có gì đáng để đề cập đến nếu đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi không nhận được tin của Sở Hỏa xa nhắn nó đến nhận lại „Cái ba-lô để quên“ sau 6 tuần tìm kiếm.

Chuyện „Cái ba-lô để quên“ càng không có gì đáng để đề cập đến cho đến khi tôi kể chuyện này cho con bạn tôi ở Việt Nam nghe. Nó kết luận:

Chúc mừng nhé. Thế thì bên đấy vẫn còn chưa loạn!

Nó làm tôi nhớ đến định nghĩa của Liberalism.

Trích từ Wiki: Chủ nghĩa tự do phủ nhận nhiều giả thuyết nền tảng đã thống trị các lý thuyết đầu tiên về nhà nước, chẳng hạn như thần quyền của vua chúa, vị trí có được do thừa kế và quốc giáo. Những quyền căn bản của con người mà tất cả những người theo chủ nghĩa tự do đều ủng hộ là quyền được sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản.

Đức là một nước theo chế độ dân chủ, dựa trên chủ nghĩa tự do, đại khái là dùng sức mạnh của sự thuyết phục để kêu gọi người khác đi theo, làm theo, chứ không dùng quyền lực bắt phải phục tòng, tuân thủ, vì tự do cá nhân cho phép người ta trình bày ý của mình mà không nhất thiết phải theo quy luật nào. Luật pháp của một quốc gia dân chủ cũng phát xuất từ chủ nghĩa tự do, khác với luật pháp của một đất nước theo chế độ độc tài. Ví dụ như việc hút thuốc lá nơi công cộng, trước kia là được tự do phì phèo ở bất cứ nơi nào, không ai cấm, không bị phạt gì sất. Dần dần, dân tình thấy mình không hút thuốc lá mà quần áo vẫn hôi rình mùi khói, thấy mình không hút thuốc lá ít bệnh tật hơn, ít lao phổi lao tim hơn, mà vẫn trả mức bảo hiểm sức khỏe như người „đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên“ nên bắt đầu nhớ đến „chủ nghĩa tự do“, tức là không dùng bạo lực hay uy quyền mà kiên trì lên tiếng đòi quyền lợi qua nhiều hình thức – không chỉ riêng đi biểu tình phản đối – dai dẳng từ năm này sang tháng nọ, đến bây giờ thì việc cấm hút thuốc lá nơi công cộng đã thành luật đàng hoàng, vi phạm chẳng những bị „âu yếm bằng tròng trắng“ mà đôi khi còn bị phạt tiền nữa, chẳng hạn như phì phèo vô tội vạ trên máy bay.

Nói dông nói dài thì đại khái những gì là thành quả từ liberalism đều có một hành trình dài, cũng như thành tựu của nó bền vững hơn là từ chủ nghĩa độc tài. Ở châu Á, nhất là Trung quốc, hành trình liberalism sẽ … lê thê vì dân số đông hơn, dân trí thấp hơn nên chế độ độc tài dễ tồn tại hơn, còn ở phương Tây thì theo Wiki: Cách sử dụng rộng rãi nhất đối với thuật ngữ „chủ nghĩa tự do“ là trong ngữ cảnh của một nền dân chủ tự do. Theo nghĩa này, chủ nghĩa tự do dùng để chỉ một nền dân chủ trong đó quyền lực nhà nước bị giới hạn và quyền của công dân được pháp luật công nhận; điều này gần như là thống nhất trong các nền dân chủ phương Tây, nên do vậy, không chỉ có các đảng tự do (liberal party) mới được hiểu là gắn liền với chủ nghĩa này.

