Sắc thuốc cho bay trắng cả đầu

Đa số người Việt sống lưu vong ở nước ngoài như … tôi thường ôm ấp hoài bão „bảo tồn văn hóa“ dù chẳng biết thế hệ con, cháu nội ngoại, chắt chút chít chũm chĩm với những cái tên lạ lẫm như Otto, Friedrich, Jutta, Anja v.v. chúng nó còn nói tiếng Việt, biết phong tục tập quán Việt-Nam hay không nữa ?

Hôm nọ sang thăm thằng bạn học cũ, tá túc trong phòng làm việc của nó với một tủ sách to đùng, tối ngủ chỉ sợ đổ ập đè vào người. Lạ giường, tẩn mẩn bên kệ sách thấy có quyển „Tôi tập viết tiếng Việt“ của ông Nguyễn Hiến Lê. Tôi gọi „ông“ có nghĩa là gọi theo vai vế chứ không phải „ông“ là đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba kiểu „lịch sự“, vì ông là bạn của ông ngoại, cùng học trường Bưởi, thường đến nhà chơi mạt chược với ngoại. Tôi nhớ ông có dáng gầy gầy, da ngăm, lưng hơi khom và có khuôn mặt xương xương giống ngoại. Hình như mấy ông bạn của ngoại ai nhìn cũng mài mại giống ngoại hết chơn hết chọi, có lẽ do cùng xuất thân từ miền quê hương đất bắc mà trong trí óc non nớt của tôi ngày ấy nó xa lắc xa lơ tôi không thể nào tưởng tượng ra nổi.
Trong quyển này ông phân tích những sai lầm khi hành văn tiếng Việt mà ngay cả nhiều nhà văn nổi tiếng cũng mắc phải. Ông viết rất dễ hiểu, không sáo ngữ, khiêm tốn mà thuyết phục, thật không hổ danh (trích Wiki) „là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế …“.
Ông Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912, tức là thế hệ … 1x, 2x, tuy học chương trình tây nhưng cũng rất giỏi quốc ngữ. Thế hệ 3x, 4x như mẹ tôi thì học tiếng Việt là quốc văn, còn tiếng Tây, tiếng Hán chuyển sang môn sinh ngữ. Thơ văn kim cổ mẹ tôi phải thuộc nằm lòng nên lâu lâu dạy cháu ngoại lại xổ một câu ngạn ngữ à la Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý“, mặc nó có hiểu hay không, hoặc sau đó nghe nó kết luận một câu xanh lè, trống không: „Bên Đức khác mà bà !!!“.
Thế hệ 5x, 6x như tôi coi như … lỡ một mùa xuân rồi vì đã thành „ba rọi“. Tiếng tây tiếng u thì vừa đủ để kiếm cơm, tiếng Việt thì vừa đủ để … mắng con. Phát âm tiếng Đức thì con nó cười sặc sụa „Con kêu thằng Dô-Dép (Josef) bỏ dép trước khi dô nhà đi con“. Nói tiếng Việt kêu con nó „bắc nồi cơm“ thì nó hỏi ngược lại „nồi cơm bị tội gì mà bắt hả mẹ“. Chỉ biết đau khổ cười ruồi.
Ông Nguyễn Hiến Lê cũng kể lại trong quyển „Tôi tập viết tiếng Việt“ một câu chuyện phát âm nam bắc không rõ ràng:
Sắc thuốc cho bay trắng cả đầu
từ câu
Sắc thuốc „tro“ bay trắng cả đầu
đang mang một ý tượng hình tượng cảnh tro bay bạc đầu chứ tóc vẫn còn „xanh“ lắm ai dè đâm ra thành câu ta thán phải chăm lo thuốc thang cho tụi bay mệt quá hè !!!

Tôi rất thích những lối đùa cợt dùng chữ, nói lên sự pha trộn giữa hai ngôn ngữ như tiếng Anh và tiếng Đức đẻ ra Denglisch, tức là người Đức cứ dịch huỵch toẹt từng chữ theo kiểu „Nghĩ-Răng-Mần-Rứa“, ai hiểu mặc bay:

No one can reach me the water = Niemand kann mir das Wasser reichen

Câu tiếng Đức có nghĩa là „Nhìn xuống không ai bằng ta mà nhìn lên thì thấy … ta với mình bơ vơ“. Thông cảm, người Đức họ được huấn luyện từ bé phải có lòng tự tin tuyệt đối thì đỡ được khoản phải học môn Khổng-Nho kính lão đắc thọ, kính cận đắc … ý.

