Bảo-cựu nghênh-tân

Chỉ còn vài ngày nữa là năm hết, Tết đến, nhìn đâu cũng thấy thiên hạ chuẩn bị đón mừng năm mới, “tống-cựu, nghênh-tân“, tiễn cái cũ đi, đón cái mới đến. Đám bạn mê truyện chưởng của tôi „ăn-tô-ny“ lên (từ này hay được dùng trước 1975 ở Sài-Gòn, có nghĩa là diện quần áo đẹp), áo ngắn, áo dài, chụp hình từng đôi, từng cặp, rồi tự chú thích đây là „Trương Vô Kỵ – Triệu Minh“, kia tựa „Dương Qua – Tiểu Long Nữ“, đó giống „Đoàn Dự – Vương Ngọc Yến“. Rồi tranh cãi „Qua hay Quá“, „Minh hay Mẫn“, „Yên hay Yến“ ?

Tôi vốn mê truyện chưởng của Kim-Dung từ thời xa xửa xa xưa, đọc quên ăn quên ngủ, quên cả học bài. Trong trí óc non trẻ của tôi ngày ấy, thế giới kiếm hiệp với những nhân vật võ công cao cường, phi thân vèo vèo, thi triển kiếm pháp trong rừng trúc thật là diệu kỳ mê hoặc.
Trước 1975, Hàn-Giang-Nhạn hầu như là người dịch truyện võ hiệp nhiều nhất và hay nhất vì ông thông thạo cả chữ Hán lẫn quốc ngữ. Các nhân vật trong truyện dịch của ông mang những tên Hán-Việt đặc sắc, không chỉ vương vấn chút khẩu âm Trung-Hoa mà còn được chuyển nghĩa sang tiếng Việt thật tài tình. Chẳng hạn như Vương-Ngọc-Yến, nhiều bản dịch sau này gọi cô là Vương-Ngữ-Yên 王語嫣 (Wángyǔyān). Thật ra „Ngữ-Yên“ hay „Ngọc-Yến“ nếu xét về tên thì dịch sao cũng được, như “Debbie” đến lúc ăn mắm ruốc thành Diệp, Điệp, Đẹp gì cũng ô-kê-tuýt-suỵt tất.
Còn nếu xét về nghĩa thì Ngữ (語) là từ, là nói, Yến (嫣) là đẹp (trong chữ „Yến“ có chữ „Nữ“ là người đàn bà), Hàn-Giang-Nhạn đã cố gắng dịch từ tên tiếng Hán ra tên tiếng Việt „Vương-Ngọc-Yến“ với khẩu âm na ná mà vẫn đủ súc tích để miêu tả người con gái thông minh, xinh đẹp, ăn nói thanh lịch, dịu dàng nhất trong Thiên long bát bộ.
Hay trong bộ võ hiệp kỳ tình Trung-Hoa „Tiếu ngạo giang hồ“ được Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật từ Minh báo của Hồng-Kông. Ở phiên bản này, giáo phái do Đông-Phương Bất-Bại tiếm quyền giáo chủ mang tên „Triêu-Dương Thần Giáo“ (朝陽神教). Triêu dương có nghĩa là „mặt trời vào
buổi sáng sớm“. Từ sáng sớm đến lúc ăn sáng xong gọi là „chung triêu“ (終朝), một ngày gọi là „nhất triêu“ (一朝), „nhất triêu nhất tịch“ là „một sớm một chiều“, nghĩa bóng ám chỉ khoản thời gian ngắn ngủi.
Có giả thuyết cho là truyện chưởng Kim-Dung phản ảnh thời kỳ cách mạng văn hóa của Mao-Trạch-Đông với quyển „Hồng bảo thư“ là một thứ „Quỳ Hoa Bảo Điển“, bí kíp ai cũng muốn có được để trở thành cao thủ võ lâm. Ma giáo trong phiên bản đầu của bộ truyện này còn được gọi là „Triêu Dương Thần Giáo“, ám chỉ đảng cộng sản Trung-Hoa bởi quốc thiều của họ mang tên „Đông-Phương-Hồng“, ý nói hùng mạnh như ánh sáng ban mai lên từ phía đông. Giáo chủ Triêu-Dương Thần Giáo
Đông-Phương Bất-Bại không thuộc chính giáo vì dám „tự cung“ (tự thiến) để luyện được võ công thượng thừa với ý đồ làm bá chủ võ lâm. Nên hiểu rằng đối với người Trung-Hoa, con trai mà tuyệt tự là mắc tội to nhất đối với dòng họ tổ tiên, vì vậy hành động „tự cung“ biểu hiện một việc làm vô cùng thất đức, đi ngược lại với luân thường đạo lý con người, như một so sánh với hành vi bạo tàn của cách mạng văn hóa, thời kỳ lịch sử đen tối đầy thống khổ của người dân Trung-Quốc.

