Nhỏ bạn ở Mẽo đi du lịch châu Âu, „meo“ nói sẽ ghé Köln chơi một ngày.
Köln nổi tiếng với nhà thờ Dom.
Köln có bia Kölsch.
Köln có dòng sông Rhein chảy ngang.
Köln có con cầu Hollenzollernbrücke nặng trĩu ổ khóa của những cặp tình nhân khắc tên „hai đứa với quả tim chì“ (chìa khóa thì đã ném xuống sông Rhein hết rồi).
Sau đó biết đi đâu nhỉ ?
Köln có một bảo tàng nhỏ „Johann Maria Farina gegenüber dem Jülichs-Platz“, thật ra là nằm ở đường Obenmarspforten 21, đối diện Gülichplatz, nhưng người vùng này phát âm chữ „G“ nghe như „J“.
Đây là nơi sản xuất nước hoa xưa nhất thế giới và cũng là nơi Giovanni Farina khai sinh „Eau de Cologne“. Thời bấy giờ cái gì thảy ra đường hay xuống sông được là thiên hạ hất ra liền, Köln lại là thành phố giao thương nên đường xá ngột ngạt, bốc mùi hôi hám. Giovanni Farina khi pha chế „Eau admidrable“ (nước trân quý) mang ý tưởng tìm kiếm một mùi thơm đem lại cho ông cảm giác hít thở không khí buổi sáng mùa xuân sau cơn mưa trên quê hương đất Ý. Các sĩ quan Pháp đóng quân vùng sông Rhein trở về sau cuộc chiến tranh giành ngôi báu ở Ba Lan (1733–1738) đã không quên đem những chai nước hoa này về làm quà cho vợ hiền, người yêu và mang đến cho nó cái tên gọi „Eau de Cologne“ – Nước của Cologne.
Nước hoa của Farina đặc biệt được ưa chuộng bởi có mùi thơm nhẹ nhàng, tươi mát, lại không quá đắt như Eau de Parfum (hàm lượng tinh dầu 12-20%). Napoleon một ngày xài tính ra khoảng 2.000 Euro cho Eau de Cologne vì vị vua này xức nước hoa cả vào giầy ống lúc cưỡi ngựa. Có rất nhiều nước hoa giả lấy tên Eau de Cologne hoặc xử dụng luôn thương hiệu Farina như „Kölnisches Wasser 4711“ của Wilhelm Mülhens. Mãi đến sau gần 1 thế kỷ tranh chấp, năm 1881 Farina mới giành lại được thương hiệu của mình.
Do vào thế kỷ 18, 19 Eau de Cologne chiếm thượng đẳng thị trường dầu thơm ở châu Âu nên „Eau de Cologne“ đã trở thành một tên gọi cho nước hoa có hàm lượng tinh dầu 2-5%. Một trong số khách hàng nổi tiếng của Farina Eau de Cologne là Công nương Diana.
Thăm căn nhà Farina, nay là bảo tàng viện, chỉ 5€, có hướng dẫn viên giới thiệu lịch sử Eau de Cologne với những mẩu chuyện bên lề chẳng hạn như Giovanni Farina chỉ cần hửi qua 1 lần là nhớ như in mùi dầu thơm nào, với hàm lượng tinh dầu nào, pha chế ra sao v.v., không cần ghi vào sổ và vì như vậy công thức Eau de Cologne chính hiệu không hề bị đánh cắp. Lúc ra về khách được tặng chai dầu thơm 6ml trị giá 8€. Không những lời 3€ mà bộ sưu tầm nước hoa tí hon (hình blog ở trên) lại có thêm thành viên mới.
Tối dẫn nhau đi ăn đồ Đức chính hiệu ở quán „Gaffel am Dom“ ngay nhà ga xe lửa nữa là … hết Ý. Ý viết hoa.
Đa số người Việt sống lưu vong ở nước ngoài như … tôi thường ôm ấp hoài bão „bảo tồn văn hóa“ dù chẳng biết thế hệ con, cháu nội ngoại, chắt chút chít chũm chĩm với những cái tên lạ lẫm như Otto, Friedrich, Jutta, Anja v.v. chúng nó còn nói tiếng Việt, biết phong tục tập quán Việt Nam hay không nữa? Ôm mà không ấp thì không ra trứng, ra trứng rồi mà không biết cách „marketing“ thì trứng sẽ thối, bị đáp vào thùng rác không thương tiếc.
Hôm nọ sang thăm thằng bạn học cũ, tá túc trong phòng làm việc của nó với một tủ sách to đùng, tối ngủ chỉ sợ đổ ập đè vào người. Lạ giường, tẩn mẩn bên kệ sách thấy có quyển „Tôi tập viết tiếng Việt“ của ông Nguyễn Hiến Lê. Tôi gọi „ông“ có nghĩa là gọi theo vai vế chứ không phải „ông“ là đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba vì ông là bạn của ông ngoại, cùng học trường Bưởi, thường đến nhà chơi mạt chược với ngoại. Tôi nhớ ông có dáng gầy gầy, da ngăm, lưng hơi khom và có khuôn mặt xương xương giống ngoại. Hình như mấy ông bạn của ngoại ai nhìn cũng mài mại giống ngoại, có lẽ do cùng xuất thân từ miền quê hương đất bắc mà trong trí óc non nớt của tôi ngày ấy nó xa lắc xa lơ tôi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Trong quyển này ông phân tích những sai lầm khi hành văn tiếng Việt mà ngay cả nhiều nhà văn nổi tiếng cũng mắc phải. Ông viết rất dễ hiểu, không sáo ngữ, khiêm tốn mà thuyết phục, thật không hổ danh (trích Wiki) „là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế,…“
Ông Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912, tức là thế hệ … 1x, 2x. Thế hệ 5x, 6x như chúng tôi coi như … lỡ một mùa xuân rồi vì đã thành „ba rọi“, tiếng Tây tiếng U thì vừa đủ để kiếm cơm, tiếng Việt thì vừa đủ để … mắng con. Nhưng may quá còn thế hệ 3x, 4x ở giữa như mẹ tôi, lâu lâu xổ một câu ngạn ngữ để dạy cháu ngoại, mặc nó có hiểu hay không hoặc sau đó nghe nó kết luận một câu xanh lè, trống không: „Bên Đức khác mà bà !!!“.
Thế hệ „giữa“ còn có cậu Mười của thằng bạn tôi, cậu Tiền Vĩnh Lạc. Cậu không dáng gầy gầy, không lưng khom, không da ngăm, cũng không đến từ miền quê hương đất bắc mà trong trí óc non nớt của tôi ngày ấy nó xa lắc xa lơ tôi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Cậu biên soạn cuốn Tìm hiểu tiếng Việt, chữ Việt của chúng ta, con cháu ráp lại đánh máy và hiệu đính, gần 2 năm nay bây giờ đã hoàn tất. Thằng bạn kể: „… Xưa tính là làm 2 cuốn Thượng và Hạ mỏng, hoặc 1 cuốn thiệt dày như tài liệu sách giáo khoa giảng dạy tiếng Việt. Nhưng mấy chị em bàn kỹ với nhau, cắt xén rất nhiều và rút gọn lại thành 1 cuốn, 290 trang, thay vì 2 cuốn mỗi cuốn 200 trang, cho đỡ tiền in. Sau này nếu có dư tiền thì sẽ ra cuốn thứ hai. Cuốn này chủ yếu dạy tất cả văn phạm, cách dùng từ chính xác, cách phân biệt các loại từ để không bao giờ viết sai chính tả, một ít văn vần thôi, tóm lại tất cả những gì về giảng dạy văn phạm tiếng và chữ quốc ngữ đều nằm trong này. Ấn loát ở Việt Nam thì rẻ, nhưng sẽ bị tự ý sửa nội dung không hỏi ý kiến tác giả, mà sách giáo khoa cho thế hệ mai sau nếu in sai một ly là đi một dặm, cho nên chỉ in ở Úc và Mỹ với số lượng cũng rất khiêm tốn …“
Sách tặng, không bán. Hình bìa do thằng bạn Don „Ăng-Lê“ thiết kế. Dự tính ngày lên khuôn là khoảng đầu tháng 6, trong 2 tuần sẽ in xong. Không biết sẽ có tái bản hay không. Nếu đủ thời gian thì năm sau cũng vào tháng 6 sẽ ra thêm 1 cuốn giáo dục nữa. Từ bây giờ tới đầu tháng 6 nhờ các bạn hỏi dùm, nếu có ai muốn đặt làm của hồi môn cho con gái, quà sinh nhật cho con trai, gối đầu giường cho cháu nội ngoại, hay thực tiễn hơn nữa là làm tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho các lớp Việt ngữ thì vui lòng liên lạc với Hồng, aka (as known as) Aza Lee, nếu đặt kha khá thì giá thành của mỗi cuốn có thể xuống, rẻ hơn một bữa ăn tối với thịt bò áp chảo tại tiệm Steakhouse Á-Căn-Đình Maredo.
Cám ơn các bạn trước.
************************************************************************************************************
Bài blog này đề ngày 11.05.2017 mà không hiểu sao nó bị chìm đâu mất, hôm nay vô tình lục lọi tìm một đề tài cũ mới thấy bài vẫn đang nằm chờ được nở hoa.
Thôi thì xin tạ lỗi cùng các bạn.
Sách dưới dạng pdf hiện được đăng ở đây.
Theo gia phả, 13 đời trước bên ngoại tôi là người Tàu. Nhiều người cho rằng phải kêu là „người Hoa“ vì „Tàu“ nghe không được lịch sự. Một bạn học cũ, Lê Anh Dũng, đã bỏ công tìm tòi và giải thích cặn kẽ cái gốc gác „ba Tàu“ của tôi. Tôi mạn phép đăng lại những gì Don – tên „Ăng-Lê“ của hắn – đã chịu khó sưu tầm để „giải đáp thắc mắc“ cho đứa bạn không hiểu sao cứ thích ăn Điểm-Sấm (chú thích: tôi cũng thích ăn phở nhưng hủ tiếu mới là món khoái khẩu nhất của tôi).