Hôm nọ qua Mẽo học thêm được tiếng … Vienglish. Đứa con gái đáng yêu nhất trên đời này của tôi – với bằng cấp Việt-Ngữ được bà ngoại xếp hạng „nhân bất học“ – mà còn phải phì cười:
– You think you delicious ? (Mày nghĩ mày ngon hả ?)
Hổng lẽ kêu nó trả lời:
– Sugar me me go, sugar you you go …
thì các bác lại cho là cháu nó láo quá !!!

Nghệ thuật lập kế hoạch

Tiếng Đức

Người chồng tuyệt vời nhất thiên hạ“ – Độc thoại

Sáng nay ngồi ăn điểm tâm, đọc tờ báo làng, chợt một bài đập vào mắt tôi: Phép xã giao dành cho người Hòa-Lan, hướng dẫn dân „Miệt-Thấp“ (Netherland) cách thức giao tiếp với người Đức. Bài báo liệt kê một số đặc thù của họ, trong đó có cá tính „Thích-Lập-Kế-Hoạch“. Tôi không biết cái nhìn của „người ngoài“ tức là „không phải người Đức“ thì sao, nhưng trong bối cảnh của bài viết này, tôi nghĩ tác giả cho đó là một đặc điểm không lấy gì làm hay lắm.
„Lập kế hoạch“ là gì, tại sao người Đức cần nó và vì vậy bị đóng mộc mang cá tính này ?
Tôi không biết. Riêng về phần tôi, điều nó có nghĩa là nếu tôi có nhiều việc phải làm, tôi luôn xem xét để sắp xếp thứ tự những việc cần được giải quyết, vì cái làm tôi bực mình nhất là khi có khoảng „thời gian chết“ từ 5 đến 20 phút ở đâu đó mà tôi không biết làm gì cho ra hồn bởi nó quá ngắn. Thật ra thì cũng chả sao cả, nhưng tôi cần chuẩn bị tinh thần để khỏi bị hụt hẫng.
Có thể nói khả năng „lập kế hoạch“ của tôi không đến nỗi tồi nếu tôi được toàn quyền tự sắp xếp công việc của mình. Khổ nỗi khi mà người khác dính vào thì chắc chắn sẽ có vấn đề ngay vì trong trường hợp này thêm một yếu tố bất ngờ nữa: Người khác. Kết quả tệ hại nhất có thể xảy ra là đi đến cãi nhau ỏm tỏi. Vì sao ?
Tôi muốn hoàn thành kế hoạch lập ra nh
ư đã dự tính trước đó. Bằng không, tôi cảm thấy không hài lòng với chính mình và điều này thường gây ra trạng thái bất an, đưa đến tỏ ra cau có khó ưa. Người ngoài thì lại cảm nhận sự bực bội ấy như là một biểu lộ của cứng đầu, giận cá chém thớt một cách vô cớ.
Nói cho cùng, tôi có nhiều việc phải làm nên trong lòng cảm thấy lo lắng, e rằng mình không giải quyết hết mọi việc theo như kế hoạch dự định. Thế thôi.

todoPhoto: Courtney Dirks

Nửa phần kia của „Người chồng tuyệt vời nhất thiên hạ“ – Độc thoại

Giải thích duy nhất cho mối âu lo của „người chồng tuyệt vời nhất thiên hạ“ rất đơn giản: Người Việt dễ thương, không thích gò bó ! Không có nghĩa là họ sống vô tổ chức không có kế hoạch mà „danh sách những việc cần làm“ trong ngày của họ tương đối thoáng mát, dễ quản lý hơn, dễ thực hiện hơn, gồm có những chi tiết sau :
1. Ngủ dậy
2. Uống cà phê
3. Những việc còn lại
(xin xem hình ở dưới).

