Theo chương trình Đại-Học Maastricht, đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi phải trải qua một lục cá nguyệt tại một trường ở ngoại quốc nhằm mục đích trao đổi kiến thức, văn hóa, khẩu vị ăn uống v.v.
Nó chọn Đại-Hàn, trường Yonsei University.
Bắt đầu từ hôm được chính thức xác nhận có chỗ học lẫn chỗ ở cũng như ký kết nếu dẫn người khác phái vào ký túc xá là xách va-li ra ngủ ngoài sân ga xe điện ngầm Sinchon ngay lập tức, cho đến lúc tiễn nó lên máy bay tôi luôn miệng dặn dò: – Con đừng đi Bắc-Hàn nghe con, lỡ ông Ủn buồn tình ổng đóng cửa biên giới là tiêu đời đấy con ạ !Vì vậy khi thấy hình nó chụp ở khu phi võ trang của Hàn-Quốc (Korean Demilitarized Zone) tôi lo ngay ngáy chỉ sợ nó „lỡ bước sang ngang“ vượt quá mức quy định của vùng vĩ tuyến 38 thì đúng là „bỏ bu“ (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). May thay, cùng ngày hôm đó truyền hình tại khắp nơi trên thế giới tường thuật buổi gặp gỡ lịch sử giữa Kim-Chính-Ân (Kim Jong-un) và Văn-Tại-Dần (Moon Jae-in) với cảnh hai nhà lãnh đạo dung dăng dung dẻ nắm tay nhau bước qua lằn ranh biên giới.
Vậy là cả 3 chúng tôi – cha, mẹ và con – đều biết thế nào là chia đôi đất nước, thế nào là bức tường ô nhục, thế nào là vĩ tuyến 38 North. Mỗi người mang một tâm tư, một ấn tượng khác nhau về tổ quốc xé toạc làm hai.
Sau hai tháng sáng kim chi chiều bắp cải muối cay xè thì theo nhận xét của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi hiến pháp Nam-Hàn cũng từa tựa hiến pháp Đức trước 1990 – Điều 23 và Điều 146: (Nội dung Điều 23: Hiến pháp này trước mắt có giá trị cho các tiểu bang Baden, Bayern, Bremen, Groß-Berlin, Hamburg, Hessen, Niedersachsen, Nordrhein-Westfalen, Rheinland-Pfalz, Schleswig-Holstein, Württemberg-Baden und Württemberg-Hohenzollern. Hiến pháp này có hiệu lực với những vùng khác thuộc nước Đức sau khi những vùng này được sát nhập vào).
Tức là vẫn mở cửa hậu cho một quốc gia có thể thống nhất trong dân chủ và hòa bình.
Người Đức đã xóa chia cắt đất nước và xóa Điều 23 trong hiến pháp của họ, mở trang mới cho một quốc gia hùng mạnh, tự do, dân chủ.
Người Đại-Hàn đang vun xén cho hy vọng „chung một con xuồng“ theo mô hình dựa trên hiến pháp tương tự của người Đức.
Còn tôi ? Tôi có phải ca bài „Người em sầu mộng muôn đời“ của nhạc sĩ Y Vân không nhỉ ?
Khoai lang có nguồn gốc từ châu Mỹ.
5.000 năm sau nó được bán tại nhiều siêu thị ở Đức với giá khoảng từ 1,79 € đến 2,99 € một ký-lô. Khoai lang của Aldi nhập từ Peru.
Các bạn chắc đang thắc mắc tại sao hôm nay tôi lại quảng cáo bán khoai lang ?
Số là từ hơn tháng nay, khoai lang là món ăn trưa không thể bỏ qua của tôi vì tôi đang đóng vai chính trong „Mission Impossible“ – sứ mệnh bất khả thi: Ăn-Kiêng-Theo-Tiếng-Gọi-Vòng-Eo. Tuồng cải lương này có tên Hán-Việt là „Độc“ vì chỉ mình tôi đóng và duy nhất một cảnh diễn đi diễn lại là „ăn độc một củ khoai“, không phải „ăn một củ khoai độc“ vì khoai lang rất „heo-thì“ (healthy). Theo nghiên cứu khoa học, 100gr khoai lang chỉ sản xuất khoảng 86 kcal tức là ký-lô calo (calorie), 100gr khoai tây 71 kcal và cơm trắng … 350 kcal.
Các bạn thấy đấy, nếu một ngày đẹp trời nào đó bạn muốn được thướt tha trong tà áo dài cài khuy bấm tôn vinh cái đẹp người phụ nữ Việt Nam, hay muốn cười thật tươi, thật rạng rỡ khi được chụp hình kỷ niệm mà không phải nín thở hóp bụng thì hãy nhớ những quy luật đã hoàn toàn được chứng minh bằng khoa học, toán học và hình học, tức là hình „trước và sau“ khi áp dụng các biện pháp giảm cân.
Nguyên tắc căn bản khi đóng tuồng „Độc“ rất đơn giản: ăn ít đi. Vì khi
Sợi nhìn ngày tháng qua mau,
Tóc xanh hôm trước, bạc màu hôm nay.
Tóc xưa giờ đã xa bay,
Sợi buồn ở lại, ngắn dài xót xa …
(Tóc Xưa – nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Dương Văn Thiệt)
là cái máy đốt calo của ta đã bắt đầu dặt dẹo rồi đấy ! XƯA máy đốt tả-pí-lù, không phân biệt calo này cần giữ lại để xài hay „gởi gió cho mây ngàn bay“, cứ vào bụng là ta đốt cháy sạch sành sanh. NAY máy đốt theo-nhu-cầu, hôm nào phải đi vác gạo thì đốt vài ngàn calo, hôm nào trốn việc nằm ì thì chỉ tiêu vài trăm cho có lệ. PHẦN CÒN LẠI ư ?
Bắc thang lên hỏi ông trời
Calo thừa mứa thì mời ai đây ?
Ông trời vỗ bụng tròn quay:
Tao còn cả đống, cho mày, lấy không ?
Ngoài nguyên tắc căn bản trên còn có phương trình phụ: tập thể thao, thể dục.
Vì nếu chỉ ăn ít đi để cơ thể bị ép buộc phải xài đến calo dự trữ thì chưa đủ bởi các bắp thịt cũng cần có calo để duy trì sự sống. Nhịn ăn đơn thuần ta sẽ nhẹ như lông hồng (hồng viết thường, không viết hoa), nhưng cơ bắp chảy xệ, da thịt u buồn ca cẩm „Hôm nay em đi trời không có nắng“ (lời nhạc trong bài „Tuổi Hồng“ của Phạm Duy, Hồng viết hoa vì đó là tên riêng cho lứa tuổi đẹp nhất đời người, lứa tuổi mà cỗ máy đốt calo hoạt động không ngưng nghỉ). Tuy nhiên cũng có nhiều động tác thể dục, tập nằm trên giường, để giãn đốt sống, cổ và vai. Những động tác này không thuộc về phương trình phụ của „Mission Impossible“.
Last but not least, nếu ai có ý định ghi tên đóng „Mission Impossible“ mà chưa đo lường được những điều kiện cần có và đủ thì vào trang này, điền những dữ kiện đòi hỏi như số tuổi, trọng lượng, chiều cao, một tuần đi vác gạo mấy lần, rồi bấm „Caculate“ thì sẽ hiện ra những chỉ số đại khái như sau:
Cũng như nếu cần đối chiếu để biết ăn 1,2 hay 3,4 củ khoai lang thì xem bảng „calo trong thực phẩm“ ở đây.