„Ba Tàu còn có một giai thoại có thật, được kể từ miệng của mấy người bạn gốc Hoa của ba tui mà rất it ai biết tới, kể cả những bậc học giả Việt Nam lão thành. Khi những người dân các tỉnh Quảng, Phúc và Chiết không chấp nhận nhà Mãn Thanh, một số vùng lên khởi nghĩa, bị quân Thanh càn quét chạy ra biển, theo dân tị nạn chiến tranh, ùn ùn trốn sang Việt Nam. Khi họ đến cửa ải và các cảng Hội An, Hải Phòng, lính của mình hỏi họ là ai, từ đâu tới, thì họ bảo rằng họ là „bô đào dân“, có nghĩa là chạy trốn, đào vong trốn quân triều đình nhà Thanh, tức là người tị nạn, mà âm tiếng Quảng, tiếng Tiều khi nói lên nghe là „Pô Tàu“, quan quân mình nghe ra thành „ba Tàu“. Từ đó người Tàu bị chết tên là „ba Tàu“. Dân „bô đào“ tị nạn đi sang Việt Nam bằng đường bộ ồ ạt nhiều gấp chục ngàn lần dân đến bằng thuyền. Nhưng trên mạng cứ giải nghĩa dân Tàu đến Việt Nam bằng 3 chiếc tàu gọi là ba Tàu, thiệt là bậy hết sức.
Tóm lại, „ba Tàu“ là 3 sắc dân Quảng, Tiều và Chệt (Chiết), đồng thời còn phát xuất từ chữ „bô đào“, tức là dân đi tị nạn. Ba sắc dân này sợ hai nhà Trịnh-Nguyễn đuổi họ về Tàu, cho nên khi hai chúa Nguyễn Phúc Tần và Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mở mang bờ cõi phía nam Thuận Hóa, họ xung phong đi liền. Đa số dân Quảng và Chệt dừng lại ở Saigon-Chợ Lớn, một số nhỏ theo đại đa số dân Tiều vào tận Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, Hà Tiên. Vì thế từ Long An, Tân Thuận trở về miền Tây toàn là dân Việt gốc Tiều. Rồi họ bỏ cách ăn mặc và chải tóc kiểu nhà Thanh, búi tóc như người Nam, mặc áo bà ba, áo dài, học nói tiếng Việt và học làm mắm. Họ tự bỏ quốc tánh của họ, quên đi dĩ vãng bô đào, xưng là „Duyệt-Làm-Dành“ (Việt-Nam-Nhân) và sống hòa mình với người Việt, nhưng người Việt mình vẫn cứ gọi họ là … „ba Tàu“.
„ba Tàu“ đời thứ 17
Thật ra người Việt cổ sinh sống gần miền Nam nước Tàu ngày nay, xưa là vùng Lĩnh Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) và một phần của Lĩnh Tây, tức là Vân Nam và Quảng Tây, gồm các tộc Mân Việt, Uông Việt, Bách Việt, Lạc Việt. Vùng đất rộng lớn này một bên là núi Ngũ Lĩnh, một bên là biển, cho nên mới có huyền sử 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Ba miền đất lớn phía nam núi Ngũ Lĩnh là đất Quảng, bây giờ là Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây. Đất Mân bây giờ là Phúc Kiến, Triều Châu và Chiết Giang.
Bộ Lạc đầu tiên có chính sử, có chủ quân là vua Thuần Nghiêu, chính là bộ lạc Tào. Đất họ ở là đất Tào. Dân tộc Tàu là Tào dân – Tào mánh, Tào mán, Tào mín theo âm đọc tiếng Quảng Đông và Tiều. Mình gọi họ là Tàu bắt đầu từ đó. Đổi lại dân Tàu gọi chung các tộc Việt sống phía Nam núi Ngũ Lĩnh là Nam Mân (đất Mân phía Nam núi Ngũ Lĩnh, nơi dân Mân Việt ở đông nhất), Mân dân (Mần mánh, Mần mán, Mần mín) hay gọi là Nam dân (Nàm mánh, Nàm mán, Nàm mín theo âm tiếng Quảng và Tiều). Sau nàu bị hai bà Trưng đánh bại năm 40 mới ghét dân Việt quá đọc trại thành Nam Man.
Các nước Sở, Việt, Ngô thời Xuân Thu xưa lắc toàn là những vùng đất của các chủng Việt mà hai chủng lớn nhất là Thái-Mường (Tais, Tây Âu) và Việt (yue, yueh), như Bách Việt, Bộc Việt, Điền Việt, ở rải rác phía Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh, tức là vùng Mân Nam, đảo Đài Loan, Hải Nam và miền bắc của Việt Nam bây giờ. Ngôn ngữ của dân Việt mình và dân Thái có gốc Việt cổ, cũng là tiếng Sở-Việt-Ngô ngày xưa. Tiếng Quảng và tiếng Tiều nghe khá giống với tiếng Việt, khác xa tiếng Phổ thông (Mandarin). Dân Việt cổ sinh sống từ phía nam sông Dương Tử xuống đến miền bắc Việt Nam và phía đông đến tận biển Đông Hải. Nếu không bị các nhà Tần, Hán lấn chiếm thì đất nước của dân Việt lên đến tận sông Dương Tử.
Năm 1965, trong một cuộc khai quật khảo cổ tại Hồ Bắc – là địa bàn nước Việt ngày xưa trước khi bị Sở diệt – người ta đào được cây kiếm của Việt Vương Câu Tiễn, đúc bằng đồng điếu, có hoa văn và các đường chạm kỷ hà giống như hoa văn ở các thạp đồng Đông Sơn. Câu-Tiễn-Kiếm khắc chữ Việt cổ mà chính những nhà học giả nổi tiếng của Tàu cũng vò đầu bứt tai không giải mã nổi (chú thích: lúc đọc tới khúc này tôi hình tượng đến cảnh ông A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ – Alexandre de Rhodes – ngồi ngơ ngẩn thẩn thờ không giải mã được chữ Việt bèn tìm cách chuyển đổi sang tiếng Latin quen thuộc với ông hơn).
Trở lại „Câu-Tiễn-Kiếm“. Người Tàu phía bắc như các nước Tần, Tề, Trịnh, Ngụy, Yên, Hàn, Lỗ, Tấn đâu có đồng đâu mà làm kiếm, toàn là kiếm thép, và cũng không có kỹ thuật làm đồ đồng như dân Việt. Nếu có chạm trổ thì đường nét cong cong, uốn lượn chứ không thẳng như kiếm Câu-Tiễn. Sử Tàu cũng có nhắc đến 2 cây kiếm Thư Hùng của vợ chồng Can Tương – Mạc Tà dâng lên cho vua Ngô Hạp Lư, mà Kim Dung có nhắc tới trong cuốn Việt-Nữ-Kiếm. Sách viết là 2 cây kiếm rèn bằng sắt, nhưng sau này người ta bảo là ngộ nhận, vì vùng Chiết giang – Nam Lĩnh không có mỏ sắt, chỉ có các mỏ đồng thau, thế thì 2 cây này cũng như cây của Câu Tiễn phải là cùng làm bằng đồng điếu, tức là mỏ kim loại ở địa phương. Tiếc rằng 3 cây kiếm này giờ nằm ở bên Tàu thì thuộc quyền sở hữu của nó, nếu không thì mình đã có niềm tự hào là tổ tiên dân Việt có nghề làm kiếm tinh vi.
Câu-Tiễn-Kiếm
Xưa có câu „Tề dân phục thương ngọc, Sở chúng ý tạp y“, có nghĩa là „dân Tề đeo ngọc xanh, dân Sở mặc áo ráp nối vá víu“. Nhiều người diễn giải là ý nói người Sở không giàu có như người Tề. Thực sự „tạp y“ – còn có nghĩa là „bách kết y“ – là áo ráp lại từ những miếng nhỏ.
Khu vực các nước Trung thổ như Tề, Tấn, Trịnh có sông Hoàng Hà chảy ngang qua, hai bên bờ và dưới đáy sông người ta tìm được „jade nephrite“ là một loại ngọc quý mà mình thường gọi là cẩm thạch, đá trang sức. Có 2 loại đá khác cũng quý hiếm nhưng thua nephrite là agate, tức mã não màu đỏ (Kỳ-Thạch) và turquoise, tức Lục-Tùng-Thạch màu xanh (khôi thạch). Mình hay nói một người nào có tính tình „kỳ khôi“ tức là tên này „hành sự“ quái gỡ, bất bình thường, nhưng thực sự „KỲ KHÔI“ là tiếng Hán-Việt, tên gọi chung cho 2 loại đá quý này.
Cẩm thạch được dùng làm đồ trang sức và đặc biệt là làm áo quan với những miếng ngọc hình chữ nhật kết với nhau bằng tơ lụa, bọc kín xác chết, vì Cẩm-Thạch được cho là bảo quản xác chết không bị hư thối, hồn được yên tĩnh về nơi cõi lành. Vào thời cổ xưa, dân Tàu, Ấn, dân Lưỡng-Hà-Địa và người da đỏ Inca ở Peru chỉ đeo lẩn quẩn 3 thứ đá này, họa may là có thêm jadeite và opal. Đeo ngọc là cách trang sức của dân Tàu Trung thổ, mà có được ngọc xanh lại càng quý, tức là một kiểu khoe của, ta đây là … đại gia.