todo2

Mộng Cầm

Thời nay có cái Facebook cũng khá lợi hại đúng như nghĩa Lợi-Và-Hại.
Cái-Lợi
Một người bạn có giấy tờ quan trọng cần gởi gấp bản chính về Việt-Nam. Đường bưu điện nhanh cũng phải vài ngày, ngộ nhỡ thất lạc thì chết, lấy đâu ra mà trích lục khai sinh lần nữa đây ?
Lên Facebook ca cẩm „Ai ra xứ Huế ?“.
Chỉ trong vòng vài tiếng, thân nhân hớn hở gọi điện thoại sang „Họ bảo không cần tờ giấy này nữa rồi em ạ !
Ở bên Đức ít ai đem cái dở, cái xấu ra phơi (không phải „phây“ mặc dù trên „phây“ cũng không thấy ai đem cái dở cái xấu ra phơi cả). Khen là chính. Không chê, chỉ … phê bình với tính cách xây dựng để có thể làm tốt hơn. Người „bị“ phê bình sẽ biết phải sửa sai ở đâu, khỏi mất công tối về đem hình thằng kia ra quẹt diêm lên đốt cho bõ ghét, lỡ cháy nhà nói sao xui.
Vì vậy tôi xin miễn gọi là „Cái-Hại“ mà mạn phép kêu là „Đa-Dạng“.
Cái-Đa-Dạng
Ậy, chả là tôi lên Facebook nhờ dịch dùm chữ „Dreamcatcher“ sang tiếng Việt.
Dreamcatcher là một loại bùa hộ mệnh của người da đỏ, có một cái lưới nhìn như mạng nhện được đan trong một cái vòng, bên ngoài treo lủng lẳng thêm vài sợi lông vũ và hạt cườm. Các bà mẹ thường treo ở đầu giường con mình để gạn lọc tất cả giấc mơ xấu, chỉ cho phép mộng đẹp chui lọt lưới đi vào giấc ngủ trẻ thơ.
Theo truyền thuyết
Xưa thật là xưa
Nhớ mấy cho vừa
Nhớ chuyện kể đêm mưa …
(Hoa trinh nữ – Trần Thiện Thanh)
… rằng nhiều nhiều mùa trăng trước, Spider Woman Asibikaashi đêm đêm ngồi thu lu ở đầu giường trẻ con để chúng biết thân biết phận, nằm yên mà ngủ, không hó hé đòi uống sữa hay phải hát ru
Ầu ơ, dí dầu cầu ván đóng đinh
Ván đi đàng ván …ầu ơ
Con rớt ình xuống ao
Thế là giật mình cái thót thức dậy khóc oe óe không cho ai ngủ cả.
Khi nào Spider Woman hết hứng trông trẻ sẽ thổi mặt trời bay trở lại bầu trời, đốt cháy hết mọi giấc mơ kind dị như té xuống ao cá tra kia đi. Nhưng khi bộ tộc Ojibwe lan rộng đến tận cùng thế giới, bà bắt đầu cảm thấy khó khăn để thực hiện cuộc hành trình „Vươn-Tới-Thái-Dương“ đốt cầu cá tra cho tất cả người dân của mình. Bà bèn mở khóa huấn luyện cấp tốc, dạy các bà mẹ dệt lưới nhiệm mầu. Dụng cụ là những nhánh cây liễu kết thành vòng, vặt ngay trong rừng, khỏi mất công ra chợ chi cho xa xôi mất thì giờ. Vòng tròn là biểu tượng của mặt trời, chiếc lưới bên trong kết nối với vòng qua tám điểm tượng trưng cho tám chân dài thướt tha của Spider Woman, đồng thời chia diện tích vòng thành bảy vùng tượng trưng cho bảy lời tiên tri về số phận dân cư sống trên Quy-Đảo (Turtle Island, Mỹ châu ngày nay). Giữa vòng tròn gắn một chiếc lông vũ bay bay tượng trưng cho hơi thở của trẻ thơ. Quá thông minh.

Thành thử ra khi tôi kêu cứu bạn bè Facebook dịch dùm từ „Dreamcatcher“, bản dịch trở nên vô cùng „Đa-Dạng“. Để các bạn không bị rối tri, tôi xin mạn phép phân loại các dạng như sau:
Dạng Ngư-Phủ
– Lưới Giấc Mơ
– Lưới Bắt Mơ
– Lưới Dệt Mơ
– Lưới Giữ Giấc Mơ
– Lưới Mơ
– Châu Vũ La (lưới lông chim và châu ngọc)
Dạng Bùa-Ngãi
– Bùa Mơ
– Bùa Dệt Mộng
– Bùa Ngủ Ngon
– Miên Phù, La Miên Phù, Hảo Miên Phù (phù = bùa)
Dạng Thiên-Thư-Đưa-Em-Vào-Động-Hoa-Vàng
– Ru Em Vào Mộng
– Lưới Cản Ác Mộng
– Lưới Mộng
– Hảo Mộng La
– Cầm Mộng La (lưới giữ lấy giấc mộng đẹp)
– Trảo Mộng Phù (bùa nắm bắt giấc mộng)
– Miên Du (giấc mơ lang thang, xin chớ nhầm với Mộng Du là … tối ngủ đi nhầm phòng)
Dạng Nữ-Trang
– Vòng Mơ
– Vòng Mộng Mơ
– Vòng Tìm Giấc Mơ
– Cầm mộng quyến (vòng giữ mộng đẹp)
– Tầm mộng quyến (vòng tìm mộng đẹp)
– Vòng xoắn (đề xướng này từ tranh luận „Vòng nào cũng là vòng“ nên tôi tạm xếp vào khu vực kim loại quý)
Dạng Sơ-Ý-Là-Chỉ-Có-Chết
– Thùng Chụp Mơ
– Bẫy Mơ
– Bẫy Chiêm Bao
– Bẫy Gái (Girlcatcher, không hiểu sao lại sinh ra phân biệt chủng tộc, chia nhóm trai gái, nhưng vì đồng thanh „catcher“, đồng chủng là loài người, chỉ phân loại nam nữ nên vẫn thuộc nhóm Sơ-Ý-Là-Chỉ-Có-Chết)