Theo như 2 bảng số trên thì – để giảm 0,5 kg trong 1 tuần – thực đơn „Độc“ hằng ngày của tôi được quy định như sau:
Điểm tâm
Calo
1 ly cà phê
10
1 ly nước cam
15
1 miếng bánh mì Baguette
270
Bữa ăn trưa
Calo
1 củ khoai lang 100 gr
86
1 ly trà
29
1 trái chuối
90
Bữa ăn chiều
Calo
1 miếng Pizza 130 gr
290
1 lon Fanta
180
1 miếng dứa 100 gr
10
Tổng cộng
1020 kcal
Như vậy mỗi ngày tôi để dành được 1 kcal, sau 3 tháng 2 ngày được 86 kcal, tức là hôm ấy bữa trưa tôi được phép ăn … 2 củ khoai lang.
Hôm nọ, khi đọc bài tường trình về chuyến đi thăm các em học sinh nghèo ở Tân Châu tôi thắc mắc hỏi „tiền lì-xì tính sao đây ?“ thì con bạn tôi trả lời: – Tiền lì xì của TT thì tự nó bỏ ra, của mẹ tao thì mẹ tao bỏ ra, không trích từ quỹ chung đâu vì TT quán triệt điều lệ hội là phải tự mình bỏ hết chi phí, quà cáp trong chuyến đi thăm các em mình bảo trợ mà lị !
Tôi i-meo hỏi lại: – Quán triệt nghĩa là gì?
Con bạn tôi chảnh chọe: – Từ Hán-Việt đó chị Hai !!! Quán: quan sát ; triệt: thông suốt một cách triệt để. Vậy „quán triệt“ là thông suốt vấn đề nào một cách triệt để. Đây là từ Hán-Việt.
À há !!!
Tôi chợt nhớ câu chuyện nhỏ về từ ngữ Hán–Việt của một thằng bạn trong một lần bàn luận về đề tài Hú em ai ?. Nó viết cho tôi như sau: „Tiếng Việt mình thường dùng chữ „ưu việt“ để chỉ tài năng xuất chúng, nhưng không ai biết nó xuất xứ từ „tú Sở, ưu Việt“.
Tú, túc là đi trước, có trước, tức là nước Sở văn minh, cái gì cũng khám phá ra trước. Còn „ưu Việt“ là dân tộc Việt cái gì cũng giỏi. Bây giờ mình dùng từ „ưu tú“ hay „ưu việt“, „siêu việt“ là do thành ngữ này mà ra, tiếng Pháp hình như là avant-garde. Khi mình nói ông A „sở trường“ về vẽ, hay thi sĩ B „sở trường“ về thơ lục bát thì chữ „trường“ trong tiếng Hán-Việt hay Việt-Cổ có nghĩa là tài giỏi, chuyên về. „Sở trường“ là ví cái tài giỏi của người nước Sở, tức là mấy cụ tổ tiên của mình đó.
Có một câu thành ngữ mà bây giờ bị lãng quên, đó là „Sở quốc tài tử, Việt nam giai nhân“ (nước Sở có nhiều anh tài, phụ nữ tộc Việt ở vùng Nam có nhan sắc). Hầu như 98% phụ nữ Việt Nam có mắt mí đôi, mặt nhỏ, xương hàm nhỏ, cho nên người Tàu mà mắt mí đôi, xuơng nhỏ đều có tổ tiên là Việt tộc của các nuớc Sở, Ngô và Việt. Viện bảo tàng Ontario mượn của Tàu 4 tấm tranh tứ đại mỹ nhân (Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền) về trưng bày, trong đó Tây Thi là gái nước Việt, mắt mí đôi, vai nhỏ, xương nhỏ giống dân Việt mình bây giờ. Còn mấy bà kia, ngưòi thì mập, mắt xếch và ti hí, vai to, mông bự. Ngu Cơ là vương phi của Tây Sở Bá VươngHạng Vũ, cũng là người nước Sở, tức là tộc Việt, tuy không được liệt vào tứ đại mỹ nhân nhưng nhan sắc không hề kém Tây Thi.“
Chiêu QuânDương Quý PhiĐiêu Thuyền
Tôi vốn sợ mình ở xứ người lâu năm sẽ dần quên cái tiếng
I tờ năm dấu ngã nghiêng
Thương em phải biết: chữ „duyên“ y gì ?
nên mỗi lần gặp chữ nào mà không rõ xuất xứ của nó, không biết i ngắn hay y dài, không biết bỏ dấu hỏi hay dấu ngã, tôi thường bắt chước một thói quen của người Đức là … tra tự điển. Việc làm này cũng giống như việc „hỏi cụ Gồ“ (ask google) ở thời đại mà mẹ tôi cũng có Facebook, có Viber, có Skype và đủ thứ những Apps lỉnh kỉnh khác, rồi thỉnh thoảng lại hỏi „Sao mẹ không gọi điện thoại được nhỉ ?“, đơn giản chỉ vì điện thoại cầm tay của mẹ tôi đã „quá tải“ do chứa đủ thứ dữ liệu của đủ thứ Apps.
Khi tôi hỏi cụ „Khai-Trí-Tiến-Đức“ thì cụ gởi tôi tấm hình này:
Vậy „quán triệt“ là trạng từ diễn tả một hành động nào đó được làm … suốt suồn suột:
I tờ năm dấu ngã nghiêng Thương em quán triệt: chữ „duyên“ y dài.
Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh thiên lý, nấu chè hạt sen
Tôi chưa hề được ăn cháo le le có lẽ vì tôi sinh ra và lớn lên ở thành đô, làm sao có vịt trời để mà đuổi bắt, nói chi đến được ăn thịt của nó. Tôi cũng không thích ăn cháo lắm, tôi thích những món có nước lèo hơn như hủ tiếu, phở, mì quảng, bún riêu, bánh canh v.v.
Trong đời, có 2 lần tôi được ăn cháo mà tôi nhớ mãi không quên.
Lần thứ nhất lúc tôi mang bầu 6 tháng, sang thăm nhỏ bạn bên Canada. Bữa cơm ngày đầu tiên nó dọn ra cho tôi bát cháo nấu với hạt sen và … gà ác. Nó nói gà ác rất bổ cho bà bầu lẫn thai nhi. Tôi nhìn bát cháo nghẹn ngào vì lần đầu trong đời biết thịt gà ác … đen như than, đen thùi lùi, đen phát sợ. Nể bạn, tôi chỉ múc cháo ăn và lặng lẽ đẩy thịt gà ra phía thành chén. Sau vài muỗng cháo tôi đành gác muỗng thú tội với nó là mình không tài nào nuốt trôi cái món cháo với thịt gà đen như bồ hóng ấy.
Lần thứ hai tôi sang thăm nhỏ bạn bên Pháp. Chẳng may vài ngày trước đó răng tôi bị lấy tủy không thành công nên đau nhức, không nhai gì được, chỉ … húp cháo. Nó nghe tôi kể đau răng, nấu một nồi cháo cao lương mỹ vị, có hến, có tôm và đủ thứ lỉnh kỉnh, ăn bổ đông, bổ tây, bổ … bố vì mấy ngày ở đó mình tôi ôm nồi cháo, sáng cháo, trưa cháo, chiều cháo. Lúc lên xe lửa về lại Đức nó cũng gói cháo bỏ bịch kêu „mang về bển ăn“.
Người Đức hỏi tôi cháo là món gì ? Tôi nói „Reissuppe“. Cháo gà là „Reissuppe mit Huhn“, cháo vịt là „Reissuppe mit Ente“, cháo lòng là „Reissuppe mit Blutwurst“. Từ bao nhiêu năm nay tôi cứ chắc mẩm là đúng, chẳng thắc mắc gì.
Cho đến một hôm tôi nhờ một con nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố – dịch sang tiếng anh một đoạn trong bản tường trình về chuyến đi phát học bổng tại Tây Ninh của Greenleaves (xem thông tin về chương trình này ở đây): Ba mẹ em Trần Quốc Hào (lớp 6) chia tay, ba không chu cấp cho con, mẹ đi lấy chồng. Em và hai người em ở với ông bà ngoại. Ông bà ngoại bán cháo vịt ven đường để sinh sống. Học phí cả năm lớp 7 của em là 585.000 đồng. Em thích đọc truyện cổ tích, và mơ ước trở thành bác sĩ.