Áo quan bằng ngọc thạch
Dân Thái-Lan, Mường, các dân thiểu số ở Việt Nam như Tày, Nùng, Miêu, Ê-Đê v.v. mặc áo đủ màu sắc lòe loẹt, cổ, ngực, tay, vai ráp bằng nhiều thứ vải, hoa văn, chỉ nổi, đăng ten thêu thùa lung tung, đầu kết lông chim, kết khăn đội. Nhưng không phải tại họ thiếu vải, mà chỉ là thời trang „hippy“ của dân Sở ngày xưa. Có nhóm mặc váy dài như dân Lào và Thái Lan. Cũng có nhóm mặc váy ngắn ngang đầu gối như H’Mông, Ê-Đê để dễ dàng đi lại trên vùng rừng núi. Dân Sở, Việt ở đất Kinh và Dương, du nhập cách ăn mặc của người Trung thổ, nhưng áo dài tay rộng, mặc nhiều lớp vì ở miền lạnh hơn. Còn trang phục của dân Tây Nguyên thì cũng giống dân Văn Lang tức là đóng khố. Tóm lại từ trang phục của dân các nước Sở, Việt, Ngô và khu vực Mân Nam (tức Lĩnh Nam) mà các chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc) có phong cách trang phục như vậy. Ngay cả áo tứ thân cũng là tạp y, nhiều mảnh ráp lại. Hoa văn và các hình trang trí của dân Thượng, Thái, Tây Nguyên giống y hệt hoa văn trên cây kiếm Câu Tiễn và các thạp đồng Đông Sơn – Hòa bình, đa số là những đường thẳng chéo qua chéo lại. Còn hoa văn và hình trang trí của Tàu thì cong, dợn sóng mềm mại như mây, hoa, lá chứ không có các đường thẳng kỷ hà.
Y phục người H’Mông
Sở dĩ các tộc Thái, Việt ăn mặc màu mè lòe loẹt vì bị ảnh hưởng của thiên nhiên, cây trái, hoa quả đủ màu sắc, thi nhau nở quanh năm. Vì không có mùa Đông nên dân bản xứ thích màu mè. Họ xâm mình và dùng màu của các hoa quả thoa lên mặt, lên người, giống như bây giờ thiên hạ trổ tattoo và xài make up … Lancôme. Rồi họ dệt vải đủ màu cho đẹp, đem màu sắc vào trang phục. Họ giỏi làm những dãy băng viền áo đủ màu. Trong lúc đó thì quần áo của người Tàu ở lưu vực sông Hoàng Hà làm bằng vải cây gai, cây bông gòn, rất đơn sơ chứ không „hoành tráng“ như phim Tàu bây giờ. Thời Xuân Thu là xa xưa lắm, bất quá là họ thêu viền cổ hay viền ống tay, nên nếu cho rằng dân Sở, Việt mặc bách kết y, tạp y, là dân nghèo ăn bận vá víu thì … bậy quá !!!
Trước khi các nước Sở, Việt, Ngô, Hán, Tề, Tàu đánh nhau họ cũng giao lưu „fashion show“ ì xèo, bắt chước nhau ăn mặc. Nhưng quốc phục dân Thái, Việt là … technicolor, giống như theo kiểu nhà thiết kế thời trang Tây-Ban-Nha Custo Dalmau, còn dân Tề đeo ngọc xanh thì cũng giống như bây giờ người ta đeo iwatch vậy đó mà“.
Slava Zaitsev fashion show
Tôi không đeo iwatch, cũng chẳng thích cẩm thạch.
Có lẽ bên nội tôi gốc người H’Mông không biết chừng.
Germans work hard, play hard.
Ich auch. Aber wohin im Urlaub?
Aufgrund der politischen Unruhen in Europa, in Amerika und überhaupt auf der ganzen Welt ist die Interesse der Deutschen an Reisen in die beliebten Zielen wie Türkei, Tunesien, Ägypten trotz Angebote wie „Hurghada, 7 Tage, Flug, 4* Hotel, All Inclusive 216 € p.P.“ stark gesunken. Um so teuer ist „10 Tage Siebenbürgen, Karpaten & Donaudelta“, sage und schreibe ab 1.684 €.
Eigentlich ist Tunesien mein Lieblingsurlaubsland. Dort spricht man die eleganteste Sprache der Welt, genieß französiche Cuisine und nach zweieinhalb Stunden Flug liegt das türkisblaue Meer mit weißem Sandstrand einem zu Fuße.
2015 starben bei zwei Anschlägen in Tunis und einen Hotelstrand nahe der Stadt Sousse fast 60 Urlauber.
Seit 2015 steigen die Preise für spanische Ziele.
Seit 2015 entwickelt sich Mallorca zur interstellaren Raumstation deutscher Touristen.
Ich war noch nie in Mallorca. Liegt wohl daran, dass ich Tunesien bevorzuge. Aber warum in die Ferne, wenn das Gute so nahe liegt?
Letzten Samstag waren wir am Blausteinsee. Der See entstand im Rahmen der Rekultivierung des ehemaligen Braunkohletagesbau Zukunft. Durch die Auffüllung mit Wasser im Jahre 2004 ist er heute das Naherholungsgebiet für die umliegenden Städte.
Es hat alles, was das Herz begehrt: türkisblaues Wasser, weißer Sandstrand, Wanderwege, Kinderspielplatz, Segel, Tauchen, Radeln … Im Restaurant-Lounge-Café „Seehaus 53“ gibt es Frühstücksbuffet für 8,50 €, Capuccino für 2,50 €, Kuchen und Torten für 2,90 €, Pizza für 8,00 €.
Das Wetter muss nur mitspielen. Bei strahlend blauem Himmel und leuchtender Sonne verwandelte sich der „Bluestone Lake“ zu „Mallorca in Eschweiler“.
Mallorca ở Eschweiler
Người Đức làm việc cần cù nhưng chơi thì cũng xả láng.
Tôi cũng vậy. Nhưng đi nghỉ mát ở đâu bây giờ ?
Do tình hình chính trị bất ổn ở châu Âu, ở Mỹ cũng như ở khắp mọi nơi trên thế giới, dân Đức không còn chuộng đi Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisie hay Ai Cập nữa dù hiện nay du lịch 7 ngày Hurghada, vé máy bay, khách sạn 4 sao, bao ăn uống trọn gói chỉ 216 €. Bù lại các chuyến du lịch Đông Âu như vùng Siebenbürgen (Transylvania, Lỗ-Ma-Ni) chém đứt cổ với giá 1684 €.
Thật ra tôi chỉ thích đi du lịch Tunisie, được nói ngôn ngữ thanh lịch nhất thế giới, được thưởng thức ẩm thực tuyệt vời của Pháp và sau hai tiếng rưỡi ngồi máy bay đã thấy những bãi cát trắng mịn ôm lấy biển trong veo, xanh ngắt.
Năm 2015, gần 60 du khách thiệt mạng trong hai vụ khủng bố tại thủ đô Tunis và khu gần thị trấn Sousse. Kể từ đó giá đi nghỉ mát ở Tây-Ban-Nha tăng vọt. Mallorca trở thành „Interstellar“, trạm vũ trụ cho những chuyến du lịch của người đến từ hành tinh … Đức quốc.
Tôi chưa bao giờ viếng thăm Mallorca. Có lẽ vì tôi thích Tunisie hơn, thích những con lạc đà lững thững, xoải bóng dài trên cát. Nhưng tại sao phải đi chi cho xa khi ngay bên hông cũng có ?
Thứ Bảy vừa rồi tôi thả bộ đến Blausteinsee. Vùng này xưa là khu khai thác mỏ than lộ thiên, đến năm 2004 được thiết kế lại thành nơi vui chơi giải trí cho các thị trấn lân cận với hồ nhân tạo nước xanh biếc, có lẽ vì vậy mang tên „Blausteinsee“ – hồ Lục-Tùng-Thạch. Cũng có bờ cát trắng, những con đường mòn để đi dạo, sân chơi cho con nít, tắm, lặn, chèo thuyền, chạy xe đạp … Có thể dùng điểm tâm tại quán „Seehaus 53“ với giá 8,50 €, Cappuccino 2,50 €, bánh ngọt 2,90 €, Pizza 8,00 €.
Nếu trời đẹp, nắng ấm thì chẳng khác gì „Mallorca ở Eschweiler“.
Sáng thứ Hai, trên đường đi làm, tôi lại nghe radio báo tin khủng bố nổ bom tại khu xe điện ngầm ở Sankt Petersburg của Nga (mang tên tiếng Việt là Thành Bỉ Đắc), làm 11 người thiệt mạng, hơn 50 người bị thương.
Ở châu Âu, những vụ khủng bố gây tử vong ngày càng xảy ra nhiều hơn. Trong khi trước kia mục tiêu thường là những khu có tầm chính trị quan trọng như cơ quan hành chánh hay đài truyền thanh, truyền hình, tòa báo v.v. (vụ tấn công tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Paris 2 năm trước), thì sau này đa số nạn nhân là thường dân, thanh thiếu niên, trẻ em vô tội.
Các vụ khủng bố nổ bom và tự sát đều mang dấu ấn Hồi giáo.
Châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng đa số theo đạo Công giáo. Nhưng họ đã mở rộng vòng tay chấp nhận cho người không cùng tôn giáo như người Việt (đa số theo đạo Phật), người Syria đến tị nạn tại xứ sở của họ, một đất nước an lạc, tự do, dân chủ, bình đẳng.
Người Việt trước kia tị nạn chính trị, sau này tị nạn kinh tế, hai lý do chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Người Syria tị nạn chiến tranh Hồi giáo, cũng chẳng liên quan gì đến nước Đức và dân Đức cả, nhưng họ vẫn cưu mang.
Vậy tại sao lại xảy ra vụ khủng bố tấn công bằng xe vận tải vào chợ Giáng Sinh ở Berlin ngày 19.12.2016 khiến 12 người mạng vong ?
Và những vụ khủng bố ở các nước khác như Anh, Bỉ, Nga, Pháp, Mỹ ?
Và tại sao đa số các vụ khủng bố thường dưới hình thức ôm bom tự sát (Selbstmordanschlag, suicide bombing) ?