Đông-Phương Bất-Bại

Tiếu ngạo giang hồ ra đời khoảng thập niên 60, lúc đầu bị cấm, sau Kim-Dung thay một số từ ngữ, chi tiết, nên được cho phép lưu hành trở lại, trong đó có đổi „Triêu-Dương“ thành „Nhật Nguyệt“. Thật ra tiếng Hán là ghép bộ thành từ, trong chữ „Triêu“ 朝 thì bên trái là hình tượng (pictograph) mặt trời mọc, nhìn từ phía trước của một thân cây, bên phải là hình tượng trăng khuyết (moon-shaped), ghép lại ý nói thời gian mà mặt trăng lặn, mặt trời mọc, tức là lúc bình minh.
„Nhật Nguyệt Thần Giáo“, suy cho cùng, nếu cho là ám chỉ Minh giáo 明教 thì cũng không hoàn toàn đúng (Kim-Dung không hề đề cập đến liên quan này khi đổi tên giáo phái Triêu-Dương), vì trong chữ „minh“ (明) thì mặt trời là „nhật“ (bên trái) nhỏ hơn „nguyệt“ là mặt trăng bên phải. Chữ „minh“ 明 có nghĩa là „sáng“ như „phát minh“, như „minh tinh“, chứ bản thân mặt trời là đã là một tinh cầu chói lọi nhất trong vũ trụ rồi, đâu cần phải dùng một hình tượng khác để diễn tả sự tỏa sáng siêu cường nữa.
Có lẽ Kim-Dung đã bỏ phần chiết tự bên phải của chữ „Triêu“ nên chỉ còn chữ „Nguyệt“ đứng lẻ loi một mình, rồi thêm chữ „Nhật“ thành „Nhật Nguyệt Thần Giáo“, trở về với nguồn gốc Ma giáo „Mâu-Ni“, một tôn giáo cổ xuất xứ từ Ba-Tư (Iran), do Mani sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ 3, truyền bá tư tưởng „Nhị tông, tam tế“. „Nhị tông“ là hai thái cực sáng và tối (nhật, nguyệt), thiện và ác. „Tam tế” là sơ tế, trung tế và hậu tế, tương ứng với quá khứ, hiện tại và tương lai.

Tiếu ngạo giang hồ, Hàn-Giang-Nhạn dịch thuật

Tôi vốn là người tương đối „cởi mở“, một phần do nghề nghiệp đòi hỏi lúc nào cũng phải trong tư thế „tống-cựu nghênh-tân“, chưa kịp quen với hệ điều hành (operation system) mới đã phải thông thạo hệ … mới hơn.
Nhưng …
Tôi xin trích „Lời nhắn nhủ“ của thầy Lynch, ông thầy dạy Anh văn của đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi gởi đến học trò trong ngày lễ tốt nghiệp:

Ai khi đọc thơ cũng phải suy nghĩ. Mỗi thời kỳ đều có thời trang riêng của nó, có những kiến thức „bất di bất dịch“ của nó, và để hiểu được những điều này chúng ta cần có một khoảng cách với nó. Thầy cho các em một thí dụ điển hình như vầy nhé: Trong cuộc sống nghề nhiệp sau này của các em, các em sẽ thường gặp những chữ „nghe rất kêu“ như „có năng lực“, „sự đánh giá“, „tối ưu hoá“ hay „ban quản lý“. Những từ ngữ này lại rất ít thấy xuất hiện trong làng thơ – Và đến một trăm năm sau, khi mà những từ ngữ ấy đã tìm được đúng chỗ đứng của nó trong sọt rác của lịch sử thì những từ ngữ đơn giản của Homer, Horaz, Shakespeare hay của Brecht sẽ mãi mãi vẫn được những người muốn hiểu về thế giới và lịch sử loài người tiếp tục đọc.
Chúng ta không thể thu thập hay để dành một bài thơ cũng như tất cả những gì có giá trị trong cuộc đời này. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ nó và chia sẻ nó với người khác. Đặc biệt là: Nếu ai đọc một bài thơ họ sẽ tự tìm cho mình được thời gian, tìm được yên tĩnh trong tâm hồn và thoát được sức ép của cuộc sống ngày càng xoay cuốn họ đi – Có thể nói là họ đã làm được một cuộc cách mạng.
Các em không nhất thiết lúc nào cũng phải đọc thơ cả – Nhưng các em hãy ráng dành thì giờ cho chính mình, hãy biết suy nghĩ, và hưởng thụ cuộc sống !

Lưu-Diệc-Phi, nữ minh tinh thủ vai cổ trang Vương-Ngọc-Yến

Năm hết, Tết đến, tôi xin chúc độc giả mê cũng như không mê Kim-Dung một năm mới

Khí công vô biên
Võ thuật thiên biến
Phương tư Ngọc-Yến[1]
Giai lão bách niên.

[1] dáng dấp xinh đẹp như Vương-Ngọc-Yến

Mận, Xoài, Cóc, Ổi

Năm 2014, trong bài Lạm bàn về ý nghĩa lời bài „Sarborough Fair” và “Scarborough Fair/Canticle“ thằng bạn tôi phân tích tận tường ý nghĩa của bài cổ ca này.
Năm 2016, nó lại lần nữa nhắc đến bài này khi nói về phiên bản „Giàn thiên lý đã xa“ của Phạm Duy.
Năm nay, 2018, một độc giả đi lang thang lại gặp bài nó viết năm 2014 và hỏi ý kiến nó nghĩ sao về phiên bản của Nox Arcana.
Đã trót thì phải trét. Tôi mạn phép đăng tiếp lời bình của nó về bài cổ ca bất hủ này.

***

Có rất nhiều phiên bản Scarborough Fair, và cũng có nhiều bài mang tên hơi khác 1 chút như Southhampton Fair, Nottingham Fair … nhưng tất cả các bài đều có 1 điểm giống nhau, là điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme, ngay cả phiên bản của Paul Simon & Garfunkel scarborough Fair-Canticle cũng không dám bỏ điệp ngữ này. Tại sao ?

1/ Tất cả các bài đều giống nhau ở chỗ nhắn nhủ người bạn chiến binh trở về quê hương, còn mình thì ở lại chiến trường (tử trận). Bốn thứ thực vật này là biểu tượng của quê hương của họ. hình ảnh 4 thứ cây cỏ này chính là hình ảnh quê hương trong trí nhớ của người lính tử trận.

2/ Bốn thứ cây này như giống đã viết trong bài Scarborough Fair thứ nhất, là 4 thứ thực vật gắn liền với đời sống, văn hóa, và tín ngưỡng tâm linh của dân Anh cổ xưa, tức là Britons (England, Ireland, Scotland, Wales, Britany), từ lúc sinh ra cho đến lúc vĩnh biệt cõi đời, dùng làm thực phẩm, gia vị, làm thuốc, làm bùa ngãi, bùa hộ thân, trang điểm trên đầu trong các lễ quan trọng như Rước Lễ Lần Đầu (First Communion), Lễ Thêm Sức (Confirmation), Lễ Hỏi (Engagement), Lễ Cưới (Wedding) Lễ tẩy uế nhà cửa (Cleansing) và ướp theo xác chết để linh hồn được sự thánh thiện che chở (Funeral). Nói vắn tắt 4 thứ cây cỏ này đi theo họ suốt cuộc đời.3/ Bốn thứ cây này có nguồn gốc từ Ý (parsley), Địa Trung Hải (sage), Iberia, Trung Á (rosemary) và Cổ Ai Cập-Hy Lạp (thyme). Bốn thứ này còn được coi là linh thảo (sacred herb) đối với tín ngưỡng Egypt, Romans và Greek. Từ những nơi khác nhau nhưng đều được trồng ở quê hương mới, quê hương của dân Britons. Mà dân Britons thì cũng có gốc gác khác nhau di dân đến, như Anglo-Saxon đến từ Đức, Scandinavian đến từ Na Uy, Afros- Romans đến từ dân Roman da đen , Sub-Saharan African (dân Trung Phi) họ đến khu đảo quốc này từ sau công nguyên khoảng 200-300 năm. Bốn thứ cây này ám chỉ sự khác biệt chủng tộc nhưng đều là đồng loại, tại sao lại gây chiến tranh với nhau ?