Trần Quốc Hào
Nó dịch như sau: Trần Quốc Hào (6th grade)’s parents are divorced.This kid has received no child support from his father; then his mother left him after being remarried. Hào and his two younger siblings currently live with their grandparents who sell congee on the street. His school fee for the whole school year is 585.000 VND. Hào likes to read fairy tales and dreams to be a doctor.
Cũng lần đầu trong đời tôi được biết tiếng anh không gọi cháo là „rice soup“ mà kêu là „congee.“ Tiếng Đức dịch đúng ra là Reis-Congee, không phải Reissuppe như tôi hằng dùng.
Hôm qua gọi điện thoại cho một nhỏ bạn – không phải đứa cho tôi ăn cháo gà ác, cũng không không phải đứa cho tôi ăn cháo bổ … bố, cũng không không phải đứa dịch dùm tôi bài tường trình – để hỏi cảm tưởng ăn cháo vịt ở nhà em Trần Quốc Hào, thì nó trả lời như sau:
„Nghe cháo vịt tưởng tượng ra một một món ăn đặc biệt hấp dẫn, ai dè vừa tới nhà em Hào mùi nước mắm nấu xông lên nhức óc, nồi cháo to đùng, đường kính hơn nửa thước. Nhà thì tối tăm, xập xệ. Bước ra khỏi nhà ngồi trên xe phải chạy qua cái cống đen xì thúi nhức mũi, chưa hề thấy cảnh nghèo như vậy, tội thiệt !!!“
Không riêng gì tôi, từ „cháo“ có lẽ đã để lại ấn tượng khá sâu trong ký ức nó.
Chỉ còn vài ngày nữa là năm hết, Tết đến, nhìn đâu cũng thấy thiên hạ chuẩn bị đón mừng năm mới, “tống-cựu, nghênh-tân“, tiễn cái cũ đi, đón cái mới đến. Đám bạn mê truyện chưởng của tôi „ăn-tô-ny“ lên (từ này hay được dùng trước 1975 ở Sài-Gòn, có nghĩa là diện quần áo đẹp), áo ngắn, áo dài, chụp hình từng đôi, từng cặp, rồi tự chú thích đây là „Trương Vô Kỵ – Triệu Minh“, kia tựa „Dương Qua – Tiểu Long Nữ“, đó giống „Đoàn Dự – Vương Ngọc Yến“. Rồi tranh cãi „Qua hay Quá“, „Minh hay Mẫn“, „Yên hay Yến“ ?
Tôi vốn mê truyện chưởng của Kim-Dung từ thời xa xửa xa xưa, đọc quên ăn quên ngủ, quên cả học bài. Trong trí óc non trẻ của tôi ngày ấy, thế giới kiếm hiệp với những nhân vật võ công cao cường, phi thân vèo vèo, thi triển kiếm pháp trong rừng trúc thật là diệu kỳ mê hoặc.
Trước 1975, Hàn-Giang-Nhạn hầu như là người dịch truyện võ hiệp nhiều nhất và hay nhất vì ông thông thạo cả chữ Hán lẫn quốc ngữ. Các nhân vật trong truyện dịch của ông mang những tên Hán-Việt đặc sắc, không chỉ vương vấn chút khẩu âm Trung-Hoa mà còn được chuyển nghĩa sang tiếng Việt thật tài tình. Chẳng hạn như Vương-Ngọc-Yến, nhiều bản dịch sau này gọi cô là Vương-Ngữ-Yên 王語嫣 (Wángyǔyān). Thật ra „Ngữ-Yên“ hay „Ngọc-Yến“ nếu xét về tên thì dịch sao cũng được, như “Debbie” đến lúc ăn mắm ruốc thành Diệp, Điệp, Đẹp gì cũng ô-kê-tuýt-suỵt tất.
Còn nếu xét về nghĩa thì Ngữ (語) là từ, là nói, Yến (嫣) là đẹp (trong chữ „Yến“ có chữ „Nữ“ là người đàn bà), Hàn-Giang-Nhạn đã cố gắng dịch từ tên tiếng Hán ra tên tiếng Việt „Vương-Ngọc-Yến“ với khẩu âm na ná mà vẫn đủ súc tích để miêu tả người con gái thông minh, xinh đẹp, ăn nói thanh lịch, dịu dàng nhất trong Thiên long bát bộ.
Hay trong bộ võ hiệp kỳ tình Trung-Hoa „Tiếu ngạo giang hồ“ được Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật từ Minh báo của Hồng-Kông. Ở phiên bản này, giáo phái do Đông-Phương Bất-Bại tiếm quyền giáo chủ mang tên „Triêu-Dương Thần Giáo“ (朝陽神教). Triêu dương có nghĩa là „mặt trời vào
buổi sáng sớm“. Từ sáng sớm đến lúc ăn sáng xong gọi là „chung triêu“ (終朝), một ngày gọi là „nhất triêu“ (一朝), „nhất triêu nhất tịch“ là „một sớm một chiều“, nghĩa bóng ám chỉ khoản thời gian ngắn ngủi.
Có giả thuyết cho là truyện chưởng Kim-Dung phản ảnh thời kỳ cách mạng văn hóa của Mao-Trạch-Đông với quyển „Hồng bảo thư“ là một thứ „Quỳ Hoa Bảo Điển“, bí kíp ai cũng muốn có được để trở thành cao thủ võ lâm. Ma giáo trong phiên bản đầu của bộ truyện này còn được gọi là „Triêu Dương Thần Giáo“, ám chỉ đảng cộng sản Trung-Hoa bởi quốc thiều của họ mang tên „Đông-Phương-Hồng“, ý nói hùng mạnh như ánh sáng ban mai lên từ phía đông. Giáo chủ Triêu-Dương Thần Giáo – Đông-Phương Bất-Bại – không thuộc chính giáo vì dám „tự cung“ (tự thiến) để luyện được võ công thượng thừa với ý đồ làm bá chủ võ lâm. Nên hiểu rằng đối với người Trung-Hoa, con trai mà tuyệt tự là mắc tội to nhất đối với dòng họ tổ tiên, vì vậy hành động „tự cung“ biểu hiện một việc làm vô cùng thất đức, đi ngược lại với luân thường đạo lý con người, như một so sánh với hành vi bạo tàn của cách mạng văn hóa, thời kỳ lịch sử đen tối đầy thống khổ của người dân Trung-Quốc.
Đông-Phương Bất-Bại
Tiếu ngạo giang hồ ra đời khoảng thập niên 60, lúc đầu bị cấm, sau Kim-Dung thay một số từ ngữ, chi tiết, nên được cho phép lưu hành trở lại, trong đó có đổi „Triêu-Dương“ thành „Nhật Nguyệt“. Thật ra tiếng Hán là ghép bộ thành từ, trong chữ „Triêu“ 朝 thì bên trái là hình tượng (pictograph) mặt trời mọc, nhìn từ phía trước của một thân cây, bên phải là hình tượng trăng khuyết (moon-shaped), ghép lại ý nói thời gian mà mặt trăng lặn, mặt trời mọc, tức là lúc bình minh.
„Nhật Nguyệt Thần Giáo“, suy cho cùng, nếu cho là ám chỉ Minh giáo 明教 thì cũng không hoàn toàn đúng (Kim-Dung không hề đề cập đến liên quan này khi đổi tên giáo phái Triêu-Dương), vì trong chữ „minh“ (明) thì mặt trời là „nhật“ (bên trái) nhỏ hơn „nguyệt“ là mặt trăng bên phải. Chữ „minh“ 明 có nghĩa là „sáng“ như „phát minh“, như „minh tinh“, chứ bản thân mặt trời là đã là một tinh cầu chói lọi nhất trong vũ trụ rồi, đâu cần phải dùng một hình tượng khác để diễn tả sự tỏa sáng siêu cường nữa.