Khi con người đi vào tuyệt lộ, nhất là khi phải chịu đựng đau khổ về tinh thần hay thể xác, người ta dễ dàng quyết định chọn cái chết để tự giải thoát.
Năm 2009, trong quyển sách „Tội phạm tín đồ Hồi giáo“ (Unter kriminellen Muslimen) nhà tâm lý học Nicolai Sennels phân tích sự bộc lộ cảm xúc, tức giận phát sinh từ nền văn hóa Hồi giáo. Nghiên cứu của ông được dựa trên các cuộc thảo luận, điều trị với khoảng 150 thanh niên Hồi giáo trong nhà tù dành cho thanh thiếu niên (Jugendgefängnis) ở Kopenhagen, Đan-Mạch. Tại đây, khoảng 70% tù nhân xuất thân từ gia đình theo đạo Hồi.
Theo Sennels, loạn luân (Inzucht) giữa người Hồi giáo rất phổ biến. Khoảng 70% người Pakistan, 45% người Ả-Rập và 25-30% người Thổ-Nhĩ-Kỳ có cha mẹ là bà con với nhau, thường là kết hôn với anh chị em họ. Việc này ảnh hưởng lớn đến trí thông minh, sức khỏe thể chất, tâm lý và xã hội Hồi giáo rất lớn. Trẻ em sinh ra có trí thông minh thấp, bệnh hoạn, mang dị tật hay các bệnh tâm thần. Những người này dễ dàng trở thành kẻ đánh bom tự sát. Tử đạo là một cách xứng đáng để kết thúc cuộc sống đau đớn về thể chất hay địa vị xã hội thấp, bị khinh rẻ vì tật nguyền.
Điều này giải thích phần nào hai phần ba trẻ em nhập cư ở Đức có học lực kém ở trường, đưa đến việc không tìm được việc làm tốt hay thất nghiệp dài hạn và phải sống dựa vào trợ cấp. Thêm vào đó, nhiều gia đình Hồi giáo không cho phép con cái của họ hội nhập văn hóa Tây phương với tự do ngôn luận, dân chủ, bình đẳng nam nữ, là những điều đi ngược lại văn hóa Hồi giáo.
Cho phép loạn luân trong nền văn hóa Hồi giáo trong suốt 1.400 năm qua đã để lại thiệt hại thảm khốc đến các tố chất di truyền của họ. Ví dụ nổi tiếng nhất là Ai-Cập, triều đại huy hoàng Pharao hoàn toàn sụp đổ sau vài trăm năm. Để giữ tài sản và quyền lực, các Pharao thường kết hôn với chị em ruột hay chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Sau vài thế hệ, hậu duệ của họ không còn chiếm ưu thế về trí tuệ lẫn thể chất để tiếp tục giữ vững quyền lực cai trị. Một ví dụ lịch sử khác là vua chúa châu Âu cũng thường kết hôn trong nội tộc vì truyền thống không cho phép họ kết hôn với người không thuộc giai cấp hoàng gia. Tỷ lệ cao của giới quý tộc bị bệnh tâm thần và dị tật trong lịch sử châu Âu cho thấy những hậu quả không lành mạnh của truyền thống này.
Theo thống kê, 80% các cuộc hôn nhân tại Nubien (khu vực phía Nam Ai-Cập) có liên quan huyết thống, 67% ở Ả-Rập Saudi, 63% ở Sudan, 64% ở Jordan, 63% tại Kuwait, 60% ở Iraq, 54% ở Qatar, 54% trong khối Vương quốc Ả-Rập Thống nhất (Vereinigte Arabische Emirate), 48% ở Libya, 47% ở Mauritania, 46% ở Bahrain, 45% ở Yemen, 42% ở Lebanon, 40% ở Syria, 39% ở Tunisia, 34% ở Algeria, 33% ở Ai Cập.
Loạn luân có ảnh hưởng tiêu cực đến chủ nghĩa khủng bố nhưng được giáo chủ Mohammed cho phép. Năm 626, Mohammed, 56 tuổi, lấy Hafsah, 20 tuổi, con của Umar, làm vợ bé. Aischa, vợ chính thức (vợ thứ 3) của Mohammed, con gái của Abu Bakr, mới lên 10. Cả hai cha vợ là Umar và Abu Bakr đều xin cưới con gái út của Mohammed là Fatima nhưng Mohammed không chịu vì ông quá yêu thương Ali là em họ (con của chú ruột) nên ông đã gả Fatima cho Ali. Sau này Ali và Fatima trở nên „thánh tổ“ của giáo phái Schia. Cũng khoảng năm 626, Mohammed hợp thức hóa loạn luân trong thánk kinh Koran, ép con trai nuôi của mình là Zaid phải ly dị vợ để ông lấy Zainab, cô em họ của mình làm vợ.
Một lý do khác là với hôn nhân trong bộ tộc thì do „không gả con xa“ cha mẹ dễ quản thúc con gái tuân thủ giáo lý Sharia, nữ giới phải chịu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân. Iran theo giáo phái Schia, nổi tiếng bảo thủ và cực đoan. Luật hôn nhân của Iran công nhận chế độ đa thê. Đàn ông muốn ly dị vợ lúc nào cũng được. Thủ tục ly dị vô cùng đơn giản, người chồng chỉ cần nói với vợ ba lần: „Tôi ly dị cô !“. Sau khi được tòa cho ly dị, người chồng có quyền giữ con trai trên 6 tuổi và con gái trên 12 tuổi. Người vợ chỉ được nhận tiền của chồng trợ cấp trong 3 tháng mà thôi. Tệ hơn nữa, sau khi ly dị rồi đàn ông Hồi giáo có quyền cưới con gái mình.
Theo y học, kết hôn với người cùng huyết thống có xác xuất bị dị tật rất cao, anh chị em ruột từ 40-50% do thừa hưởng 50% di tố của cha và 50% của mẹ. Nếu chẳng may gặp nhầm di tố bị đột biến, đứa trẻ sanh ra sẽ mang dị tật như trí tuệ kém phát triển, đui mù hay bị những khiếm khuyết, bệnh tật khác. Cộng thêm sự nghèo đói, thất bại trong xã hội đưa đến việc từ thập niên 1980, các vụ khủng bố dưới hình thức ôm bom tự sát gia tăng. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng tại các trại tị nạn. Họ được hứa hẹn lên thiên đàng hưởng lạc thú với 72 cô gái đẹp đến muôn đời hay thân nhân được trợ cấp một số tiền lớn.
Nhận thức của Sennels cũng như những tài liệu tham khảo về loạn luân cho thấy đạo Hồi và nền văn minh phương Tây với ý thức tự do, bình đẳng nam nữ không thể hòa nhập, trừ khi người theo Hồi giáo ý thức được phụ nữ cũng là người chứ không phải nô lệ. Algeria là thuộc địa của Pháp từ năm 1830. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đem lại hứng khởi cho nhân dân Algeria trong quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập. Niềm hứng khởi đó đã thúc đẩy trên 10.000 phụ nữ Algeria gia nhập hàng ngũ kháng chiến quân võ trang. Họ lợi dụng những chiếc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân để dấu vũ khí, thuốc men, lương thực tiếp tế cho quân kháng chiến. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến thành công năm 1962 thì chính quyền Algeria bị rơi vào tay của giới lãnh đạo Hồi Giáo cực đoan. Chính quyền này muốn đưa Algeria trở về thời Trung Cổ bằng cách tước đoạt mọi quyền tự do của phụ nữ. Phụ nữ Algeria ngao ngán thở dài hối tiếc thời Pháp thuộc vì dưới ách thống trị của thực dân, họ đã được hưởng rất nhiều quyền tự do và nhân phẩm của họ đã được kẻ địch tôn trọng còn hơn những kẻ lãnh đạo đồng hương của họ.
Vào năm 1980, một đảng Hồi Giáo cực đoan khác lên nắm chính quyền ở Algeria. Năm 1984, chính quyền này ban hành luật công nhận chế độ đa thê. Nhiều phụ nữ biểu tình chống lại luật này. Chính quyền quá khích ra lệnh cho cảnh sát nổ súng khiến cho 48 phụ nữ bi thiệt mạng.
Sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi Giáo cuồng tín đã làm bùng lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ hơn. Chính quyền liền ban hành luật thị uy với những hình phạt thật nghiêm khắc đối với những người xách động biểu tình: đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị thiêu sống. Bộ luật chống biểu tình này được áp dụng liền trong 10 năm, từ 1984 đến 1993, đã giết chết khoảng 7000 người!. Mặc dầu vậy, phụ nữ Algeria vẫn không nản chí, họ tiếp tục tranh đấu cho tự do một cách thật kiên cường khiến cho thế giới phải khâm phục. Ngày lịch sử 22-3-1993, một nửa triệu phụ nữ Algeria vứt bỏ áo choàng và khăn che mặt từ khắp nơi đổ về thủ đô với khẩu hiệu: „Chúng tôi không nhượng bộ“ (We will not yield!). Trước khí thế quá mạnh mẽ và can trường của nửa triệu phụ nữ, chính quyền Hồi Giáo cực đoan đã phải chùn tay không dám bắn và cuối cùng họ đã phải nhượng bộ bằng cách hủy bỏ các luật lệ bất công đối với phụ nữ (trích từ „Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay“ của Charlie Nguyễn).
Tự do tín ngưỡng là một trong những quyền cơ bản của con người. Nhưng tự do cũng có nghĩa phải tôn trọng tự do của người khác. Chưa nói đến việc „nhập gia tùy tục“. Là khách ta không thể tùy tiện thay đổi cách trưng bày của chủ nhà theo ý riêng hay, tệ hại hơn nữa, đập phá đồ đạc khi thấy nó chướng mắt mình.
„Religion is like a pair of shoes. Find one that fits for you, but don’t make me wear your shoes.” ― George Carlin ―
Tôn giáo giống như một đôi giày. Hãy tìm cho bạn đôi nào vừa ý, nhưng đừng ép tôi phải mang giày của bạn.