Tóm tắt lại là việc „Nhận-Lại-Ba-Lô-Để-Quên“ cũng là một hành trình dài – ngoài hành trình dài đi tìm ba-lô – cho ý thức „Không-Ham-Muốn-Sở-Hữu-Đồ-Không-Thuộc-Về-Mình“. Ý thức này chỉ có thể thành tựu khi xã hội có dân trí không thấp quá, đất nước không nghèo quá, tức là – theo như Wiki – liberalism đa số được thấy ở các nước … „phương Tây“. Còn ở Á châu thì phải như bên Singapore, xả rác là phạt tiền rất nặng, hoặc Hàn quốc, camera được đặt ở khắp mọi nơi, đồ để đâu có quên cũng chả ai (dám) sờ đến, điều mà bên Đức là „mission impossible“, là … bó tay, vì Đức theo chủ nghĩa liberalism, không được phép đụng đến tự do cá nhân, tức là chỉ những camera chụp xe chạy quá vận tốc cho phép thì ok sa-lem, lem-nhem là phạt, mà máy cũng không chụp rõ tài xế, chỉ chỉnh đủ thấy bảng số xe „rõ bâng bâng không chối cãi được“ để truy tìm chủ xe mà gởi giấy phạt đến tận nhà, chụp hình „xeo-phì“ (selfie) lỡ dính mặt mũi ai mà họ trông không được đẹp cho lắm, không đồng ý cho khoe là đành ngậm ngùi „đì-lít“ (delete) vì lý do „bảo vệ dữ liệu cá nhân“ (personal data protection) chớ có mà vi phạm.

Cân nhắc thiệt hơn, tôi vẫn yêu liberalism, đơn giản là „xeo-phì“ thì cứ phì phì mà tiếp nối hành trình liberalism „Chụp-Hình-Không-Vướng-Người-Khác“, chả mất xu nào, còn „Cái ba-lô để quên“ nếu không có hành trình liberalism thì đúng là nó sẽ không trở về với đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi được.

Emmanuelle

Emmanuelle là nhân vật chính trong tiểu thuyết Emmanuelle (1959) của Emmanuelle Arsan, được quay thành phim (1974) với tài tử chính là Sylvia Kristel. Phim bán được 8,89 triệu vé ở Pháp. Nhạc nền cho bộ phim do Pierre Bachelet sáng tác bán được 1,4 triệu album và 4 triệu đĩa đơn. Một rạp hát trên đại lộ Champs-Elysées, Paris, đã chiếu bộ phim này trong 13 năm.

Mélodie d’amour chante le cœur d’Emmanuelle
Qui bat cœur à corps perdu
Mélodie d’amour chante le corps d’Emmanuelle
Qui vit corps à cœur déçue

Tu es encore
Presque une enfant
Tu n’as connu
Qu’un seul amant
Mais à vingt ans
Pour rester sage
L’amour est un
Trop long voyage
Mélodie d’amour chante le cœur d’Emmanuelle
Qui bat cœur à corps perdu
Mélodie d’amour chante le corps d’Emmanuelle
Qui vit corps à cœur déçue
L’amour à cœur
Tu l’as rêvé
L’amour à corps
Tu l’as trouvé
Tu es en somme
Devant les hommes
Comme un soupir
Sur leur désir
Tu es si belle
Emmanuelle
Cherche le cœur
Trouve les pleurs
Cherche toujours
Cherche plus loin
Viendra l’amour
Sur ton chemin
Mélodie d’amour chante le cœur d’Emmanuelle
Qui bat cœur à corps perdu
Mélodie d’amour chante le corps d’Emmanuelle Qui vit corps à cœur déçue
Giai điệu tình yêu từ trái tim Emmanuelle
Vỡ tan trong hư vô
Giai điệu tình yêu từ da thịt Emmanuelle
Vỡ tan trong tuyệt vọng

Nàng,
Ngây thơ như một đứa trẻ
Lần đầu nếm mùi vị tình yêu
Emmanuelle hỡi,
Ở tuổi đôi mươi
Tình yêu là một hành trình rất dài

Giai điệu tình yêu từ trái tim Emmanuelle
Vỡ tan trong hư vô
Giai điệu tình yêu từ da thịt Emmanuelle
Vỡ tan trong tuyệt vọng