Cuối cùng chỉ còn mỗi „Mộng Cầm“ là tôi phân vân mãi không biết xếp vào đâu ?

Tìm bạn

Nếu các bạn vào Google, đánh chữ „tìm bạn“ thì hơn 90% là hiện ra các link về tìm bạn „tâm tình“, tìm bạn „chat“, tìm bạn „nối vòng tay lớn“ (tôi vẫn thắc mắc không biết nối kiểu nào) v.v… Ít thấy các đăng tải „tìm bạn học cũ“. Thời buổi „liên mạng“ … nhện mà cái „in tẹc nét“ nó phổ biến đến nỗi mẹ tôi cũng có một „i meo“ riêng mà người gởi và đọc  là … tôi vì mẹ tôi không biết sử dụng máy tính, chuyện tìm bạn học cũ tưởng chừng như sẽ dễ dàng đi biết bao nhiêu. Thế mà tôi chả tìm được người bạn học cũ nào qua mạng lưới chằng chịt của thế kỷ 21 này cả.

Tôi kiếm được cô bạn thân học chung với mình ở Lê Quí Đôn như thế nào ?
Chả là, có một lần tôi qua Mẽo. Lúc đó tôi mới ra trường, tháng lương đầu tiên tôi đem ra mua một vé máy bay đi Mẽo chơi.  Để „gỡ gạc“ tôi đi thăm tất cả mọi người quen biết cho đáng tiền vé chứ lị.
Sau khi thăm chán chê tất cả họ hàng bà con quen thuộc tôi bèn nghĩ ra chuyện đi thăm … hàng xóm. Hằng hồi đó ở đối diện nhà tôi. Chúng tôi bằng tuổi nhau nên tuy không học chung trường nhưng chúng tôi cũng chơi với nhau khá thân. Và Hằng biết mặt tất cả những đứa bạn Lê Quí Đôn hay đạp xe đến nhà rủ rê tôi. Gặp Hằng kể hết chuyện đời xưa đời nay xong thì chúng tôi nhắc lại những ngày thơ ấu ở xóm nhà tôi, và Hằng chợt hỏi tôi về những đứa bạn „xe hai bánh“ của tôi. Tôi buồn bã nói rằng vì đi vượt biên tôi mất hết liên lạc với bạn học cũ. Hằng kể trong đám bạn học của tôi Hằng có gặp lại Thủy bên này. Tôi như bắt được vàng, lật đật hỏi thăm. Nhưng hy vọng vừa chớm thì đã tắt ngóm vì Hằng không có điện thoại hay địa chỉ gì cả. Chỉ biết chồng Thủy „hình như“ làm về „tư vấn địa ốc“. Với dòng máu Sherlock Homes trong người (tôi vốn thích đọc truyện trinh thám Z27), tôi từ từ dò la bằng những câu hỏi à la Dr Watson như „lần chót thấy ở đâu“, „tên họ là gì“ v.v. Thấy những câu trả lời của Hằng chả ăn nhập gì với nhau cả, tôi vặn óc nghĩ ra cách … tra vấn khác. Thế là chúng tôi lục hết các báo phát hành tại nam Cali, dò mục quảng cáo. Các bạn cứ tưởng tượng cảnh thầm vấn tại sở cảnh sát với hình ảnh một ông cảnh sát lần lượt vất lên bàn hình ảnh của những người bị tình nghi là tội phạm và hỏi nhân chứng „Phải người này không ?“ thì sẽ hình dung ra cảnh tôi thực tập làm cảnh sát ra sao. Cách này cũng chẳng đem lại một manh mối nào.