Có lẽ Kim-Dung đã bỏ phần chiết tự bên phải của chữ „Triêu“ nên chỉ còn chữ „Nguyệt“ đứng lẻ loi một mình, rồi thêm chữ „Nhật“ thành „Nhật Nguyệt Thần Giáo“, trở về với nguồn gốc Ma giáo „Mâu-Ni“, một tôn giáo cổ xuất xứ từ Ba-Tư (Iran), do Mani sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ 3, truyền bá tư tưởng „Nhị tông, tam tế“. „Nhị tông“ là hai thái cực sáng và tối (nhật, nguyệt), thiện và ác. „Tam tế” là sơ tế, trung tế và hậu tế, tương ứng với quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tiếu ngạo giang hồ, Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật
Tôi vốn là người tương đối „cởi mở“, một phần do nghề nghiệp đòi hỏi lúc nào cũng phải trong tư thế „tống-cựu nghênh-tân“, chưa kịp quen với hệ điều hành (operation system) mới đã phải thông thạo hệ … mới hơn.
Nhưng …
Tôi xin trích „Lời nhắn nhủ“ của thầy Lynch, ông thầy dạy Anh văn của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi gởi đến học trò trong ngày lễ tốt nghiệp:
Ai khi đọc thơ cũng phải suy nghĩ. Mỗi thời kỳ đều có thời trang riêng của nó, có những kiến thức „bất di bất dịch“ của nó, và để hiểu được những điều này chúng ta cần có một khoảng cách với nó. Thầy cho các em một thí dụ điển hình như vầy nhé: Trong cuộc sống nghề nhiệp sau này của các em, các em sẽ thường gặp những chữ „nghe rất kêu“ như „có năng lực“, „sự đánh giá“, „tối ưu hoá“ hay „ban quản lý“. Những từ ngữ này lại rất ít thấy xuất hiện trong làng thơ – Và đến một trăm năm sau, khi mà những từ ngữ ấy đã tìm được đúng chỗ đứng của nó trong sọt rác của lịch sử thì những từ ngữ đơn giản của Homer, Horaz, Shakespeare hay của Brecht sẽ mãi mãi vẫn được những người muốn hiểu về thế giới và lịch sử loài người tiếp tục đọc. Chúng ta không thể thu thập hay để dành một bài thơ cũng như tất cả những gì có giá trị trong cuộc đời này. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ nó và chia sẻ nó với người khác. Đặc biệt là: Nếu ai đọc một bài thơ họ sẽ tự tìm cho mình được thời gian, tìm được yên tĩnh trong tâm hồn và thoát được sức ép của cuộc sống ngày càng xoay cuốn họ đi – Có thể nói là họ đã làm được một cuộc cách mạng. Các em không nhất thiết lúc nào cũng phải đọc thơ cả – Nhưng các em hãy ráng dành thì giờ cho chính mình, hãy biết suy nghĩ, và hưởng thụ cuộc sống !
Lưu-Diệc-Phi, nữ minh tinh thủ vai cổ trang Vương-Ngọc-Yến
Năm hết, Tết đến, tôi xin chúc độc giả mê cũng như không mê Kim-Dung một năm mới
Khí công vô biên Võ thuật thiên biến Phương tư Ngọc-Yến[1] Giai lão bách niên.
Năm 2014, trong bài Lạm bàn về ý nghĩa lời bài „Sarborough Fair” và “Scarborough Fair/Canticle“ thằng bạn tôi phân tích tận tường ý nghĩa của bài cổ ca này.
Năm 2016, nó lại lần nữa nhắc đến bài này khi nói về phiên bản „Giàn thiên lý đã xa“ của Phạm Duy.
Năm nay, 2018, một độc giả đi lang thang lại gặp bài nó viết năm 2014 và hỏi ý kiến nó nghĩ sao về phiên bản của Nox Arcana.
Đã trót thì phải trét. Tôi mạn phép đăng tiếp lời bình của nó về bài cổ ca bất hủ này.
***
Có rất nhiều phiên bản Scarborough Fair, và cũng có nhiều bài mang tên hơi khác 1 chút như Southhampton Fair, Nottingham Fair … nhưng tất cả các bài đều có 1 điểm giống nhau, là điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme, ngay cả phiên bản của Paul Simon & Garfunkel scarborough Fair-Canticle cũng không dám bỏ điệp ngữ này. Tại sao ?
1/ Tất cả các bài đều giống nhau ở chỗ nhắn nhủ người bạn chiến binh trở về quê hương, còn mình thì ở lại chiến trường (tử trận). Bốn thứ thực vật này là biểu tượng của quê hương của họ. hình ảnh 4 thứ cây cỏ này chính là hình ảnh quê hương trong trí nhớ của người lính tử trận.
2/ Bốn thứ cây này như giống đã viết trong bài Scarborough Fair thứ nhất, là 4 thứ thực vật gắn liền với đời sống, văn hóa, và tín ngưỡng tâm linh của dân Anh cổ xưa, tức là Britons (England, Ireland, Scotland, Wales, Britany), từ lúc sinh ra cho đến lúc vĩnh biệt cõi đời, dùng làm thực phẩm, gia vị, làm thuốc, làm bùa ngãi, bùa hộ thân, trang điểm trên đầu trong các lễ quan trọng như Rước Lễ Lần Đầu (First Communion), Lễ Thêm Sức (Confirmation), Lễ Hỏi (Engagement), Lễ Cưới (Wedding) Lễ tẩy uế nhà cửa (Cleansing) và ướp theo xác chết để linh hồn được sự thánh thiện che chở (Funeral). Nói vắn tắt 4 thứ cây cỏ này đi theo họ suốt cuộc đời.3/ Bốn thứ cây này có nguồn gốc từ Ý (parsley), Địa Trung Hải (sage), Iberia, Trung Á (rosemary) và Cổ Ai Cập-Hy Lạp (thyme). Bốn thứ này còn được coi là linh thảo (sacred herb) đối với tín ngưỡng Egypt, Romans và Greek. Từ những nơi khác nhau nhưng đều được trồng ở quê hương mới, quê hương của dân Britons. Mà dân Britons thì cũng có gốc gác khác nhau di dân đến, như Anglo-Saxon đến từ Đức, Scandinavian đến từ Na Uy, Afros- Romans đến từ dân Roman da đen , Sub-Saharan African (dân Trung Phi) họ đến khu đảo quốc này từ sau công nguyên khoảng 200-300 năm. Bốn thứ cây này ám chỉ sự khác biệt chủng tộc nhưng đều là đồng loại, tại sao lại gây chiến tranh với nhau ?
4/ Scarborough Fair là một lễ hội thanh bình, một phiên chợ quốc gia nơi người ta tụ về trao đổi hàng hóa, vui chơi, gặp gỡ và hẹn hò. Trong bài hát ngoài 4 thứ hương thảo được bày bán trong lễ hội, còn có hình ảnh quê mùa mộc mạc như cái giếng, áo Cambric, bụi gai, lưỡi liềm hái, hạt tiêu, bờ tường, mảnh đất canh tác, bãi cát, đại dương, những hình ảnh nói lên một cuộc sống đơn giản, thanh bình mà người dân quê cũng chỉ ước mơ có ngần ấy. Cái sâu sắc độc đáo của bài này là nói về chiến tranh nhưng không hề nhắc tới súng đạn hay cảnh đổ máu, mà chỉ ẩn dụ mơ ước thanh bình qua các hình ảnh bình dị trong cuộc sống hằng ngày của họ.
5/ Ở Scarborough Fair, người ta thấy bài cổ ca, hay nói đúng hơn, thiên tình ca thời loạn, chuyện tình của một đôi trai gái có kết thúc buồn nhẹ nhàng, lời bài hát ẩn dụ kín đáo, trong khi ở Scarbough Fair-Canticle của Paul Simon-Garfunkel, hình ảnh chiến tranh giữa các xứ được mô tả khốc liệt và bi tráng hơn. Hai ông không thể dẹp bỏ lời bài gốc củng với 4 thứ hương thảo, vì chúng chính là quê hương của hai ông.