Tình yêu không phải là hương vị da thịt
Tình yêu đến từ trái tim là khát vọng cuộc đời
Emmanuelle nàng hỡi,
Em là tiếng thở dài tiếc nuối
Của những kẻ quỵ lụy trước nhan sắc em
Thèm khát da thịt em
Emmanuelle nàng hỡi,
Những giọt nước mắt sẽ là bạn đồng hành trên con đường thiên lý
Tìm một tình yêu đến từ trái tim

Emmanuelle nàng hỡi,
Tình yêu rồi sẽ đến
Trên con đường em đi

Giai điệu tình yêu từ trái tim Emmanuelle
Vỡ tan trong hư vô
Giai điệu tình yêu từ da thịt Emmanuelle
Vỡ tan trong tuyệt vọng

Hoa phượng ngoài khung cửa sổ: Cô Nương

Một lần, nhân dịp đi Paris, tôi có ghé thăm cô Nương, cô giáo dạy tôi hồi lớp Năm ở trường tiểu học Lê Quí Đôn.

May mà có vợ chồng nhỏ bạn tình nguyện chở tôi đến nhà cô chứ nếu tôi đi xe lửa RER (Le Réseau Express Régional) thì với vốn liếng Pháp văn „về chiều“ của tôi, chắc tôi sẽ không tài nào tìm ra nhà cô ở một khu cư xá rất đông dân.

Lần cuối tôi gặp lại cô cách đây phải hơn hai mươi năm. Tôi không ngờ thời gian trôi qua nhanh như vậy. Bận rộn chuyện mưu sinh, gia đình, con cái, tôi đã quên mất cô. Vì vậy, tôi rất hồi hộp khi bấm chuông nhà cô. Cô mở cửa, ôm chặt lấy tôi, hôn thật mạnh lên má, làm tôi cảm động hết sức.

Năm nay cô đã gần 90 tuổi nhưng giọng nói vẫn sang sảng như ngày nào đứng trên bục giảng. Tôi vui mừng khi biết cô vẫn khoẻ mạnh, minh mẫn.

– Cô còn nhớ em không cô?

Tôi hỏi cho có lệ vì cô đi dạy hơn ba mươi lăm năm, mỗi năm từ 40 đến 50 học sinh, làm sao cô nhớ một đứa học trò không có gì xuất sắc, lại bẵng đi bao nhiêu năm không ghé thăm cô.

Cô kể tôi nghe đủ thứ chuyện ngày xưa dưới mái trường.

Cô nhắc đến một trò nào đó mà giờ chơi thì nhảy nhót vui vẻ với các bạn cùng lứa mà cứ hễ vào lớp là mắt lại nhắm tịt, ngủ gà ngủ gật. Thế là cô bèn nghĩ ra cách bắt con bé đến giờ chơi phải ở lại trong lớp để học với cô. Cuối năm, cô giáo dạy môn Pháp văn thắc mắc là không hiểu thế nào mà cái con bé ấy cũng thi đậu lên lớp được nhỉ?

Hay chuyện cán bộ đi thanh tra lớp. Hôm đó, cô dạy môn tập đọc. Lúc cuối giờ tên cán bộ phán một câu xanh rờn giọng Bắc kỳ:

Cô dzáo dzì mà không biết đọc!

vì hắn không nghe được cái giọng Nam thật là hùng hồn của cô, mà cho đến bây giờ, gần 90 tuổi rồi, vẫn không kém phần nào uy nghi làm học trò phải nể sợ. Cô kể tôi nghe là cô Yến phụ tá hiệu trưởng, mà sau này cô mới biết là cô Yến „nằm vùng“, có hỏi:

Cô Ba nghĩ sao khi bị cán bộ trung ương phê bình như vậy?

Thì cô chỉ nói:

– Bói ra ma, quét nhà ra rác mà chị!

Một câu trả lời đầy ý nghĩa, sâu sắc. Năm ấy, „cô dzáo dzì mà không biết đọc“ của tôi vẫn được tuyên dương là giáo viên „tiên tiến“ như thường.