Lúc đó thì Hằng có điện thoại gọi đến. Tôi thất vọng từ giã ra về vì trời cũng đã tối. Vừa ra đến cửa tôi nghe tiếng Hằng loáng thoáng „bà có biết Thủy giờ ở đâu không ? “ Thật may mắn cho tôi là người quen của Hằng có người quen, quen biết người có biết người quen …. nói chung là có người trong đám quen biết lằng nhằng chằng bên bẹn đó biết số điện thoại của Thủy.
Tôi mừng húm gọi ngay cho Thủy và hẹn gặp nhau ở … parking vì lúc đó trời đã tối mò, tôi  biết đường nào mà đi. Tôi đứng ở parking mà hồi hộp hết sức. Mỗi lần có một chiếc xe chạy ngang là tôi lại ngóng cổ ra nhìn. Rồi thì Thủy cũng đến. Hai đứa bỡ ngỡ nhìn nhau vì trong trí tôi chỉ có hình ảnh của Thủy hồi … 16, 17 tuổi và chắc Thủy cũng vậy. Nhưng chỉ sau 1 giây ngỡ ngàng chúng tôi mừng rỡ ôm nhau ríu rít. Tôi kể Thủy nghe về việc „lục báo tìm tin“ cũng không kém phần gian nan như „tìm kim đáy bể“ thì Thủy phì cười: „Chồng tao là kỹ sư chứ địa ốc địa bàn gì“.
Về sau tôi còn gặp lại nhiều bạn học cũ khác nhưng phải nói rằng đó là một cuộc „tìm bạn“ khá hy hữu của tôi.

Hú em ai ?

Hè năm nay nhiều đứa bạn tôi dẫn gia đình đi du lịch khắp nơi, có lẽ do mấy đứa con tụi nó sàn sàn tuổi nhau, tức là ở tuổi từ giã mái trường, nên cha mẹ vớt vát chuyến du lịch chót với con trước khi chúng nó bắt đầu tập làm người lớn không còn

Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê …
(Đồng dao)

nữa rồi.

Trong đám du lịch „vớt vát“ này có một gia đình chọn Pháp, Ý với những viện bảo tàng nổi tiếng thế giới, riêng Florence mà còn có khoảng 60 cái viện bảo tàng lớn nhỏ rồi nói chi đến Paris, Rom. Đi đâu nó (bạn tôi, tạm gọi là „nó“ theo như đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba chỉ người … vắng mặt) cũng lần mò để tìm xem nước Văn-Lang ở mô tề.
Về nhà, chưa kịp hoàn hồn sau chuyến đi mòn đế giày, nó phải trả lời Email của tôi rằng „kiếm lõ con mắt mà chẳng thấy nước Văn-Lang đâu cả. Chẳng lẽ tất cả các nước trên thế giới hùa theo Trung-Quốc sửa sai lịch sử Việt-Nam, rồi cho vào viện bảo tàng của họ ? Xưa mình được dạy là nước Văn-Lang hồi 4000 trước lãnh thổ kéo dài lên đến tận phía nam sông Dương-Tử và phía nam Động-Đình-Hồ, đất đai ra đến tận biển Đông-Hải. Nhìn lại bản đồ trong các viện bảo tàng thì vào thời Xuân-Thu chỉ có 3 nước Sở, Ngô và Việt !!! Vua nước Văn-Lang là các vua họ Hùng. Nhìn trên bản đồ thấy mấy chục vua nước Sở đều là họ … Hùng. Một đằng là truyền thuyết mơ hồ vua Hùng và nước Văn-Lang mà mình cứ khư khư ôm giữ, một đằng là chứng tích các vua Hùng của nước Sở ở các viện bảo tàng và thư khố trên thế giới, bạn nghĩ cái nào đúng ?

Thảng thốt.
Vậy là sao ? Vậy là sao ? Nước của chúng ta thời khai thiên lập địa thật ra là ở mô tề ?