Và rồi để chấm dứt bài hát, hai ông thêm vào hoa heather (thạch thảo) hoa thanh bình cũng là hoa vĩnh biệt trên mộ người lính.
Lương Châu Từ, bài thơ của Vương Hàn cũng là một tuyệt tác văn chương về chiến tranh, nhưng nếu đem so sánh với Scarborough-Canticle của Simon and Garfunkel, bài Scarborough Fair-Canticle hay hơn gấp bội.
Tóm lại, một bài Scarborough Fair mà không hề nhắc tới 4 thứ cây cỏ này thì không thể nào gọi nó là bài Scarborough Fair. Nhiều người đặt lời khác trên nền nhạc bài cổ ca này, nhưng họ không nắm vững vấn đề then chốt ở 4 cây hương thảo.
Thiếu điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme thì bài hát đâu còn giá trị gì nữa. Sau khi cắt nghĩa bài Scarborough Fair từng lời từng chữ mang ý nghĩa sâu sắc như thế nào, Canticle mang ý nghĩa như thế nào, sẽ thấy trên thế giới chẳng có bài nào sánh ngang bằng bài Scarborough Fair-Canticle. Lê Anh Dũng – Tháng Hai 2018
***
Nếu ai có hỏi 4 thứ thực vật đi theo suốt cuộc đời, mang hình ảnh quê hương trong trí nhớ của tôi là gì, thì tôi xin trả lời: Mận, Xoài, Cóc, Ổi.
Tôi vốn yêu … đủ thứ ngôn ngữ, không chỉ riêng tiếng Việt hỏi ngã lộn tùng phèo.
Với tôi, tiếng Việt là „bầu trời thơ ấu“ vì đến
Tuổi nào em bắt đầu yêu
Ngồi bên song cửa chiều chiều ngắm mây
Tuổi nào em hết thơ ngây
Đêm đêm cắn bút chau mày làm thơ
(Tác giả: L)
thì tôi toàn xài … tiếng Đức.
Tôi cũng yêu tiếng Hán-Việt, đơn giản vì nó là một phần của cái tiếng Hỏi-Ngã-Lộn-Tùng-Phèo, là „bầu trời thơ ấu“ của tôi.
Đi lòng vòng chẳng qua muốn nói về một từ Hán-Việt mà có lẽ ít ai còn nhớ: Vị-Trân.
Xin trích đoạn thằng bạn đăng trên „Phây-Bút“ của nó, chưa xin phép vì nó còn ngủ mà tôi thì … chuẩn bị đi ngủ, chờ nó ô-kê chắc tôi cũng không còn nhớ Vị-Trân là ai, em từ đâu tới, đã mấy xuân xanh ? Dọn nhà là một việc làm rất mất thì giờ. Riêng đối với mình thì sẽ mất gấp đôi thì giờ, vì mỗi lần thấy lại một quyển sách cũ hay một tấm hình xưa là mình lại … thẫn thờ suy nghĩ. Dưới đây là hình hai quyển sách cũ tiêu biểu mà mình giữ được đến giờ. Một quyển bài tập Toán, soạn bởi các giáo sư Toán Cù An Hưng và Phạm Hạnh Thái, trong thập niên 80, dân ban C gọi quyển sách này là sách … Vàng. Vi bìa nó màu vàng, và cũng đồng thời là một cách chơi chữ, gợi nhớ lại loài sách Vàng là sách phóng tác truyện bằng trang của Pháp cuối thập niên 70. Hai là một quyển sách dạy nấu ăn. Bà cụ mình gửi qua cho con trai xa xứ, để tập nấu ăn. Quyển sách này được soạn vào những năm 30, 40 của thế kỷ trước, nên dùng từ rất xưa, mình đọc nhiều khi không hiểu gì hết. Ví dụ như bột ngọt, người ta gọi là bột Vị-Trân. Quyển sách này xưa ở nhà mình bên Việt Nam được cất trên đầu garde manger nên nó ám khói, ám mỡ nhìn rất giang hồ, dạn dày sương gió. Bây giờ thuộc loại sách cổ, mỗi lần lật ra đọc lại cứ sợ rách …Bột „Vị-Trân“ là tiếng Hán-Việt, chuyển ngữ từ chữ 味精.
Theo Bính âm (Pinyin) là „wèijīng„. Lỗ tai „Giao-Chỉ“ của tôi nghe nó mài mại như … „mì chính“.
Vâng, đúng vậy, bột „Vị-Trân“ chính là bột ngọt mà sau 1975 trở thành bột „mì chính“.
Chữ 味 là mùi, là „vị“. Năm vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn là năm mùi, là ngũ vị (五味). Nếu thơm thì thành … Ngũ-Vị-Hương (五味香). Không có mùi thơm nhưng lấy từ phương pháp tách chiết rong biển của nhà hóa học Nhật bản Ikeda Kikunae thì cũng là loại trân quý rồi, nên trước kia nó mang một cái tên Hán-Việt rất có ý nghĩa là … „Vị-Trân“, thay vì chỉ đơn giản dịch trơn tuồn tuột theo khẩu âm là … „mì chính“, khi mà chữ „mì“ trong tiếng Việt thật ra là một loại thức ăn làm từ bột, có hình dài dài như sợi dây.
Từ khi nào „Vị-Trân“ thành „bột ngọt“ thì không rõ. Có lẽ do năm 1954 nhiều người Bắc di cư vào Nam, họ phát âm vần „trờ“ như „chờ“, ít nhiều gây ngộ nhận, hiểu lầm, nên „bột ngọt“ ra đời, ám chỉ loại gia vị có màu trắng giống như bột gạo và có công dụng làm cho thức ăn có vị ngọt thịt.
Ai nói tiếng Việt trước 75 không „thuần Việt“ ?
Bột ngọt và mì chính, ai „thuần“ hơn ai ?
Thằng Hòa Bao Tử cỡ 13-14 tuổi.
Ở ngoài đời nó chuyên đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy, nhiều nhất là bộ phận thông hơi của máy xe gắn máy bằng cao su màu đen có hình dạng giống như cái bao tử người, bởi vậy nên có biệt danh là Hòa Bao Tử. Một băng của nó hoạt động khoảng 7-8 thằng nhóc, băng này bị bắt vô trại giam, mấy tên Đại Bàng nhận tụi nó làm đệ tử, được gọi là Se Sẻ ăn theo đám Đại Bàng. Khi bị đưa lên nông trường thì bị những người đi cùng chuyến từ trại giam lên tố cáo. Luật của nông trường là ngày đầu tiên nhập nông trường, tất cả những người mới lên được cho ngồi ngoài sân đá banh chờ làm thủ tục hành chánh và bảo vệ khám xét hành trang cá nhân coi có dấu tiền hoặc đem theo xì ke. Cùng lúc đó thì những người là Đại Bàng hay Se Sẻ phải tự giác đứng ra nhận hành động của mình ở trại giam, sau đó sẽ bị phạt đánh bằng roi cá đuối (roi là đuôi của cá đuối, có gai nhỏ, quất vô là rách thịt, chảy máu liền) hoặc có khi bị những người đã từng bị ăn hiếp khi ở trại giam đánh trả thù theo lệnh của bảo vệ gọi là luật “Cá ăn kiến, kiến ăn cá“. Sau khi bị phạt đòn thì đưa về ở đội kỷ luật bị quản lý chặt chẽ hơn thêm một thời gian rồi mới đưa về đội lao động bình thường.