Lớp 5/6 – Niên khoá 1973–1974

Tôi biết cô được đồng nghiệp rất ư là quí mến.

Có lần cô Xuân Lang hỏi cô:

Chị Ba ra làm phụ tá hiệu trưởng nhé?

Tôi hỏi sao cô từ chối và chấp nhận mãi mãi là một giáo viên tiểu học?

Cô cười rổn rảng nói với tôi rằng:

Cô làm dâu „năm mươi“ họ đã đủ mệt rồi!

Tôi được dạy dỗ là phải biết „tôn sư trọng đạo“, xem thầy cô như cha mẹ, chứ chưa bao giờ nghe một người giáo viên nào tự cho mình là kẻ hằng năm đi làm dâu phục vụ bốn, năm mươi học sinh cả.

Thế mới biết cô tận tụy, thế mới biết cô yêu nghề, yêu học trò và lúc nào cũng mong muốn các em nên người.

Trên đường về tôi cảm thấy thật hãnh diện được là học trò của cô. Tôi ôm vai nhỏ bạn:

Tụi mình già sẽ „chèo queo“, không ai nhớ, không ai đến thăm, còn cô có cả một bầu trời hạnh phúc mày ạ!

Ngày xưa hay có câu „bán cháo phổi“ để chỉ nghề của những giáo chức, phải nói sa sả tối ngày để dạy học trò.

Tôi tiếc hùi hụi mình đã không được „bán cháo“.

Kapitel I: Die Aprilgeschichte

Im April 1980 hatte deine Großmutter eine Möglichkeit gefunden, wie ich auf dem Seeweg über die Grenze aus dem Land flüchten konnte. Gegen eine Anzahlung von zwei und die restlichen drei Goldbarren vor dem Einsteigen in das Boot durften ich und deine Oknel Hiệp und Đức mit dem Bus nach Sóc Trăng, eine Stadt am Mekong-Delta, anreisen und dort einer Gruppe weiterer vietnamesischen Flüchtlinge anschließen.

Um nicht aufzufallen, wurde uns gesagt, dass wir uns tarnen sollten, um wie einheimische Dorfbewohner auszusehen. Wir sahen eher wie Bettler aus, das heißt, wir trugen lädierte Kleidung mit vielen Flicken, etwas Geld in der Tasche und nur einen Satz Wechselkleidung als Gepäck. Wenn ich jetzt zurückblickte, fand ich, dass es eine völlig sinnlose Tarnung war, denn egal wie wir uns bemühten, aufgrund unseres Aussehens, unseres Ganges, unserer Sprechweise, unseres Akzents usw. ließ es sich sehr leicht erkennen, dass wir aus der Stadt kamen.

Wir wurden in Sóc Trăng am Busbahnhof von ein paar Männern abgeholt und zu einem provisorisch gebauten Haus mit Lehmwänden gebracht. Sie gaben uns etwas zu essen und zu trinken, ließen uns im Haus sitzend und wartend, bis es dunkel wurde. Dann wurden kleinere Gruppen gebildet und sie gaben uns per Handzeichen zu verstehen, dass wir ihnen folgen sollten. Niemand wagte es, mit irgendjemandem ein Wort auszutauschen, weil man uns davor gewarnt hatte, dass wir als „Saigonnaisen auf der Flucht aus dem Land“ enttarnt würden.

Ich habe mein Zeitgefühl völlig verloren. Meine Blicke klebten an Onkel Hiệp’s Ferse, teils aus Angst, sich zu verlaufen, teils, weil die Umgebung von lauten Bäumen und Flüssen umgeben waren, und ich nicht sehen konnte, wo der Weg war. Es war so schwer, auf das zerbrechliche, wackelige Boot am Flussufer zu klettern, nicht so leicht und sicher wie damals bei unserem Urlaub in Hội An, wo wir in das Fischerboot für Touristen stiegen. Ein Junge flehte Onkel Hiệp an, seine Schwester auf dem Rücken zu tragen, weil sie behindert war und nicht waten konnte.