Nó điềm tĩnh viết Email tiếp:
Nước của chúng ta thời khai thiên lập địa là thời … Xuân-Thu xưa lắc xưa lơ, từ miền bắc của Việt-Nam ngày nay trải dài đến phía bắc Động-Đình-Hồ và sông Dương-Tử, có tên là … Sở, là nước lớn nhất, hùng mạnh nhất trong Xuân-Thu Chiến-Quốc Thất-Hùng (hay gọi tắt là Chiến-Quốc Thất-Hùng) gồm: Tần, Tề, Sở, Ngụy, Triệu, Yên và Hàn. Sở là một nước chư hầu có từ hồi Tây-Chu. Sau đó là thời Đông-Chu chia là 2 giai đoạn: Xuân -hu (Spring Autumn Period) gồm gần 100 nước chư hầu của Đông-Chu và kế tiếp là Chiến-Quốc (Warring State Period) gồm 7 nước được gọi là Chiến-Quốc Thất-Hùng. Cuối thời Chiến-Quốc Sở bị Tần diệt, rồi Tần bị Hán diệt. Xuân-Thu Chiến-Quốc chỉ thời đại Đông-Chu các nước lớn nhỏ đánh nhau để tranh ngôi bá. Bộ sử thi Đông-Chu Liệt-Quốc chính là nói về hai thời kỳ này.
Trước 1975 nhà tui có một cuốn sách cổ xưa mà tui nhớ tác giả là một học giả người Việt gốc Hoa, tên Vương Hồng Trực, không biết có họ hàng gì với Vương Hồng Sển không, viết về gốc gác của các tộc Việt, có cả một chương viết về nước Sở. Sách do đánh máy và quay ronéo nên giấy vàng khè, bìa chỉ là giấy màu hồng chữ đen đóng lại bằng chỉ cotton chứ chưa có đóng gáy như bây giờ. Sau 75 nhà tui đem đốt hết một số sách vì sợ bị bắt tội tàng trữ sách báo Mỹ Ngụy. Mà phải chờ tối mang sách lên ruộng nhà ở An-Nhơn đốt chung với lá, vừa đốt vừa tiếc. Có những cuốn sách cổ nói về các nước Sở-Ngô-Việt và vùng đất Quảng-Phúc-Chiết, tạp chí Nam-Phong, Thằng Bờm … Vài năm sau xuống chợ sách cũ ở đường Đặng thị Nhu gần ga xe lửa kiếm lại sách mình từng đốt thì kiếm không ra. Thời đó đọc cho biết nhưng không tin tổ tiên mình có nguồn gốc từ Sở-Ngô-Việt vì cứ đinh ninh nước của tổ tiên mình là Văn-Lang.

Tui nhớ cuốn sách đó nhắc đến hơn trăm tộc Việt, mà mình thường gọi chung là nhóm Bách-Việt. Bây giờ ở Việt-Nam xác nhận là có 54 tộc Việt mà mình gọi là đồng bào thiểu số, tức là 50 tộc đã biến mất, hay vẫn còn ở bên 3 tỉnh Quảng-Phúc-Chiết và bị buộc phải dùng ngôn ngữ thống nhất là tiếng Quan-Thoại, tức là tiếng Mãn-Châu, Mandarin (關 = quan = cửa ải = bên kia biên giới, 話 = Thoại = ngôn ngữ, Quan-Thoại = ngôn ngữ phía bên kia biên giới, vì Mãn-Châu lúc xưa là Đại-Kim, rồi Đại-Thanh, phía bên kia biên giới của nhà Minh). Còn bên Tàu xác nhận họ có 50 tộc thiểu số không phải tộc Hán, trong đó đa số là các tộc Yue (Việt).
Nếu cộng 50 tộc bên Tàu và 54 tộc Việt ở bên Việt-Nam thì vừa vặn trùng hợp với con số mà cụ Vương Hồng Trực ước tính. Đồng bào sắc tộc ở Việt-Nam nhiều lắm: Thái, Mèo, Mường, H’Mông, Mông, Lô-Lô, Nùng, Ê-Đê, Xơ-Đan, Cơ-Tu, Gia-Rai, Hà-Nhì, Ba-Na, Chơ-Ro … gồm hai chủng nguyên thủy là Thái và Việt. Mình gọi dân mình là người Kinh để phân biệt với người Thượng là đồng bào Việt thiểu số ở cao nguyên. Chủng Thái có nhiều tiểu chủng Thái, đa số là các chủng đẹp, một số nhỏ có bề ngoài không đẹp. Chủng Việt cũng có nhiều tiểu chủng, và ngược lại với chủng Thái, đa số có hình dạng không bắt mắt nhưng thiểu số thì đẹp.
Người Kinh, theo ý kiến của cụ Vương Hồng Trực, là sự kết hợp giữa các tiểu chủng đẹp của Thái và Việt. Đại khái những ý kiến có vẻ như trái ngược những gì mình học trong trường, và có lẽ cũng chính vì vậy mà chả có nhà xuất bản nào nhận đăng, cho nên cụ Vương Hồng Trực phải tự đánh máy quay ronéo, tự đóng bìa phát hành (cái này cũng do mấy ông bạn của ba tui đoán chứ thực tế như thế nào thì mình cũng không biết được). Tuy nhiên trải qua mấy ngàn năm các chủng Việt ở trên cao nguyên bây giờ cũng đẹp dần ra, giống như đám con nít thế hệ sau của mình đẹp mê hồn, nếu đem so với ông bà mình chừng hơn 100 năm trước khác nhau một trời một vực.
Bây giờ ra nước ngoài có dịp tìm hiểu và đi viếng các viện bảo tàng nổi tiếng thì tìm hoài chẳng thấy nước Văn-Lang mà chỉ thấy Sở-Ngô-Việt. Mà nói thiệt, nếu thật sự tổ tiên mình là Sở-Ngô-Việt thì cũng chả có gì xấu cả.“

An ủi. Tổ tiên mà xấu thì làm sao có được hậu duệ đẹp như mình ?