4/ Scarborough Fair là một lễ hội thanh bình, một phiên chợ quốc gia nơi người ta tụ về trao đổi hàng hóa, vui chơi, gặp gỡ và hẹn hò. Trong bài hát ngoài 4 thứ hương thảo được bày bán trong lễ hội, còn có hình ảnh quê mùa mộc mạc như cái giếng, áo Cambric, bụi gai, lưỡi liềm hái, hạt tiêu, bờ tường, mảnh đất canh tác, bãi cát, đại dương, những hình ảnh nói lên một cuộc sống đơn giản, thanh bình mà người dân quê cũng chỉ ước mơ có ngần ấy. Cái sâu sắc độc đáo của bài này là nói về chiến tranh nhưng không hề nhắc tới súng đạn hay cảnh đổ máu, mà chỉ ẩn dụ mơ ước thanh bình qua các hình ảnh bình dị trong cuộc sống hằng ngày của họ.

5/ Ở Scarborough Fair, người ta thấy bài cổ ca, hay nói đúng hơn, thiên tình ca thời loạn, chuyện tình của một đôi trai gái có kết thúc buồn nhẹ nhàng, lời bài hát ẩn dụ kín đáo, trong khi ở Scarbough Fair-Canticle của Paul Simon-Garfunkel, hình ảnh chiến tranh giữa các xứ được mô tả khốc liệt và bi tráng hơn. Hai ông không thể dẹp bỏ lời bài gốc củng với 4 thứ hương thảo, vì chúng chính là quê hương của hai ông.
Và rồi để chấm dứt bài hát, hai ông thêm vào hoa heather (thạch thảo) hoa thanh bình cũng là hoa vĩnh biệt trên mộ người lính.

Lương Châu Từ, bài thơ của Vương Hàn cũng là một tuyệt tác văn chương về chiến tranh, nhưng nếu đem so sánh với Scarborough-Canticle của Simon and Garfunkel, bài Scarborough Fair-Canticle hay hơn gấp bội.

Tóm lại, một bài Scarborough Fair mà không hề nhắc tới 4 thứ cây cỏ này thì không thể nào gọi nó là bài Scarborough Fair. Nhiều người đặt lời khác trên nền nhạc bài cổ ca này, nhưng họ không nắm vững vấn đề then chốt ở 4 cây hương thảo.
Thiếu điệp ngữ Parsley, Sage, Rosemary and Thyme thì bài hát đâu còn giá trị gì nữa. Sau khi cắt nghĩa bài Scarborough Fair từng lời từng chữ mang ý nghĩa sâu sắc như thế nào, Canticle mang ý nghĩa như thế nào, sẽ thấy trên thế giới chẳng có bài nào sánh ngang bằng bài Scarborough Fair-Canticle.
Lê Anh Dũng – Tháng Hai 2018

***

Nếu ai có hỏi 4 thứ thực vật đi theo suốt cuộc đời, mang hình ảnh quê hương trong trí nhớ của tôi là gì, thì tôi xin trả lời: Mận, Xoài, Cóc, Ổi.

Vị-Trân

Tôi vốn yêu … đủ thứ ngôn ngữ, không chỉ riêng tiếng Việt hỏi ngã lộn tùng phèo.
Với tôi, tiếng Việt là „bầu trời thơ ấu“ vì đến

Tuổi nào em bắt đầu yêu
Ngồi bên song cửa chiều chiều ngắm mây
Tuổi nào em hết thơ ngây
Đêm đêm cắn bút chau mày làm thơ

(Tác giả: L)

thì tôi toàn xài … tiếng Đức.