Cuối tuần, tự nhiên nổi hứng muốn đi xem chiếu bóng. Sực nhớ phim „La La Land“ vừa nhận một đống Oscar, tôi rủ ông chồng đáng yêu nhất trên đời này mua 2 vé ở rạp Eden, xuất 17 giờ, hạng Loge, 8€ một vé, còn được khuyến mãi bớt 15% cho 2 vé đi tắm hồ nước nóng Carolus Thermen Aachen.
Xem phim ở rạp có cái thú riêng của nó, khác hẳn xem ở nhà dù Ti-Vi to hơn nửa bức tường và không mất tiền vé vào cửa. Chẳng hạn phải ăn mặc chỉnh tề, không được lâu lâu lại đứng lên đi rót ly nước, vào Facebook bấm „like“, hoặc xuống bếp tắt nồi phở đang chuẩn bị sôi trào.
Phim khá hay, màu sắc rực rỡ, cảnh quay tuyệt đẹp, diễn viên xuất sắc, xứng đáng đoạt 6 Oscar. Nội dung xoay quanh chuyện tình của Mia, làm việc tại một quán cà phê trong phim trường Warner Bros với giấc mơ trở thành minh tinh màn bạc, và Seb, một nhạc sĩ dương cầm ương gàn, ấp ủ hoài bão mở phòng trà cho loại nhạc Jazz mà chàng say mê.
Mia & Sebastian trong phim „La La Land“
Tại sao tôi viết Blog về „La La Land“ ?
Trong phim có đoạn khi Mia được yêu cầu diễn xuất thử vai, cô kể lại câu chuyện về người dì sống tại Paris, người đã ủng hộ giấc mơ trở thành diễn viên của cô. Đoạn này được trình bày qua khúc ca nhạc kịch với bài „The Fools Who Dream“. Có cái gì đó làm con tim tôi rung động khi nghe Emma Stone – người thủ vai Mia – cất tiếng hát:
Here’s to the ones who dream
Foolish as they may seem
Here’s to the hearts that ache
Here’s to the mess we make
She captured a feeling
Sky with no ceiling
The sunset inside a frame
A bit of madness is key
To give us new colors to see
Who knows where it will lead us?
And that’s why they need us
Tạm dịch là
Tuyệt vời thay những kẻ biết mộng mơ
Mặc ai chê ta điên dại khù khờ
Tuyệt vời thay những trái tim rạn vỡ
Với rối ren vương mắc đến vô bờ
Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung
Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ !
Tôi cũng điên rồ như Mia.
Nhưng không phải muốn trở thành minh tinh màn bạc. Tôi muốn người Việt xử dụng đúng cái tiếng Việt hoa mỹ ngày xưa.
Đơn giản như chữ „Hội trưởng Hội người Việt“ thay vì „chủ tịch“.
Xưa có xài, nhưng xài đúng chỗ, giống tiếng Anh, chủ tịch là „xếp sòng“ (chairman), là người nắm quyền quyết định, thường là người có đa số cổ phần của một công ty.
Chủ tịch có thể được dùng cho Ủy Ban (Committee), Hội đồng quản trị (Board of director), Hội đồng giám khảo (Council of examiners). Tuy nhiên ngày xưa có rất nhiều trường hợp không xài chủ tịch như Tổng Công ty Điện Lực không có chủ tịch mà chỉ có Tổng giám đốc.
Ngày xưa có Trưởng phòng Phòng Thông Tin, Trưởng Phòng Chiêu Hồi. Trưởng phòng là chức vụ của „chủ tịch“.
Ty Cảnh Sát có Trưởng Ty Cảnh Sát, Ty Công Chánh có Trưởng Ty Công chánh, Ty Quan thuế có Trưởng Ty Quan Thuế.
Nha Lộ Vận, Nha Quan Thuế có Tổng Nha tương đương với Giám đốc, Tổng giám đốc.
Một công ty có nhiều ban ngành thì có Trưởng Ban.
Đài truyền thanh, truyền hình chỉ có giám đốc, không có „chủ tịch Đài truyền hình“ như bây giờ.
Phường Trưởng, Xã trưởng, Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng, Đô Trưởng, Quân Khu Trưởng, không có các „chủ tịch ủy ban“.
Thủ tướng đứng đầu cái mà tiếng Việt hoa mỹ đặt tên là „Nội Các“, không phải gọi là … „Hội Đồng Bộ Trưởng“.
Hội thì có hội trưởng, không có chủ tịch hội.
Tóm lại chữ „chủ tịch“ rất ít xài vì có đủ chữ để xài cho các chức vụ.
Bây giờ ở nước ngoài bắt chước trong nước xài „chủ tịch Hội Người Việt“, „chủ tịch Hội Phụ Nữ“, „chủ tịch Hội Sinh Viên Đại Học Há-Vợt (Havard)“ v.v. Nghe danh từ đao to búa lớn mà hội chỉ là association (Vereinigung), club (Zusammenkunft), group (Gruppe) v.v. và chẳng có chủ tịch nào có nhiều cổ phần trong hội, vì hội là đoàn thể bất vụ lợi, làm gì có cổ phần (shares) hay được quyền quyết định tối cao mà gọi là chủ tịch ?
Tham mưu Trưởng là trưởng phòng hay trưởng ban cố vấn của quân khu, hay của quân đoàn, của sư đoàn. Bây giờ thì dùng chữ „chủ tịch hội đồng cố vấn“.
Chỉ huy trưởng là người đứng đầu trung tâm huyến luyện quân sự hay bộ chỉ huy hành quân. Thiếu tướng Đoàn văn Quảng – ba của bạn tôi, tôi rất hãnh diện về ông – từng là Chỉ huy Trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Còn bây giờ thì dùng „chủ tịch trường đào tạo quân đội nhân dân“, nghe rất lủng củng trục trặc.
Ngày xưa nhóm công tố, biện lý của tòa án thành phố có một người đứng đầu gọi là Biện Lý Trưởng, phụ tá của ông này gọi là Tham Biện, Tham Lý. Bây giờ gọi là chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban công tố. Ngày xưa chức công tố được gọi là Biện Lý, bây giờ gọi là Ủy Viên Công Tố, tại sao lại phải dài dòng như vậy ?
Còn ông „attorney general“ của ngành tư pháp của một nước thì xưa gọi là Chánh Biện, Chánh Biện Lý (attorney principal), bây giờ gọi là „chủ Tịch Hội Đồng Tư pháp Trung Ương“.
Cái gì cũng xài chủ tịch hội đồng cả thì tiếng Việt nó nghèo nàn cỡ nào ?
Có thể tôi không được diễm phúc thấy lúc tiếng Việt hồi phục phong phú như xưa, nhưng nếu tôi làm ngơ, cứ „vô tư“ bắt chước gọi „anh chủ tịch, ơi, cho em nhờ tí nào“, thì chính tôi tự cảm thấy lòng mình không yên, có gì đó mãi khắc khoải trong tim.
My aunt used to live in Paris.
I remember, she used to come home and tell us these stories about being abroad
And I remember she told us that she jumped into the river once,
barefoot.
She smiled. ..
Leapt, without looking
And tumbled into the Seine
The water was freezing
She spent a month sneezing
But said she would do it again
Dì tôi sống ở Paris
Dì kể tôi nghe chuyện có lần dì nhảy ùm xuống sông Seine
Chân trần
Dì cười …
Nhảy đại không nhìn trước sau
Vùng vẫy trên sông Seine
Nước lạnh cắt da
Cả tháng trời dì cảm bịnh
Nhưng dì quả quyết
Dì sẽ làm chuyện điên rồ ấy lần nữa
La Seine
Tôi cũng muốn chân trần nhảy xuống sông Seine như dì của Mia.
Để cảm thấy
bầu trời vời vợi,
hoàng hôn gói trọn trong khung
Một chút điên rồ là chính là chìa khóa
cho ta thấy màu sắc mới của cuộc đời
Nào ai biết nó sẽ đưa ta đến đâu ?
Vì vậy, hãy cứ mộng mơ ! Bài „Fools Who Dream“ do Emma Stone trình bày
Cuối tuần đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi ghé về thăm nhà. Tôi hỏi nó : – Con có cần tiền tiêu không ?
Không dám hỏi nó có „thiếu tiền“ không, vì „cần“ là nhu cầu tạm thời để đổ xăng cho đầy bình, còn „thiếu“ là tình trạng bình xăng có lỗ thủng, chớ dại mà nộp mỡ miệng mèo.
Nó trả lời: – Dạo này con nhận dịch giấy tờ từ tiếng Anh sang tiếng Đức nên cũng có tiền rủng rỉnh mẹ ạ !
Tôi e ngại: – Rồi còn thì giờ học hành không hả con ?
Nó khoát tay: – Con hỏi cụ Gồ ! Đức sang Việt thì cụ ấm ớ hội tề lắm, còn Anh sang Đức cụ dịch như gió, có điều sau đó con phải chỉnh lại, thêm Tí-Phần-Hồn vào mới ăn tiền người ta được.
„Tí-Phần-Hồn“ là do tôi dịch từ tiếng Đức „etwas Menschliches dazu tun“, tức là soạn sửa lại cho đúng như cách hành văn của loài người từ gốc khỉ đột thoát xác với Bàn-Tay-Năm-Ngón-Em-Vẫn-Kiêu-Sa, chứ không phải máy tính cụ Gồ phun ra thế nào là nhất nhất sao y bản chánh như vậy.