Kurz vor der Meeresmündung war die Gruppe erneut gezwungen, zu waten, um auf ein größeres Boot zu klettern. Frauen und Kinder wurden in das Unterdeck getrieben, Männer drängten sich auf dem Oberdeck zusammen. Ich schätzte, dass mehr als fünfzig Personen wie Sardinen auf dem Boot gepresst wurden. Auf dem von den Cap Anamur Mitarbeitern aufgenommenen Foto könnte man meinen, dass das Boot etwa 10 Meter lang war. Ich konnte die stickige Luft im unteren Deck nicht ertragen, daher kletterte ich auf das Oberdeck und blieb am oberen Ende des Bootes.

Ich verließ mein Heimatland und hinterließ Familie, Verwandte, Freunde, Erinnerungen …, fuhr ohne Ziel auf das offene Meer hinaus und nahm nur einen Traum von einer freien, strahlenden Zukunft mit. Ich weinte nicht, aber ich fühlte, wie mein Herz voller Trauer war, als die Entfernung zwischen dem Boot und dem Festland immer größer wurde, bis rundherum ein riesiger, schwarzer Ozean war, kein Mond, nur funkelnde Sterne im Himmel.

Im März gehen alte Frauen auf hoher See.

Diese vietnamesische Redewendung besagt, dass der dritte Monat des Mondkalenders die Jahreszeit ist, wo das Meer sehr ruhig und es kaum zu befürchten ist, dass Wellen das Schiff kentern lassen könnten, was auch wahr war. Das Meer war ruhig wie ein Schwimmbecken ohne Besucher, wir konnten bis zum fernen Horizont geradeaus blicken. Zum ersten Mal in meinem Leben verstand ich, was „das Leben hängt an einem dünnen Seidenfaden“ bedeutete. Schon bei einer leichten Welle würde dieses Boot, so winzig und zerbrechlich wie ein Blatt im Ozean, kentern. Man kann tausende Goldmedaillen im Freistil-, Kraul-, Schmetterlings-, Rückenschwimmen etc. gewonnen haben, gegen das Meer war man machtlos und ich wäre eine köstliche Beute für die Fische, die sorgenfrei auf der Meeresoberfläche planschten.

Von Zeit zu Zeit bekam jeder Bootsinsasse etwas zu essen. Ich konnte mich nicht genau erinnern, ob es kalter Reis oder trockenes Brot war. Ich kaute sehr lansgsam und sparsam. Die Trinkportion war ein Schluck Wasser aus dem Deckel eines leeren 10-Liter-Ölkanisters aus weißem Plastik, der – nachdem das gesamte Öl vor der Abfahrt in den Schiffsmotor entleert wurde – mit brackigem, trübem Flusswasser gefüllt war. Ich hatte das Gefühl, dass ich fauliges, öliges Wasser trank. Dieses Gefühl hat mich bis heute verfolgt. Jedes Mal, wenn ich den scharfen Geruch von Aprikosenblättern in manchen Gerichten entdeckte, der wie übles Öl riecht, erinnere ich mich an die Wasserschlückchen auf diesem Schiff.

Auch wenn wir wenig Wasser tranken, arbeitete der Körper fleißig daran, den Urin zu filtern und auszuscheiden. Die Männer hatten es einfach, sie erleichterten sich einfach ins Meer. Ich, wie die anderen Frauen auch, hatte „für kleine Mädchen“ die einzige Möglichkeit, sich an Ort und Stelle zu erledigen. Aber der Geruch von üblem Öl war zu einem natürlichen EdT (Eau de Toilette) geworden, der so dominant war, dass der Ammoniakgestank nicht wahrnehmbar schien. Es könnte aber auch daran liegen, dass mein Geruchssinn mit zunehmender Intensität der Sonneneinstrahlung allmählich gelähmt wurde.