Tôi cũng yêu tiếng Hán-Việt, đơn giản vì nó là một phần của cái tiếng Hỏi-Ngã-Lộn-Tùng-Phèo, là „bầu trời thơ ấu“ của tôi.
Đi lòng vòng chẳng qua muốn nói về một từ Hán-Việt mà có lẽ ít ai còn nhớ: Vị-Trân.
Xin trích đoạn thằng bạn đăng trên „Phây-Bút“ của nó, chưa xin phép vì nó còn ngủ mà tôi thì … chuẩn bị đi ngủ, chờ nó ô-kê chắc tôi cũng không còn nhớ Vị-Trân là ai, em từ đâu tới, đã mấy xuân xanh ?
Dọn nhà là một việc làm rất mất thì giờ. Riêng đối với mình thì sẽ mất gấp đôi thì giờ, vì mỗi lần thấy lại một quyển sách cũ hay một tấm hình xưa là mình lại … thẫn thờ suy nghĩ. Dưới đây là hình hai quyển sách cũ tiêu biểu mà mình giữ được đến giờ.
Một quyển bài tập Toán, soạn bởi các giáo sư Toán Cù An Hưng và Phạm Hạnh Thái, trong thập niên 80, dân ban C gọi quyển sách này là sách … Vàng. Vi bìa nó màu vàng, và cũng đồng thời là một cách chơi chữ, gợi nhớ lại loài sách Vàng là sách phóng tác truyện bằng trang của Pháp cuối thập niên 70.

Hai là một quyển sách dạy nấu ăn. Bà cụ mình gửi qua cho con trai xa xứ, để tập nấu ăn. Quyển sách này được soạn vào những năm 30, 40 của thế kỷ trước, nên dùng từ rất xưa, mình đọc nhiều khi không hiểu gì hết. Ví dụ như bột ngọt, người ta gọi là bột Vị-Trân. Quyển sách này xưa ở nhà mình bên Việt Nam được cất trên đầu garde manger nên nó ám khói, ám mỡ nhìn rất giang hồ, dạn dày sương gió. Bây giờ thuộc loại sách cổ, mỗi lần lật ra đọc lại cứ sợ rách …
Bột „Vị-Trân“ là tiếng Hán-Việt, chuyển ngữ từ chữ 味精.
Theo Bính âm (Pinyin) là „wèijīng„. Lỗ tai „Giao-Chỉ“ của tôi nghe nó mài mại như … „mì chính“.

Vâng, đúng vậy, bột „Vị-Trân“ chính là bột ngọt mà sau 1975 trở thành bột „mì chính“.
Chữ 味 là mùi, là „vị“. Năm vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn là năm mùi, là ngũ vị (五味). Nếu thơm thì thành … Ngũ-Vị-Hương (五味香). Không có mùi thơm nhưng lấy từ phương pháp tách chiết rong biển của nhà hóa học Nhật bản Ikeda Kikunae thì cũng là loại trân quý rồi, nên trước kia nó mang một cái tên Hán-Việt rất có ý nghĩa là … „Vị-Trân“, thay vì chỉ đơn giản dịch trơn tuồn tuột theo khẩu âm là … „mì chính“, khi mà chữ „mì“ trong tiếng Việt thật ra là một loại thức ăn làm từ bột, có hình dài dài như sợi dây.

Từ khi nào „Vị-Trân“ thành „bột ngọt“ thì không rõ. Có lẽ do năm 1954 nhiều người Bắc di cư vào Nam, họ phát âm vần „trờ“ như „chờ“, ít nhiều gây ngộ nhận, hiểu lầm, nên „bột ngọt“ ra đời, ám chỉ loại gia vị có màu trắng giống như bột gạo và có công dụng làm cho thức ăn có vị ngọt thịt.

Ai nói tiếng Việt trước 75 không „thuần Việt“ ?
Bột ngọt và mì chính, ai „thuần“ hơn ai ?