Vượn hú, chó sủa, gà gáy. Nhưng Bàn-Tay-Năm-Ngón-Em-Vẫn-Kiêu-Sa thì biết nói. Nhiều ngôn ngữ dù có thể cùng một nguồn gốc như xuất xứ từ tiếng Phạn, tiếng La-Tin, tiếng Hán v.v. trải qua bao nhiêu thế hệ đã trở thành ngôn ngữ đặc thù của một dân tộc. Cho nên khi dịch từ tiếng nước này sang tiếng nước khác không đơn giản chỉ dịch từng chữ ghép lại vì sẽ giống như kiểu … Denglish: „My english is not the yellow from the egg, but it goes“ được dịch từng chữ một từ câu „Mein Englisch ist nicht das gelbe vom Ei, aber es geht“ (tiếng Anh của tôi không khá lắm, nhưng cũng tàm tạm). Hay buồn cười hơn nữa là nếu muốn nói với người Anh, người Mỹ câu „Ich glaube, ich spinne“ (chắc tôi đến hóa rồ mất thôi) mà phang ngon ơ là „I think, I spider“ thì họ sẽ ngẩn ra khi chả thấy nhện đâu cả.
Tiếng Việt cũng vậy. Rất nhiều hội đoàn ở hải ngoại dùng chữ „ban chấp hành“ để gọi nhóm những người được bầu lên thay mặt hội viên điều hành công việc của hội. Trong một quốc gia, „ban điều hành“ là bộ phận do công dân tin tưởng bỏ phiếu bầu lên, giao trách nhiệm điều khiển guồng máy chính phủ, có tên gọi riêng rất văn chương là „Nội Các“, gồm các tổng bộ trưởng. Trong một công ty, một hãng xưởng, „ban điều hành“ là bộ phận do cổ đông tin tưởng bỏ phiếu bầu lên, giao trách nhiệm điều khiển vấn đề kinh doanh, với mục đích tìm cách giảm chi phí, tăng lợi nhuận, nâng giá trị cổ phiếu. Trong một hội đoàn „ban điều hành“ là bộ phận do hội viên tin tưởng bỏ phiếu bầu lên, giao trách nhiệm lo toan công việc của hội.
Chữ „điều“ là động từ – khác với „điều“ là danh từ có nhiều nghĩa như màu đỏ, lời nói, cớ sự, đoạn, khoản – không bao giờ đi một mình mà bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng từ ghép như điều hành, điều khiển, điều trị v.v. Theo tự điển Khai trí Tiến Đức „điều“ có nghĩa là „sắp đặt, làm cho vừa vặn“.
Còn „chấp“ có nghĩa là „cầm, giữ, nhận“ như „chấp chính“ là cầm giữ quyền chính trong nước. Là động từ, nên „chấp“ phải đi với danh từ như chấp đơn, chấp lễ, chấp lệnh v.v.
Vậy thời là „chấp“ hay „điều“ ?
Là „xoay“ hay „chỉnh“, là „chịu“ hay „tuân“ ?
Từ 中央執行委員, đọc theo âm Pinyin từng chữ một và theo đúng kiểu Lý Tiểu Long xuất chưởng từ phải sang trái là „wěiyuán zhíxíng zhōngyāng“, ủy ban thi hành trung ương. Chữ 執 ở đây không có nghĩa là „chấp“ mà đi chung với 行 đọc là „zhíxíng“, chuyển âm Hán-Việt là „thi-hành“. Dịch „chấp hành“ thành ra đầu gà đít vịt, theo kiểu âm là „thi“ (zhí) nhưng chữ là „chấp“(執) thành ra một kiểu Trung-Việt (xin chớ đọc và bỏ dấu thành … Trứng Vịt), tương tự như Denglish „I think, I spider“. Tên gọi cũng nói lên suy nghĩ của người dùng, đầy sự phục tùng, nhận, chịu và „thi-hành“ theo đường lối „ủy ban trung ương“, không ý kiến ý cò gì ráo trọi.
Nhiều người cho rằng Hán-Việt là tiếng ngoại lai, cà răng căng tai, không ai ưa nói. Thật ra ngày xưa người Việt không có chữ viết, nhưng có thổ ngữ riêng, dần dần phát triển dùng chữ Hán để chuyển thành ngôn ngữ độc lập cho mình. Vì vậy, văn viết xưa vẫn là chữ Hán, dần chuyển sang chữ Nôm, rồi do người Việt ở hiền gặp lành nên được ông A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ (亞歷山德羅, Alexandre de Rhodes) chuyển thành:
Sách quốc ngữ
„Chữ“ nước ta,
Con cái nhà,
Đều phải học.
Hết phải bi bô
Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm
để „vẽ“ … mỗi một chữ „đức“ 德.
Ví dụ điển hình:
Tên „Hồng“ là tên do ông nội tôi đặt, nguyên thủy là „Hường“, nhưng nghe „nhà quê“ quá nên ba má tôi đổi thành „Hồng“ – con đội ơn ba má đã không vâng lời ông nội. Bác Tư, bà bạn người Hoa của ba má tôi, toàn kêu tôi „Hóng“ vì bác nghe ba má tôi réo:
– Hồng ơi, ra chào bác đi con.
Tôi chào xong xin phép bác:
– Dạ mai mốt bác Tư gọi con là … „Mai Khôi“ nghe bác, tại tên con hiểu theo nghĩa hột vịt lộn là hoa hồng, là 玫瑰 (méiguī), bác nghe ba má con kêu „Hồng“ rồi nhại lại „Hóng, Hóng“ theo tiếng Hán 红 là màu đỏ thì thà con tên … Thị-Hường cho xong bác ạ !
Samuel Johnson, học giả nổi tiếng người Anh vào thế kỷ 18 từng nói „Language is the dress of thought“, ngôn ngữ là trang phục của tư tưởng. Người đẹp vì lụa, tại sao lại làm nghèo tiếng Việt đi bằng cách dùng từ không chính xác ? Mình dùng chữ trật không sửa thì con mình cũng sẽ dùng chữ trật, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi sẽ không phân biệt được „cần tiền“, „thiếu tiền“ hay „hết tiền“ mà chỉ biết là đang … „không tiền“.
Mỗi ngày, mỗi ngày, như con kiến bé nhỏ cần cù, chúng ta cố gắng cất lên tiếng nói chân chính là xử dụng đúng ngôn từ của người Việt. Tới lúc „đầy tổ“ là lúc mọi người sẽ xử dụng đúng từ ngữ tiếng Việt có văn hóa, không phải thứ tiếng Việt „đánh đồng mọi thứ như hiện tại“. Tất cả đều là chủ tịch, từ chủ tịch nước đến chủ tịch thành phố, quận, hội đoàn. Đô trưởng, tỉnh trưởng, lý trưởng, xã trưởng gì cũng … cá mè một lứa, bán giá giống nhau, mua mau kẻo hết. Hoặc là những từ như „báo cáo“ được xử dụng trong mọi tình huống: „Dạ em báo cáo thủ trưởng, con xin báo cáo cho cả gia đinh bà con hai họ là chúng con dự định lấy nhau“, „i“ ngắn, „y“ dài lỏng chỏng lẫn lộn như kỹ-thuật – kỹ là khéo – thành „kĩ“ là … kỳ cục, là quái dị, là áo dài bị cắt ngang tà cái rẹt. Đây là thứ văn hóa làm nghèo đi tiếng Việt.
Bắc thang lên hỏi ông trời
„Điều“ thay cho „Chấp“ có đòi được chăng ?
Ông trời nổi giận mắng rằng
Muốn thời phải được, mần răng hỏi trời ?
Hãy cố lên các bạn !!!
Vì con, cháu, chắt, chút, chít của chúng ta.
Wherever you are, it is your friends who make your world (William James).
Câu này thật là chí lý trong thời đại Facebook. Thế giới của tôi sẽ bé tí như miệng giếng nếu không có đám bạn học cũ giờ lưu lạc tứ xứ. Sáng dậy vừa nhấp ly cà phê vừa „Chếch-Meo, Chếch-Bút“ (check mail, check facebook) để thấy đứa này đăng hình cây khổ qua nhà nó mới … chết vì thời tiết đột nhiên trở lạnh, hay đứa kia „xe“ (share) công thức làm bánh da lợn màu … hoa sim, tím chiều hoang lìm lịm. Tiếng Tây, tiếng Mẽo, tiếng Đại hàn „Chơi-Xong-Dông“ (Choi Sung Yong), tiếng Hán „Mai-Cởi-Quần“ (Michael Quan), tiếng Việt „thuần tục“:
Em là con gái Bắc Ninh Em nghiêng cái nón cái … đình nghiêng theo Em là con gái Vân Đồn Em nghiêng cái nón … tâm hồn nghiêng theo
Sáng nay, uống ly cà phê đen không đường không sữa – bắt chước thói quen làm biếng của dân Đức ngồi bàn giấy để khỏi phải rửa ly mỗi ngày vì sữa đường là „nhà“ (host) của vi khuẩn, chưa bàn đến việc dễ gây … béo phì – chợt thấy thằng bạn đăng youtube video bài hát „Rừng lá thấp“ của Trần Thiện Thanh, remixed theo loại nhạc Rap, tức là phối hợp nhạc và đọc kèm vào đó tràng giang đại hải những câu vần điệu, đọc nhanh, giựt giựt đứt đoạn như đang giựt kinh phong nhảy Hip-Hop, xen những khúc ồ ồ, dé dé (oh oh, yeah yeah).
Thường khi viết Blog tôi không „tràng giang đại hải“ vì nghĩ gì viết nấy („nghĩ bậy“ thì chỉ cười „mỉm chi beo“ một mình chứ không dám viết xuống sợ ăn đòn to), nhưng bài hát này tôi phải đăng trọn vẹn bởi từng câu, từng chữ của nó đầy ý nghĩa, nói theo giọng „bắc kỳ rốn“ của thằng bạn tôi là „hay đếch chịu được“: Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì Tôi là người đi chinh chiến dài lâu Nên mộng ước đầu tôi nghe đã chìm sâu.
Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca:
„Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà“
Giữa rừng già vang tiếng hát thật cao
Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu ?