Nó đánh máy tiếp:
Đúng đó. Tui nhớ trong cuốn của cụ Vương Hồng Trực có đề cập đến người trung nguyên như Tề, Ngụy, Yên Hàn … thích mặc y phục màu trắng, giống Tiểu Long Nữ trong Thần Điêu Đại Hiệp (chú thích: bộ truyện chưởng mà „tôi“, không phải „nó“, khoái nhất trong số các truyện của Kim Dung). Tần ở tuốt trong Ba-Thục thích mặc nâu. Sở và Triệu thích mặc vải đen. Riêng dân Sở lại thích dệt vải thổ cẩm sặc sỡ, rồi may lên y phục các miếng thổ cẩm đó như là fashion design, United Colors of … Benetton thời nay, cho nên mới bị người Tề ở trung nguyên chê là mặc „bách kết y“ (ráp nhiều miếng vô) hay „tạp y“ (nhà quê, ăn mặc không thanh tao, xin xem bài Ba Tàu và Câu-Tiễn-Kiếm). Người trung nguyên thích mặc màu trắng, có thể là vì mặc áo dệt từ tơ tằm mà tơ màu trắng rất khó nhuộm màu, và vào thời đó kỹ thuật nhuộm tơ còn phôi thai, cho nên không thích mặc màu trắng cũng phải mặc vì … Tiểu Long Nữ chưa xuống núi học nghề nhuộm.
Người Thái và Việt mặc vải xúc, dệt từ sợi cây gạo và các cây nhiệt đới rồi nhuộm chàm (nhuộm chàm màu đen để tăng độ bền cho vải), các màu nhuộm là khoáng tố trong lòng đất (khi họ rèn đồng thau) và cây cỏ. Rồi họ xăm mình, nhuộm răng đen, móng tay móng chân cũng nhuộm, nhuộm tứ lung tung. Thổ cẩm là những tấm vải dệt đủ hình hoa văn, đủ màu sắc, dệt rất công phu.  Họ đem thổ cẩm may đắp lên viền ống tay, viền váy, bâu áo, xà cạ …. để hình thành những bộ trang phục rực rỡ, cầu kỳ thiết kế theo tín ngưỡng văn hoá dòng tộc của họ. Cho nên hình thành một bộ trang phục mắc tiền chứ không phải rẻ. Vào thời đó, Sở là nước có cương thổ rộng lớn nhất trong Thất-Hùng, dân giàu có, còn Tần thì nghèo kinh khủng, cho nên mới có câu: Làm quan nước Tần còn thua làm dân nước Sở (Tần Quan Khả Bì Sở Dân). Giờ nhìn lại y phục của đồng bào thiểu số mới thấy quần áo của họ nền đen là chính, còn thổ cẩm viền ống tay ống chân là may vào thêm cho sặc sỡ. Sở dĩ các sắc tộc đó còn giữ được trang phục truyền thống vì có tín ngưỡng văn hóa trên trang phục. Khăn, nón, áo, váy, quần và các hoa văn trang trí trên thổ cẩm đều mang những ý nghĩa tín ngưỡng trong văn hóa dân tộc.  Trong số này dân tộc Mông, H’Mông, Lô Lô và Hà Nhì ăn mặc lòe loẹt nhất. Có lẽ các tộc này là đại diện cho dân Sở ngày xưa.

Trẻ em người H’Mông

Tối nằm vắt tay lên trán trăn trở với câu hỏi „Hú em ai ?“. Tôi là em của ai ? Hậu duệ của ai ? Gốc gác từ đâu ra ?
Who am I ? Who am I ? Who am I ?
Trong giấc mơ thấy giấy khai sinh của tôi với tên „Sở Dục Hùng“ được trưng trong tủ kiếng tại viện bảo tàng Louvre, bên cạnh Mona Lisa.

Những người bạn vĩnh cữu

Hãy dành thời gian cho bạn của ta vì nếu không ta sẽ mất bạn theo thời gian.