Đám thằng Hòa bị đánh mỗi thằng 10 roi dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Mấy đứa đồng bọn của nó khi mới bị một, hai roi đầu là đã than khóc, xin tha. Riêng thằng Hòa cắn răng chịu đựng, không nói một lời. Tôi chú ý ngay dến nó liền, mỗi một roi chân nó khụy xuống nhưng rồi nó cắn răng, mím môi đứng lên chứng tỏ bản lãnh gan lỳ của nó cho nên tôi „kết“ nó liền vì tính lỳ lợm đáng nể của nó. Sau khi bị đánh thì cả đám được đưa đi ra bờ sông tắm để rửa vết thương chảy máu. Nước sông ở Duyên Hải là nước lợ, có nhiều muối nên chạm vào rất xót, nhưng vì thế nên mau lành. Khi thủ tục hành chánh đã xong thì số người mới lên được chia đều cho các đội. Tôi muốn nhận thằng Hoà làm đệ tử nhưng muốn hù nó thêm, coi bản lãnh nó cỡ nào nên đang đêm cỡ 1 – 2 giờ sáng, tôi sai người qua đội thằng Hòa đang ở, kêu: – Thằng Hòa Bao Tử đâu ? Qua bên Bảo Vệ làm việc.
Ai đã từng ở trên những trại lao động nông trường đều biết khi mình được nghe lệnh này là „đời tàn trong ngõ hẹp“ rồi. Nó có một cái gì đó khủng khiếp, kinh hoàng, và là nổi ám ảnh của tù nhân lao động. Bạn cứ tưởng tượng trong đêm khuya thanh vắng, dưới ngọn đèn dầu leo lét, bạn phải đối diện với công an hoặc giám đốc và trưởng hay phó Ban Bảo Vệ để trả lời những câu hỏi về một vấn đề gì đó bị nghi ngờ, chung quanh là 4-5 tay bảo vệ mặt mũi bặm trợn, cô hồn, sẵn sàng đánh những đòn không thương tiếc cho tới khi đạt được mục đích. Bởi vậy thằng Hoà có nghe tù cũ ở đây nói về vụ đi qua „Căn Nhà Màu Tím“ (vì vô đó thế nào cũng bị đánh thâm tím mặt mày) làm việc nên nó sợ xanh mặt, líu ríu đi theo tên bảo vệ.
Tôi kêu nó ngồi đối diện với tôi, chung quanh 4 góc là 4 tên bảo vệ mặt mũi bặm trợn đứng khoanh tay chờ lệnh. Tôi hỏi nó về gia cảnh và lý do vì sao bị bắt. Nó kể là nhà 6 anh em, nó lớn nhất, ba nó bỏ má nó và tụi nó. Nhà quá nghèo, má nó mượn vốn người ta đi bán vé số, nó ở nhà giữ em, có hôm bị giựt mất hết vé số, cụt vốn, thêm nợ nần, xoay sở kiếm sống nuôi 6 đứa con rất là chật vật. Là anh lớn nó muốn giúp mẹ nó nhưng xin đi làm không ai muớn vì nhỏ quá, đói ăn vụng, túng làm liều, nó đành đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó.
Nghe hoàn cảnh như vậy tôi không muốn hù nó như ban đầu dự dịnh nữa, tôi chỉ hỏi nó: – Mày bị đánh đau như vậy mà không khóc như mấy đứa kia hả ?
Nó trả lời tỉnh bơ: – Có sức chơi, có sức chịu, khóc cái gì.
Tôi hỏi nó: – Mày muốn qua đây ở với tao không ? Chỉ cần mày hứa là không được lợi dụng chuyện đi lại thoải mái rồi trốn trại. Mà tao cho mày biết, những người khác có trốn trại thì tao mặc kệ, nhưng nếu mà mày trốn trại thì tao hứa là chân trời góc bể nào tao cũng lôi đầu mày về đây lại vì mày dám lợi dụng sự chân thành của tao mà bội tín, mày hiểu chưa ? Nếu như mày ngoan ngoãn ở đây với tao, phụ giúp tao trong công việc, mà mày làm tốt thì sẽ được hưởng nhiều quyền lợi, tao còn có thể ký giấy cho mày về phép thăm má với em mày nữa.
Nó trả lời: – Nếu anh thương em cho em qua ở với anh, em xin hứa sẽ không phụ lòng tốt của anh, em xin thề !
Thế là sau hôm đó thằng Hòa bắt đầu qua ở với tôi mà một thời gian sau tôi cũng không ngờ là mình đánh giá nó quá thấp. Tôi chỉ tưởng là nó lỳ thôi, nhưng đầu óc của thằng nhóc 13-14 tuổi siêu việt hơn tôi nghĩ nhiều. Vì nó là đệ tử cưng của tôi nên từ đó nó là một „Ông Trời Con“, đám lính bảo vệ thằng nào cũng ngán đụng đến nó. Nó còn dám sai khiến một vài tên lính bảo vệ đi làm việc riêng cho nó nữa. Chuyện kế tiếp của thằng Hòa mà tôi sắp kể là những chuyện mà một thời gian sau cũng gần một năm tôi mới biết vì tôi ỷ y nó chỉ là thằng con nít 13-14 tuổi. Sau khi về ở với tôi thì thằng Hòa có nhiều tự do và điều kiện để bắt đầu làm ăn kiếm tiền, mà khi tôi biết ra, tôi và mọi người phải thán phục.
Đầu tiên nó có nhiều thì giờ rảnh vì không phải làm gì cả khi mọi người trên nông trường bị bắt buộc đi ra ngoài làm lao động. Nó rủ thêm một tên bảo vệ ra ngoài chu vi nông trường để bắt cá, tôm, cua và các loại hải sản khác. Đem về, nó đưa cho mấy chị bảo vệ, nhờ mấy chị chia ra và làm thành món mặn, một phần cho tôi và nó ăn cơm, một phần nhỏ khác cho chị bảo vệ nào làm dùm mấy chuyện này gọi là để trả công, còn phần lớn nhất nó nhờ người đó kho dùm hoặc làm món mặn như tôm rang, cá kho, thậm chí canh chua chẳng hạn, rồi nó đem đến chào hàng, bán cho những người ở đội lực lượng có tiền do người nhà gửi trên nông trường để những người đó có món ăn thêm trong bữa ăn hàng ngày.
Luật của nông trường là không một đội viên lực lượng nào được quyền giữ tiền. Tất cả mọi người, nếu có tiền, lúc mới nhập trại ngày đầu tiên đều phải khai báo và nộp cho thủ quỹ của nông trường. Chị này vừa là phó trại vừa là thủ quỹ. Khi nào muốn mua nhu yếu phẩm hay uống cà phê ở quán cà phê của nông trường thì nhờ tổ trưởng dẫn lên gặp chị để làm giấy tờ trừ tiền ra. Chị chưa có chồng con, gặp thằng Hòa khôn lỏi gọi bằng „Má“ nên mê tít, cưng nó, coi nó như con. Vì thế khi nó bán món ăn mặn của nó cho người nào thì nó dẫn người đó tới gặp chị, hoặc có khi chị theo nó xuống tận nơi giao thẳng tiền mặt cho nó rồi người mua ký giấy xác nhận. Thằng Hòa còn dám bán thiếu cho những khách hàng quen thuộc của nó, khi tới ngày thăm nuôi thì người nhà của người đó đem tiền lên trả cho thằng Hòa. Nó bán cho cả đội nam và đội nữ.
Lúc có chút vốn, nó bắt đầu đi ra chợ nổi của người dân địa phương tụ tập mua bán trên sông, cách nông trường không xa nhưng phải chèo ghe ra đi chợ. Nó bỏ tiền ra mướn một thằng bảo vệ biết chèo ghe để đưa nó đi. Trước khi đi, nó đến từng đội hỏi xem khách hàng của nó cần mua gì, nó ghi vô cuốn sổ, sau đó nó đi ra chợ mua, rồi về bán lại với giá gấp rưỡi hay gấp đôi tùy theo mặt hàng. Nhiều khi có nhiều nhưng nó nói hàng khan hiếm rồi nâng giá … chặt khách hàng. Ngoài ra nó còn mua gương, lược, kim chỉ và những đồ phụ tùng của bên nữ về để bán cho khách hàng nữ.