Sao không hát cho người giết giặc trên cầu
khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh ?
Trong khói súng xây thành,
mắt quầng thâm mất ngủ,
tàn đêm khói lửa,
giờ chỉ cần hai tiếng „mến anh“.
Sao không hát cho những người còn mải mê,
lá rừng che kín đường về phồn hoa ?
Sao không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa ?
Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua ?
Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh
Đời lính quen yêu gian khổ quân hành
Nghe từ ngày thơ tiếng súng triền miên
Đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên
Lời hát xin gây rung động thật lâu
Đừng hát như chim trên vùng lá sầu
Xin thật lòng trong câu hát đầu môi
Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi.
„Rừng lá thấp“ hồi đó đối với tôi là loại nhạc „ma-ri sến“, dân trường tây chỉ thưởng thức lá … chết, „Les feuilles mortes“, lời nhạc của Jacques Prévert (Déjeuner du matin là bài tôi ưng ý nhất, tôi có dịch ra tiếng Việt ở đây), thời thập niên 60,70 do nữ ca sĩ người Pháp Françoise Hardy trình bày với giọng hát êm như nhung, mái tóc xõa ngang vai rất nữ sinh, khuôn mặt khả ái đẹp dịu dàng … thua Ngọc Lan chút xíu.
Françoise Hardy
Hai câu cuối gói ghém trọn vẹn tâm tình người lính trẻ không trông đợi những gì cao sang, hão huyền. Đừng hát như chim trên vùng lá sầu, hứa hẹn đầu môi „trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà“, khi anh đang ôm súng giữa rừng già thâm sâu bí hiểm, chỉ thấy toàn … lá là lá, dù có vô vàn những cây cổ thụ thật đẹp, rễ cuộn vào nhau, mà vì nó Angelina Jolie phải lặn lội qua tận Cam-Bốt để quay vài phút phim, làm bây giờ hướng dẫn viên du lịch không giới thiệu „đền Ta Prohm“ nữa mà gọi là đền … Lara Croft có chết không chứ lị !!!
„Người đi chinh chiến dài lâu“ cũng không ước vọng làm Tarzan hú „ồ ố ô, I’m Tarzan“, chỉ „yêu lá thấp mà thôi“. Thấp là „kém bề cao“ – giống tôi – nghĩa bóng ám chỉ những gì hèn kém như „thấp mưu“, „thấp nước cờ“, như Thúc Sinh trong truyện Kiều than thở: „Thấp cơ“ thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.
Hôm nọ – lại cũng trên Facebook – một thằng bạn khác đăng tấm hình nó vẽ, được treo trong văn phòng hiệu trưởng trường Thống Nhất với những lời tự tình mà tôi xin trích ra làm phần kết luận cho bài „Rừng lá thấp“ dù chưa xin phép nó, „blog“ nguyên văn, kèm theo tấm hình nó vẽ cô gái đã đi thẩm mỹ viện ghép lông mi dài, cong vun vút:
Riêng tôi, thời đó còn nhỏ lắm, không góp được công sức gì để ghi ơn người lính Việt-Nam-Cộng-Hòa, tôi chỉ biết vẽ một tấm tranh nhỏ, mô tả một thiếu nữ choàng vòng hoa chiến thắng lên cổ một người lính Việt-Nam-Cộng-Hòa, một nghĩa cử biết ơn của người dân miền Nam đối với tập thể quân–cán-chính phụng sự tổ quốc Việt-Nam-Cộng-Hòa. Trường tiểu học Thống Nhất treo bức tranh này ở văn phòng của bà hiệu trưởng Trần thị Lài suốt thời gian tôi học ở đó. Trên góc phải vẫn còn bút tích của chữ Cung Chúc Tân Xuân.
Hình do Lê Anh Dũng vẽ
Chú thích:
Ngày xưa Đài Tiếng Nói Quân Đội của Cục Tâm Lý Chiến có chương trình Nhạc Thời Chiến Hay Nhất, ngay sau chương trình „Binh Méo Cai Tròn“ của Khả Năng – Phi Thoàn, giới thiệu các bài hát về chiến tranh như „Trên Đầu súng“, „Cờ Bay“, „Trên 4 vùng chiến thuật“ … đa số do nhạc sĩ đang tại ngũ sáng tác như Song Ngọc Hoài Linh, Trúc Phương, Mai châu, Hàn Châu, Trường Sa, Nguyễn văn Đông … Ngoài ra còn mốt số lớn nhạc sĩ dân sự nhưng lại rất yêu bộ quân phục Việt-Nam-Cộng-Hòa như Chế Linh, Duy Khánh, Phạm Thế Mỹ, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Lâm Ngân, Khánh Băng, Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương, Phạm Duy … Người yêu màu áo lính nhiều nhất phải nói là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Vì là thời chiến tranh nên 80% nhạc Việt đều ít nhiều dính dáng đến lính và chiến tranh. Đài Tiếng Nói Quân Đội có làm một cuộc bình chọn bài hát thích nghe nhất, gởi phiếu hay thư bình chọn về KBC (Khu Bưu Chính) của đài. Kết quả „Rừng Lá thấp“ là bài được bình chọn là bài hát thích nghe nhất, được yêu cầu phát thanh nhiều nhất.
Mới đây tôi được giao nhiệm vụ dịch bài diễn văn khai mạc Tết Đinh Dậu tại Mönchengladbach với hình ảnh ông đồ già của thi sĩ Vũ Đình Liên.
Ông đồ không làm tôi sụt ký tuy cũng nan giải như phương trình Diophantos von Alexandria f(x1;x2;x3;…;xn) = 0, bài số 10 trong danh sách 23 bài toán chưa tìm ra đáp số của nhà toán học người Đức David Hilbert.
David Hilbert (1862-1943)
Nhưng dịch lời giới thiệu các chính khách Đức được mời đến dự như ông Reiners, Oberbürgermeister của thành phố Mönchengladbach, đã làm tôi đầu bạc vì không còn thì giờ đi nhuộm tóc, miệng khô vì liếm nước miếng tra tự điển liền tay, ngón trỏ cứng đơ vì líu lo với cụ Gồ (google) như … chim hót bên bụi mận gai.
Vấn đề là hiện nay ở Việt Nam toàn gọi những người đứng đầu bộ phận hành chính ở các nước theo chế độ dân chủ là „thị trưởng“ dù chức vụ của họ là tỉnh trưởng, quận trưởng hay xã trưởng. Không phân biệt giai cấp, quyền hạn, lương lậu gì sất. Me nào cũng là me, „me dốt cũng như me ngào đường“, Maire de Paris, Maire d’Antony, Maire de … Sài-Gòn.
Thời pháp thuộc, Nam kỳ lục tỉnh là vùng đất người Pháp chiếm được và lập nền cai trị đầu tiên ở Đông Dương, với tổ chức hành chính chia làm 19 tỉnh và duy nhất một„thành phố“ hoa lệ „Ville de Saigon“. Ngày 8 tháng 1 năm 1877, Tổng thống Pháp Mac Mahon ra „Sắc lệnh về tổ chức của Sài-Gòn“, nâng cấp Sài-Gòn lên thành công xã (Décret concernant l’organissation municipale de la Ville de Saigon, la Ville de Saigon est érigée en commune), cho phép Sài-Gòn được hưởng quy chế như các thành phố lớn ở bên Pháp. „Maire de Sàigòn“ thời ấy là Đốc lý Charles Marie Louis Turc. Đến 1888 Pháp chiếm toàn bộ Bắc kỳ, lập thêm 2 „thành phố“ lớn là Hà-Nội (maire là Đốc lý Trần Văn Lai) và Hải-Phòng (maire là Đốc lý Vũ Trọng Khánh).
Ngày 27 tháng 4 năm 1931, tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất hai thành phố Sài-Gòn và Chợ-Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là khu Sài-Gòn – Chợ-Lớn (région Saigon – Cholon). Cho đến 1945, chức vụ đứng đầu đơn vị hành chính Sài-Gòn (administrateur de la région) đều do người Pháp nắm giữ, gọi là chánh tham biện hay khu trưởng Sài-Gòn – Chợ-Lớn. Ngày 26 tháng 9 năm 1947 chức danh người đứng đầu chính quyền khu Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành đô-trưởng. Giai đoạn này Hà-Nội vẫn là thủ đô, tức là từ „đô trưởng Sài-Gòn“ không dính dáng gì đến từ „thủ đô“ cả như nhiều người diễn giải.
Đi ngược dòng lịch sử để tìm đáp số cho phương trình Diophantos là: Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến lúc bị chặt ngang khúc ba sườn chỉ có 3 „đô-thị“. Theo tự điển Khai trí Tiến-Đức „thị“ là chợ, nơi đô-hội có người ở đông đúc (thành thị). Thị xã là nơi đô-hội có tổ chức thành một cơ quan như một xã. Hà-Nội, Sài-Gòn đều là thị xã trước khi được „văn minh hóa“ thành đô-thị, để Nguyễn Bính phải ôm sầu „cái yếm lụa sồi“
Hôm qua em đi „tỉnh“ về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi Nào đâu cái áo tứ thân ? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ?
Riêng Sài-Gòn là thủ đô nước Việt-Nam-Cộng-Hòa nên còn được gọi là đô-thành (chỗ kinh thành nhà vua). Vì vậy nhiều khi bị nhầm lẫn cho rằng người giữ chức hành chính cao nhất Sài-Gòn được gọi là đô-trưởng vì Sài-Gòn là thủ đô. Thật ra đô trưởng là người đứng đầu hệ thống quản lý hành chính của một đô-thị. Nơi làm việc của chính quyền đô-thị gọi là tòa đô chánh (Rathaus, Hôtel de Ville, City Hall) nghe rất là văn chương, lịch sự, đầy vẻ uy nghi của một nước theo chính thể cộng hòa dân chủ.