Wenn ich zu müde war, klammerte ich mich mit einer Hand an einen Haken an Deck, damit wenn ich einschlief, nicht über Bord rollte. Weißt du, meine alleliebste Tochter auf der ganzen Welt, die Menschen haben einen angeborenen Überlebensinstinkt. Immer wenn ich kurz vor dem Einschlafen war, und meine Hand sich vom Haken lockerte, wachte ich plötzlich auf, oder jemand berührte mich, weil das Boot hin und her schaukelte.

So trieb das einsame Boot zwei Nächte lang auf dem Meer. Am dritten Tag, gegen Mittag, tauchte weit weg am Horizont plötzlich ein dunkler Fleck auf. Alle Bootsinsassen an Deck, mich inbegriffen, standen auf und schauten zu, bis der schwarze Fleck größer wurde und eindeutig wie ein Hubschrauber aussah, der direkt auf das Boot zuflog. Ein Mann sprach über den Lautsprecher etwas auf Englisch. Mein Englisch reichte damals gerade sowie z.B. „How are you?“ „I’m fine, thank you“, aber ich habe vage verstanden, dass sie uns retten würden, und wies unseren Bootsfahrer an, wie er das Boot mit sicherem Kurs schrittweise an das Frachtschiff heranzuführen hatte, um nicht von den Bugwellen gekentert zu werden. Im Vergleich zu unserem war das Cap Anamur Schiff eine Riese.

Als sich das kleine Boot an der Seite des Frachtschiffes befand, ließen die Matrosen – die meisten von ihnen Filipinos – Seile mit Planen herab, um Kinder und Frauen hochzuziehen, die zu schwach waren, über die Strickleiter auf das große Schiff zu erklimmen.

Boat People wurden 1980 von dem Frachtschiff Cap Anamur aufgenommen / Archivbild 80er

Während der Rettungsaktion der Frauen und Kinder holten die Bootsbesitzer Kokosnüsse aus ihrer Kajüte heraus, hackten sie und tranken genüsslich die Kokosmilch. Ich sah Wassermelonen, Essen und Getränke, aufgestapelt in ihrer Kabine. Mein Herz raste vor Wut, als ich mich an das trübe, brackige und nach üblem Öl riechende Flusswasser erinnerte. Doch dieser Zorn währte nur kurz, denn die Matrosen gaben mir ihr ein Zeichen, dass ich an der Reihe sei, sich auf die Strickleiter vorzubereiten.

Auf dem Frachtschiff angelangt, bekam ich Wasser zu trinken und eine heiße Suppe. Ärzte und ehrenamtliche Helfer und Helferinnen kümmerten sich fürsorglich um uns. Ich schaute sie an und dachte, sie wären Engel ohne Flügel, nur mit zwei liebevollen Händen, die sich öffneten, um mich im Paradies auf Erden willkommen zu heißen. Die Zeit auf dem Cap Anamur – nachdem wir gerettet wurden, kreiste das Schiff noch einige Tage auf das Südchinesische Meer herum, um viele weitere Boote zu retten – war die unbeschwerteste Zeit meines Lebens, ohne Angst vor Hunger, Durst oder Tod, ohne Sorgen, tagsüber toben, herumspringen auf Deck, Schwärme von silbernen Seebrassen im Sonnenlicht beobachten, nachts das Lichtspiel bewundern, wie Tausende von hell leuchtenden Sternen auf dem dunklen Ozean sich spiegelten. Ich fühlte mich wie ein Astronaut, der im Weltraum das Universum bereiste. Eine glänzende Zukunft wartete auf mich irgendwo in einem fernen Land.

Nachdem das Schiff Cap Anamur noch ein paar weitere Boote aufgenommen hatte, und es keinen Platz mehr gab, um weitere Menschen zu unterbringen, lag es Anker im Hafen von Singapur. Wir warteten auf die Überfahrt in das Flüchtlingslager Galang auf den indonesischen Riau-Inseln, wo weitere Formalitäten zur Aufnahme in ein Drittland zu erledigen waren.