Tôi thì bận rộn cả ngày, tối về sau khi họp hành xong tôi hay lang thang xuống các đội chơi với một số bạn bè hoặc tụ tập đàn hát nên ít có thì giờ để ý tới thằng Hòa. Còn nó thì ngoài những việc lặt vặt tôi giao cho nó làm hàng ngày, còn lại nó lo lắng từng miếng ăn, giấc ngủ cho tôi. Tôm cá, hải sản nó đi bắt về giao cho chị bảo vệ có nhiệm vụ nấu cơm cho tôi với nó. Đến giờ ăn thì nó bưng lên, dọn sẵn sàng, rồi đi mời tôi về ăn cơm. Giường chiếu, mền gối tôi nó xếp ngay ngắn và giữ sạch sẽ. Cứ thỉnh thoảng nó bỏ tiền mướn một chị bảo vệ ra bờ sông giặt, phơi chiếu. Còn gối, mền mùng của tôi thì giặt bằng nước ngọt và xà bông thơm của Mỹ nên lúc nào cũng thơm phức.
Đến một hôm, nó xin tôi được về thăm má nó vài ngày nhân dịp có một vài người bảo vệ được về phép cho nó đi cùng. Tôi đồng ý, ký giấy cho nó về phép để nó cầm trình lên địa phương. Nó nói cám ơn rồi về lục tục thu dọn đồ đạc. Tôi thấy nó lôi ra một bọc to tướng để chung với ít quần áo. Tôi hỏi:
– Cái gì trong bọc vậy Hòa ?
Nó hớn hở trả lời – Dạ, tiền em làm ăn ở đây kiếm được, giờ em đem về cho má nuôi mấy đứa em của em.
Tôi ngỡ ngàng hỏi nó:
– Làm ăn ? Mà mày làm ăn cái gì trên nông trường này mà có nhiều tiền dữ vậy ?
Nó nói: – Ủa anh hổng biết gì hết hả ? – Biết cái gì ? Tao đâu biết cái gì, mà tiền ở đâu ra mày nói tao nghe coi .
Lúc đó nó mới kể cho tôi nghe nó bắt đầu làm ăn ra sao, làm tôi phải thán phục cái đầu óc kinh doanh của thằng nhóc 13-14 tuổi. Tôi hỏi nó – Mày bán thiếu cho người ta rủi tụi nó quỵt mày rồi sao ?
Nó cười hề hề rồi nói: – Lo gì chuyện đó, có anh, có Má Tâm, đố ông nội thằng nào, con nào dám giựt tiền của em. Thằng Hòa làm kinh doanh theo kiểu của nó ở đó cho tới khi được tha về vì còn nhỏ nên được mãn hạn sớm. Tôi không biết là nó kiếm được bao nhiêu, nhưng nó nói tháng nào nó cũng nhờ người đem tiền về cho má nó. Sau khi về, thỉnh thoảng nó theo ghe nông trường chở người đi thăm nuôi lên thăm tôi và những người trong đội bảo vệ. Một thời gian sau không thấy nó lên nữa. Tôi đoán là nó lại bị bắt ở đâu đó. Nhưng khi tôi được tha về, tìm đến địa chỉ mà nó đưa cho tôi thì nghe hàng xóm nói má nó vì đời sống quá khó khăn và phần cũng không muốn nó trở thành kẻ hư hỏng để bị bắt nữa nên dẫn anh em nó về quê ở Sóc Trăng.
Từ đó tôi không còn gặp lại nó nữa. Về sau tôi cũng có gặp một số thằng trong băng cũ của nó, làm ăn quanh khu vực Lăng Cha Cả và chợ Tân Bình, nhưng hỏi tụi nó cũng không biết tin tức gì của thằng Hòa. Tôi không biết bây giờ nó làm gì, có còn sống không, nếu cứ tiếp tục cuộc sống giang hồ.
Tôi nhớ hồi đó tôi dạy cho nó hát bài „Em sẽ là mùa Xuân của Mẹ“ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Nó còn con nít nên giọng trong và cao như con gái. Sau này hễ tình cờ nghe lại bài này tôi đều nhớ tới nó. Nicholas Đặng – Tháng 12 / 2017
***
Đây là một phần hồi ký của thằng bạn tôi, kể lại thời nó bôn ba đi vượt biên không thoát, bị bỏ tù chung với dân du đãng, bụi đời, nghiện xì ke, rồi bị bắt đi lao động ở nông trường Duyên Hải, Cần Giờ.
Chuyện của nó chính xác với thực tế hơn các truyện của Duyên Anh như „Trần Thị Diễm Châu“, „Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang“, vì là hồi ký viết lại chuyện thật, còn Duyên Anh ngày xưa dựa vào chuyện thật rồi tiểu thuyết hóa cho lâm li bi đát.
Khi đọc đến khúc thằng Hòa Bao Tử vì nghèo túng làm liều „đi ăn cắp đồ phụ tùng xe gắn máy để bán lấy tiền nuôi em phụ má nó“, tôi chợt nghe có chút gì đó xót xa cho thân phận một đứa bé thông minh, tháo vát, có trách nhiệm, đầy tình cảm, chỉ vì hoàn cảnh khốn khó đưa đẩy nó ra khỏi cuộc đời được làm người lương thiện.
Warren Buffet xuất thân sang giàu. Cha ông, Howard Buffet, là nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ và là người thành lập công ty đầu tư chứng khoán Buffet-Falk & Company. Warren Buffet tốt nghiệp Tiến sĩ kinh tế. Ông được xếp hạng người giàu thứ 3 trên thế giới với gia sản hơn 80 tỷ đô-la, chỉ thua Jeff Bezos (hạng 2) – người sáng lập Amazon – và tỷ phú Bill Gates.
Buffett tặng 85% tài sản của mình cho các quỹ từ thiện, phần lớn là quỹ „Bill & Melinda Gates“.
Tháng 6 năm 2010, cùng với Bill Gates, ông phát động chiến dịch „The Giving Pledge“ (Lời hứa ban tặng), kêu gọi người giàu nên tặng tiền cho hoạt động từ thiện. Vào tháng 8 năm 2010, 40 nhà tỷ phú đã tham gia chiến dịch này.
Source: Mark Hirschey – Work of Mark Hirschey, CC BY-SA 2.0
Nếu thằng Hòa Bao Tử có cơ hội được học hành đến nơi đến chốn, tôi không biết nó có trở thành Warren Buffet phiên bản Việt hay không, nhưng một điều tôi chắc chắn rằng bí danh „Hòa Bao Tử“ của nó sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Năm nay tôi được nhờ soạn và dịch lời giới thiệu cho chương trình văn nghệ Tết Mậu Tuất. Khá dài, đa số là nhạc Xuân vui tươi hay nhạc quê hương ngọt ngào, không có màn ca cải lương nào vì cô ca sĩ „gạo“ mới sanh em bé, bận bịu, nên khước từ. Bù lại được một màn vũ „Hành trình trên đất phù sa“, nghe là thấy có thể xen vào vài câu giới thiệu với quan khách Đức chút ít về đồng bằng sông Cửu Long, về „khúc ruột miền Nam của tôi“ từ khi bác tôi lấy cô vợ người Long Xuyên và chọn Cà Mau làm quê hương thứ hai.
Khó nhất là đoạn diễn văn khai mạc. Năm ngoái đã mượn bài thơ „Ông đồ“ của thi sĩ Vũ Đình Liên để nhập đề rồi, chả nhẽ năm nào cũng ông đồ ? Mà khổ nỗi Tết thì tiêu biểu là mai vàng, bánh chưng xanh, câu đối đỏ.