Xã có nghĩa là đất, là sơn hà xã tắc, là chủ quyền nước non. Xã xưa là khu vực hành chính thuộc quyền lý trưởng (một xã ba thôn), nay đông dân lên thì thành thị xã (đất đã có chợ). Cần-Thơ, Cà-Mau, Vũng-Tàu với „Tour du lịch có xe ô-tô phục vụ theo chương trình, ca-nô cao tốc tham quan Đất Mũi, khách sạn tiêu chuẩn điều hòa máy nóng lạnh, Ti-Vi, thuyền đi chợ nổi Cái-Răng, khách sạn khu sinh thái biển“ thì không còn là 3 thôn với lý trưởng nữa mà phải „nâng cấp“ lên thành … Thị trưởng thị xã Cần-Thơ, Thị trưởng thị xã Cà-Mau, Thị trưởng thị xã Vũng-Tàu.
Còn Mönchengladbach với hơn 250.000 dân cư mà xướng „Kính chào Ông … Thị trưởng Reiners“ thì … buồn cho ổng quá !!! Hổng lẽ ổng phải về Cà-Mau, tối vỗ vỗ hai lòng bàn chân bạch bạch vào với nhau rồi chui vô mùng ngồi nghe muỗi vo ve sao ?
Nước Đức theo nền dân chủ lập hiến, có guồng máy hành chính chặt chẽ cho … 2060 tỉnh (Stadt), trong đó 79 là thành phố lớn (Großstadt) với trên 100.000 dân cư, 4 đại-đô-thị (Metropol) là Berlin, Hamburg, München, Köln với trên 1.000.000 dân cư. Dưới cấp tỉnh của Đức là 11.091 thị xã (Gemeinde), đảm nhiệm hành chính cho nhiều làng nhỏ. Nghe có vẻ lạ lẫm nhưng ở Đức cũng có làng (Dorf), chẳng hạn bà cô giáo dạy Pháp văn của tôi thời trung học sống ở làng Meinsen, thuộc thị xã Hülsede, chỉ vỏn vẹn hơn 1.000 dân cư, „đi dăm bước đã về … nhà bả“.
Năm 2017 là năm tái bầu cử Quốc hội Liên bang Đức nên hôm Tết có rất nhiều chính khách cỡ bự như thứ trưởng Bộ Nội Vụ, nghị sĩ, dân biểu, đảng trưởng các đảng lớn CDU, SPD v.v. đến tham dự, trước lấy lòng cử tri (dù người Việt ở Đức chỉ là thiểu số nhưng vẫn được coi trọng như thường), sau để xem múa lân, chào cờ. Bạn đừng cho là nói phét nhé, chính mắt tôi thấy các chính khách cất tiếng hát theo quốc ca Đức một cách hùng hồn, trang trọng, làm tôi cũng phải … hát theo.
Ông Hans Wilhelm Reiners, Đô-trưởng thành phố Mönchengladbach
Ông Reiners, Oberbürgermeister của Mönchengladbach, đương nhiên cũng là khách danh dự nên không thể để ổng vỗ vỗ hai lòng bàn chân bạch bạch vào với nhau rồi chui vô mùng ngồi nghe muỗi vo ve được vì ổng là …. ĐÔ-TRƯỞNG.
Đến đây là chấm dứt lời giới thiệu khách danh dự. Xin quý vị cho tràng pháo tay. Xin thành thật cám ơn quý vị.
Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi vừa mới tròn 18 tuổi. Cái tuổi tuyệt vời. Cái tuổi ai cũng từng mong, từng đợi, từng chờ. Cái tuổi được định nghĩa trong Điều §2, Luật Liên bang Đức, mà vào ngày 22.03.1974 được sửa đổi từ 21 xuống 18 tuổi. Có lẽ đó là một biện pháp tuyệt vọng của chính phủ để cứu vớt dân tộc Đức đang ngày càng già đi, vì đủ tuổi vị thành niên là được phép làm việc trên 40 tiếng một tuần, và được phép … nộp tiền vào quỹ hưu trí !
Buổi tối của ngày lịch sử ấy – ngày sinh nhật thứ 18 của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi – hai vợ chồng tôi không sao chợp mắt được. Cả hai đều cảm giác như có cái gì đó thật quý báu vừa tuột khỏi tầm tay mình. Một thành quả cuộc đời ? Hay tạm gọi nó là phương pháp EGN, Ép-Gò-Nắn Âu-Việt (xin chớ đọc nhầm là Ưu-Việt) như ông chồng đáng yêu nhất trên đời này của tôi vẫn hay nói đùa:
– Mình trồng gỗ Hoàng Đàn rồi em à !
Phương pháp này chả có gì gọi là bí quyết, bí mật gia truyền cả. Nó đơn giản chỉ có vài giai đoạn. Giai đoạn 1 – Ép
Lúc con còn bé ta phải lợi dụng uy thế cha mẹ, phát huy câu „Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế“. Những gì khi ta thuở bé ước mơ mà vì bất cứ lý do nào đó không thực hiện được thì ta „ÉP“ con ta phải học, phải làm. Ví dụ như học đánh dương cầm (ngày còn bé tôi bị ông ngoại bắt học đánh đàn tranh mặc dù tôi thèm được học đàn dương cầm như một số bạn khác cùng lớp), hay học một môn thể thao (mỗi lần đi bơi về bà ngoại tôi đều mắng „con gái con nứa đi bơi da đen như mọi mai mốt có ma nó lấy“), đứng hạng nhất lớp (điều mà bất cứ cha mẹ người Việt nào cũng mong đợi ở con mình), hay học bất cứ cái gì mà „bạn“, trong vai vế phụ mẫu, cho là hữu ích.
– Con phải thế này, con phải thế kia …
– Bởi vì bố mẹ muốn … Đừng chịu thua. Đừng nản chí. Không cần biết sẽ ép ra bánh dẻo nhân đậu xanh hay bánh nướng nhân thập cẩm hột vịt muối. Hãy cứ „ép“ líp ba ga. Lúc này cha mẹ là vua, là ông trời, là thượng đế.
Để rồi đến … Giai đoạn 2 – Gò Bước vào tuổi dậy thì, tuổi „tí nị“ (teenager), tuổi „chướng“, đứa trẻ sẽ sớm nhận ra rằng trên trời không chỉ có thượng đế mà còn
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Từ thời điểm này chẳng những sức khỏe ta đã bắt đầu suy yếu mà uy quyền của ta cũng èo uột dần. Phụ huynh nào trước đây chịu khó siêng năng trong giai đoạn 1, bây giờ có thể yên tâm chuyển từ thế đứng … ép nước mía qua thế ngồi … gò chắn. Kiên trì, nhẫn nại, rình mò như đang đánh chắn vậy. „Bỏ xuông gò cước có ngày ù to“. May mắn thay, ngồi dù sao cũng đỡ mỏi cẳng hơn đứng. Và cũng đừng mong bánh nướng hột vịt muối sẽ tròn trĩnh như bánh cam bọc đường. Những gì ta ép ở đầu này sẽ thòi ra như thế ở đầu kia, chỉ khác là nó sẽ tiếp tục phát triển. Lúc này bạn sẽ gặt hái cái nhìn ganh tị của những bạn hàng cùng bán nước mía trước kia đã ung dung đóng cửa xe đi ngủ giải lao trong khi bạn còng lưng ép mía giữa cái nắng gay gắt trưa hè.
Quan trọng không ít là đừng chỉ chú tâm gò những ưu điểm, tài năng, vì con người không ai toàn vẹn và tính xấu thì không bao giờ biến mất hoàn toàn cả. Nếu mía không ngọt thì ta vắt thêm tí nước quất, nước cam, nước chanh vào. Chẳng hạn „con có bừa cũng ráng thu dọn phòng vì mai bác Tư dẫn thằng Tèo đến chơi đấy !“. Hay nếu con bạn cứ cả ngày cắm đầu cắm cổ vào máy tính thì mua cho nó quyển sách về HTML dạy cách thiết kế trang web, biết đâu sau này có lúc cần đến.
Giai đoạn 3 – Thương lượng
Càng lớn, con cái càng tự tin tự đại hơn và càng không nghe lời khuyên của cha mẹ. Đến lúc ta phải đổi từ nghề chân tay ép nước mía, gò cước chắn, sang xử dụng ba tấc lưỡi. Nhưng không mặc cả như mấy bà bán cá ở chợ An Đông đâu nhé, mà phải biết thuyết phục điêu luyện như Khổng Minh Gia Cát Lượng.
Ví dụ khi muốn mua không mặc cả kiểu „chiếc xe này quá tồi ai mà mua với giá 1000€, tôi trả 900€ là may lắm rồi đấy !“. Warren Buffett, nhà đầu tư thành công nhất thế giới, sẽ thuyết phục như sau: „Tôi nghĩ rằng công ty của anh có rất nhiều ý tưởng mới lạ và rất mong muốn sát nhập vào tập đoàn của chúng tôi. Nhưng công ty cũng cần được hiện đại hóa, thay đổi cách tổ chức nên sẽ tốn kém, anh xem lại có bớt giá bán chút đỉnh được không ?“
Ví dụ cụ thể trong trường hợp đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi: „Bố mẹ rất vui khi con muốn lấy bằng Master. Bố mẹ cũng nghĩ rằng con học ra trường càng sớm càng tốt vì bố mẹ thấy nhiều người học Bachelor xong, đi làm, sau đó mất đà không học tiếp lấy bằng Master được con ạ !“
Giai đoạn 4 – Chưa trải qua
Vì đứa con gái đáng yên nhất trên đời này của tôi chưa chấm dứt giai đoạn 3 nên tạm thời tôi „bỏ ngỏ“ giai đoạn 4. Nhưng các bạn đừng tưởng bở, hai đứa chúng tôi không bao giờ ngừng vun gỗ Hoàng Đàn đâu nhé !
Say goodbye to fighting about your allowance with your parents on your eighteenth birthday. That’s because you won’t get any.