Das war die Geschichte deiner Mutter von der Flucht aus Vietnam, nichts Besonderes, Aufregendes oder Trauriges wie viele andere tragische Geschichten über das Schicksal der „vietnamesischen Boat People“ in den 80er Jahren. Du kannst sie deinen Freunden, Kindern und Enkelkindern weitererzählen, wenn sie über deine Herkunft fragen, eine gelbhäutige Person mit platter Nase, geboren und aufgewachsen in Deutschland. Oder später, vielleicht auf einer Kreuzfahrt im Pazifischen Ozean, nachts, wenn du an Deck sitzest und Tausende von Sternen am Himmel leuchtend betrachtest, wirst du dich daran erinnern, dass deine Mutter – auf der Flucht vor dem Kommunismus, auf der Suche nach Freiheit – das Gleiche getan hat, meine allerliebste Tochter auf der ganzen Welt!

Chương II: Ung thư

Tháng 10 năm 2000, mẹ chuyển sang debis, làm Project có liên quan đến công ty Cablecom (Telecommunication’s provider) của Thụy sĩ, khá bận rộn, thường phải đi công tác liên tục, ăn uống thất thường, cho nên thỉnh thoảng khi có triệu chứng buồn nôn, mẹ cứ nghĩ bao tử tiết ra nhiều chất Acid vì bị căng thẳng từ sức ép của công việc.

Một hôm, tự dưng mẹ lăn quay ra bất tỉnh. Lúc mở mắt ra, mẹ vội vã đến bệnh viện Marienhospital gần nhà cũ của mình ở đường Bismarckstrasse. Cô nhân viên phòng làm thủ tục nhập viện hỏi qua loa vài dữ kiện cá nhân như tên chi, bảo hiểm y tế nào, triệu chứng bệnh ra sao v.v. Sau khi vặn vẹo chán chê, cô ta điềm nhiên:

– Rất tiếc hôm nay nhà thương không còn phòng trống, sáng mai bà quay trở lại nhé?

Đang ngậm ngùi dợm chân đi ra thì mẹ bỗng buồn nôn không kìm được, ói tung tóe ra sàn, màu đỏ như máu. Cô nhân viên nhảy dựng lên, hoảng hốt cầm điện thoại cầu cứu. Ngay lập tức có một anh y tá xuất hiện, xốc mẹ lên một chiếc xe lăn và đẩy vào phòng cấp cứu.

Bác sĩ khám tim, mạch, đo huyết áp, rồi nhỏ nhẹ hỏi:

– Chiều hôm nay bà ăn gì?

Mẹ thật thà khai báo:

– Mì gói với chút giá và cà chua.

Bác sĩ gật gù kết luận màu đỏ ở chỗ nôn mửa của mẹ là từ cà chua và chẩn đoán mẹ bị ngộ độc thực phẩm. Do đã tối khuya, mẹ được phép ở lại nhà thương, hôm sau mới phải xuất viện. Sáng hôm sau, khi đi vệ sinh, mẹ hốt hoảng sợ hãi giật sợi dây cứu cấp để gọi y tá khi thấy bồn cầu đen ngòm như nước cống. Kể từ lúc đó mẹ phải trải qua nhiều thử nghiệm tại bệnh viện để chẩn đoán bệnh lý. Mẹ bị đẩy đi soi bao tử, soi ruột, soi CT (Computertomographie) mà trước khi soi phải uống một dung dịch phản quang rất khó nuốt, cứ uống vào một ngụm thì chỉ muốn nôn ọe ngay lập tức. Bác sĩ cho biết mẹ có một cục bướu trong bao tử cần phải cắt nó đi. Do họ không thể chẩn đoán đó là bướu lành hay dữ, đụng vào nó có lây lan sang những tế bào khác hay không, nên khó dùng phương pháp thọc dây vào cuống họng và cắt nó từ bên trong, bác sĩ hỏi mẹ có cho phép họ giải phẩu mổ bụng ra không. Thật ra, đó là một câu hỏi cho „đúng lệ làng“, vì sau hai tuần chỉ sống bằng truyền dịch nước biển và liên tục bị đẩy đi xét nghiệm từ phòng này sang phòng khác, mẹ chỉ biết ngoan ngoãn ký giấy đồng ý.