Lẩn quẩn mãi không ra ý tứ, tôi đành dùng hai câu ca dao xưa như trái đất
Xin các bậc tiền bối tha thứ nếu tôi đơn giản hóa mấy hình ảnh này trong tiếng Đức bởi nếu dịch sát nghĩa thì „tượng hình“ được, nhưng không thể „tượng thanh“ vì thơ tiếng Đức khác luật bằng trắc. Xuất giá tòng phu, xuất ngoại tòng … quyền. Gặp cảnh biến phải theo đạo „quyền“, không thể giữ nguyên đạo „kinh“ như lúc bình thường được, nên tôi „vẽ“ tạm cái Tết Việt Nam cho người Đức thưởng ngoạn như sau
Nghe cũng … vần chán !!! Tối hôm sau, anh phụ trách chương trình văn nghệ gọi phone nhắn nhủ: – À, anh còn quên bài „Mùa Xuân lá khô“, em biết bài này chứ ?
Tôi: – Dạ … không!
Anh: – Ca vầy nè, Tôi trở lại vùng hành quân, vùng xa xôi đá sỏi biết buồn …
Tôi: Một phút suy tư. – Dạ để em kiếm trên Internet, thể nào cũng có.
Cúp máy điện thoại. Mở máy vi tính. Bấm tìm „Mùa Xuân lá khô“. Kết quả:
Mùa Xuân Lá Khô – Trần Thiện Thanh – Ca sĩ thể hiện: Trường Vũ, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Mạnh Quỳnh.
Trời đất, thôi rồi, lại là „nhạc Sến“ nữa rồi ! (Chú thích: không phải tôi có hàm ý chê bai, mà „nhạc Sến“ là tên một dòng nhạc được khá nhiều người yêu chuộng, đa số theo điệu Bolero réo rắt, luyến láy).
Vì không biết bài này nên tôi mù tịt, Ai-Nô-Ai-Đia (I no idea), không thể xuất ngoại, xuất tòng gì sất. Tôi đành tra kiếm tiếp trên mạng lời của nguyên bản nhạc, kèm theo nghe tới nghe lui bài hát để có thể cảm nhận được ý của tác giả, dựa theo đó mà soạn lời giới thiệu cho Em-Xi (MC).Hết nghe Trường Vũ, Tuấn Vũ lại đến Duy Khánh, Chế Linh, Mạnh Quỳnh. Nghe xuôi nghe ngược mãi chán, tôi chuyển sang giọng ca nữ Thanh Tuyền, Mỹ Huyền. Bài này càng nghe càng thấy thấm, thấy thương cho thân phận người lính:
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai …
Chợt nhớ lời con bạn: „Lúc còn bé, mình hay tập theo mấy cousin, cousine, chỉ nghe nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, nhạc trẻ Phượng Hoàng … mà lãng quên những bản nhạc nói về đời lính gian khổ, xa nhà, xa mẹ, xa người yêu, triền miên khói lửa. Sau này nghe lại tao thật sự thấy xúc động và thương cảm họ thật nhiều, nếu không có đổi đời, đôi lúc tao nghĩ có thể mình sẽ là người yêu của lính …“
Tôi không biết tôi thì có trở thành „người yêu của lính“ giống nó không, nhưng dù không phải „phen“ nhạc Sến, tôi rất thích bài „Ai nói với em“ (Minh Kỳ – Huy Cường):
Ai nói với em nếu anh là lính
Không biết nói yêu mỗi khi gần em
Ai nói với em tình mình dang dở
Vì đời lính nhiều gian khổ
Yêu chỉ cho lòng mong chờ
Ai nói với em lính không sầu nhớ
Không có trái tim đắm say mộng mơ
Ai nói với em tình người lính trẻ
Nồng nàn nhưng nhiều dâu bể
Không như cung đàn lời thơ
Ba-lô thay người tình yêu dấu
Đêm đêm riêng mình nằm gối đầu
Anh thấy nhớ em, anh thấy mến em
Ước mơ anh là trời cao
Rót trăng nhuộm vàng làn tóc thương yêu
Khi lính đã yêu bướm ghen tình thắm
Muôn kiếp vẫn yêu nói chi ngàn năm
Khi lính đã yêu rừng tàn núi lở,
Tình còn vững bền muôn thuở
Bao la như lòng đại dương.
Phải chi hôm Tết có ai hát bài này nhỉ ?
Tôi sẽ có rất nhiều ý tưởng để soạn lời giới thiệu cho nó.
Manchmal schickt er mir per Whatsapp seine Gedankengänge, wo zwischen den Zeilen „…-bla-bla-usw-…“ als Platzhalter auftauchen.
Letzten Samstag kam am Vormittag dieses Bild mit der Mitteilung: „Morgen! Hat die Darstellung eines exponentiellen Wachstums als 1. Ableitung und als Logarithmusfunktion eine Bedeutung im Finanzwesen?“
Ich nix kapito, du was wollen.
„Hast du eine Buchempfehlung für Finanzmathematik?“
Berk and de Mazo, Corporate Finance.
„Ich suche mal nach de-Ausgabe.“
Etwa eine halbe Stunde später:
„Du kannst den mir auffallenden Zusammenhang für die GiKaD Seite nutzen und schreiben: Adam Smith fand bereits vor ca. 250J heraus, dass Kinder wohlhabender Familien mit großer Wahrscheinlichkeit eine elitäre Berufslaufbahn ansteuern (heute wissen wir, der Schnitt liegt bei weit über 70%) und umgekehrt. Als Pessimisten würden Sie nun sagen, der sprichwörtliche Silberlöffel determinierte den beruflichen Werdegang eines Kindes, wie ungerecht die Welt doch sei und es könne nicht sein, dass die Geburt das Recht auf Bildung festläge. Doch als Optimist erkennen Sie, dass Intelligenz nicht erblich ist oder das genetische Prädisposition, sollte dies tatsächlich eine Rolle spielen, der sozialen Herkunft untergeordnet ist. Ausnahmen bestätigen diese Annahme (suche nach Nobelpreisträgern aus ärmlichensten Verhältnissen). Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind (Urheber des Satzes finden). Wenn Sie spenden, verhelfen Sie gemeinsam mit GiKaD begabten aber unterprivilegierten Kindern zu ihrem Glück, ja sogar zu ihrem Recht auf Bildung. Wir von GiKaD träumen von einer besseren Welt und hoffen, dass diese Kinder eines Tages erfolgreich ins Berufsleben starten werden, und sich dann für andere, weniger privilegierte Kinder einsetzen (Zinseszins-Effekt der Spende). Wie möge die Welt in der wir heute leben aussehen, wenn Sir William Gates nicht Vater von Bill, sondern ein obdachloser Alkoholiker wäre. Oder Marks Vater sei nicht der Zahnarzt Dr. Edward Zuckerberg sondern alleinerziehender Tagelöhner? Angenommen beide hätten aufgrund von Fremdmitteln profitiert und sind nun zu den Menschen herangewachsen, die sie heute sind. Wieviel mehr würden von ihrem Reichtum der Gesellschaft zurückgegeben? Traumhafte Vorstellung. Wer träumt … Hoffnung … bla bla usw … Träumen Sie gemeinsam mit uns und Give Kids a Dream … bla bla usw …“
Habe recherchiert.
Einige Nobelpreisträger aus ärmlichensten Verhältnissen:
Ada Yonat, Nobelpreis Chemie
Isidor Isaac Rabi, Nobelpreis Physik
Alexander Fleming, Nobelpreis Medizin
Lech Walesa, Friedensnobelpreis
Günter Grass, Nobelpreis Literatur
Nur Günter Grass war mir bekannt.
Wir vergessen nie unsere Herkunft, denn es macht uns zu dem, der wir sind. Kann Urheber dieses Satzes nicht finden.
Suche nach „Herkunft, woher kommen wir“ ergab den Denkspruch von Karl Heinz Karius: „Woher kommen wir? Wohin gehen wir – und vor allem wann?“ Bahnreisende verbindet häufig das Interesse an allen existenziellen Kernfragen der Philosophie. Wie recht er hat. Bahnfahren ist einfacher als das Studium der Philosophie.
Für seine „…-bla-bla-usw-…“ ist mir noch nichts eingefallen.