Lúc mở mắt tỉnh dậy sau cuộc giải phẩu, bà bác sĩ nói với mẹ:

– Tôi có hai tin, một tốt và một xấu. Tin tốt là cuộc giải phẩu thành công tốt đẹp, tin xấu là cục bướu ấy thuộc loại dữ, một cục bướu ung thư.

Bà bác sĩ an ủi:

– Theo kết quả xét nghiệm thì ung thư này của bà ở giai đoạn mới chớm, may mà được phát hiện sớm. Chúng tôi đã cẩn thận cắt đi khoảng một phần ba bao tử rồi.

Tuy không phải xạ trị nhưng mẹ vẫn bị giữ lại ở bệnh viện để bác sĩ theo dõi và y tá chăm sóc vết mổ. Ban ngày mẹ đọc sách, đọc truyện, nói chuyện với các bệnh nhân khác nên cũng khuây khỏa. Buổi tối, khi bệnh viện chìm trong bóng đêm im lặng thì mẹ cứ thao thức, hết nghĩ gần lại lo xa, không biết sức khỏe sau này ra sao, lỡ có mệnh hệ gì thì con sẽ bơ vơ, tương lai con chẳng biết đi về đâu? Nước mắt cứ thế chảy ra không cầm lại được, lòng mẹ buồn chất ngất.

Mẹ không nhớ bao lâu sau khi mổ thì họ rút ống truyền nước biển, nhưng mẹ nhớ mãi cảm giác khi được húp thìa nước súp đầu tiên sau thời gian dài bao tử không hoạt động. Nước súp trong vắt, không có tí cái nào, chỉ có những váng mỡ óng ánh mà sao nó ngon vô cùng, ngon hơn tất cả những gì mà mẹ đã từng nếm qua, cho mẹ một cảm giác hồi sinh sau ca mổ lớn thứ ba với gây mê toàn phần trong cuộc đời của mẹ – lần đầu là mổ ruột dư và vùng khoang bụng dưới do máu tràn ra, lần thứ hai là mổ đẻ.

Khoảng 4 tháng sau thì mẹ đi làm trở lại. Công việc, gia đình, bận bịu lo toan hàng ngày giúp mẹ dần dần quên căn bệnh quái ác, tuy mẹ vẫn phải đi soi bao tử và xét nghiệm máu hằng năm để kiểm tra xem bệnh ung thư có tái phát hay không. Có lần ông bác sĩ hỏi mẹ:

– Bà đang bị „Stress“ phải không, bao tử có nhiều chất át-xít.

Mẹ gật đầu; :

– Tôi có Stress với đồng nghiệp trong công việc ông à!

Ông bác sĩ giơ một chân lên giống như dáng con chó đang „phóng uế“:

– Quên họ đi, hãy tận hưởng mỗi ngày mới trời ban cho, vì đúng ra là với căn bệnh ung thư kia thì giờ này bà đã „mồ xanh cỏ“ rồi!

Khi nào cảm thấy bất lực, gặp chuyện u sầu hoặc thất bại mẹ lại nhớ đến cái dáng đứng „chó đái“ và lời khuyên của ông Niddegen hôm ấy.

Wunder beginnen dann, wenn wir unseren Träumen mehr Energie geben als unseren Ängsten (Autor unbekannt).
Điều kỳ diệu bắt đầu khi ta dành nhiều năng lượng cho ước mơ hơn là cho nỗi sợ hãi (Vô danh).

Câu này thật là đúng con ạ, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của mẹ!

Trích trong hồi ký „Chuyến bay đời mẹ“, nhà xuất bản lulu.