Tôi học trung học ở Đức và đương nhiên có bạn học Đức. Lâu lâu lại kêu gọi họp mặt kỷ niệm 10, 20, 25 năm đậu Tú tài, cụng ly bia – tôi không biết uống rượu nên đành cụng Cola với chúng nó vậy – rồi tán gẫu về tình hình chính trị hay tào lao thời tiết xấu đẹp. Xong chia tay ai về nhà nấy. Chẳng thấy nhớ nhung gì nhau cả.

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam khác với Đức. Học trò học chung lớp với nhau từ lớp một cho đến lúc tốt nghiệp trung học nên thân thiết hơn do có nhiều kỷ niệm chung như cùng nhớ thầy giáo này khó, cô giáo kia dữ, cùng chung nỗi lo mỗi kỳ thi, nhớ thằng bạn này phá, con bạn kia nói chuyện nhiều trong lớp hay đơn giản cùng nhớ về cây phượng vĩ đỏ thắm góc sân trường mỗi độ hè về.Sau 1975 bạn bè chia ly tứ xứ. Đa số đi vượt biên rồi định cư ở Mỹ, Gia Nã Đại, Âu châu, Úc châu. Đứa kẹt lại Việt Nam. Đứa mất mạng trên đường tìm tự do.
Rồi Internet, Email, Facebook dần dần giúp bạn bè tìm lại nhau, nhắc ân oán xưa, ôn kỷ niệm cũ. Ngày gặp lại hồi hộp không biết bạn mình giờ nhìn ra sao, còn nhớ mình hay không ? Có nhiều người đi vào đời ta nhưng chỉ vài người để lại dấu ấn làm ta phải hồi hộp. Đó chính là những người bạn vĩnh cữu Friends-Forever.

Tôi cận thị nặng nên đọc câu ngạn ngữ này thấy thấm thía vô cùng: Bạn bè như kính áp tròng, mất nó vĩnh viễn không tìm lại được, vì vậy phải biết giữ gìn nó. Điều này có nghĩa là tôi sẽ phải đi du lịch nhiều hơn nữa vì bạn tôi sống rải rác ở khắp nơi trên thế giới.

Friends forever

Tiếng Việt

Nimm dir Zeit für deine Freunde, ansonsten nimmt die Zeit dir deine Freunde.

Ich bin hier zur Schule gegangen und habe deutsche Schulfreunde. Aber man trifft sich vielleicht zum 10-, 20-, 25-jährigen Jubiläum, redet über die Politik oder über das Wetter, trinkt ein Glas Bier zusammen (ich eher Cola, da ich keinen Alkohol vertrage) und verabschiedet sich. Keine tiefe Bindungen.

Die Schulbildung in Vietnam ist etwas anders. Man bleibt – wenn nicht dazwischen kommt – von der ersten Klasse bis zum Abitur mit denselben Mitschülern und Mitschülerinnen zusammen. Auf dieser Weise entstehen Freundschaften, die über Jahre andauern, weil man die gleichen Erinnerungen hat: strenge Lehrer oder Lehrerin, alberne Mitschüler, Prüfungsängste oder einfach den Flammenbaum (phượng vĩ) auf dem Schulhof, der mit seinen roten Blüten die Sommerferien ankündigte.

Nach 1975 trennten sich unsere Wege. Die meistens sind geflüchtet und leben jetzt in Amerika, Canada, Europa oder Australien. Einige blieben in Vietnam. Viele haben bei der Flucht ihr Leben verloren.
Mit Internet, Email, Facebook wurden die Kontakte nach und nach wieder hergestellt, alte Freundschaften wiederbelebt, verblasste Erinnerungen wachgerüttelt. Herzklopfen beim ersten Wiedersehen nach so vielen Jahren: wie sieht meine Freundin jetzt aus, würdet sie mich wieder erkennen? Viele Menschen treten in dein Leben ein, aber nur ein paar besondere Menschen hinterlassen auch Spuren in deinem Herzen und verursachen Herzklopfen. Das sind die Friends-Forever.

Ich bin kurzsichtig, daher finde ich diesen Spruch besonders passend: Freunde sind wie Kontaktlinsen – Wenn man sie verliert, findet man sie nie wieder, darum pflege deine Freundschaft. Ich werde diesen Rat befolgen, das bedeutet ich werde öfter verreisen müssen, denn die meistens meiner Freunde leben ja im Ausland!!!

Tự vệ à la „Trăm-Quan-Tiền-Sáu-Cô“

Lần cuối tôi đến San Francisco là cách đây 10 năm. Lúc đó tá túc nhà ông anh chồng ở Alameda. Nay ổng dọn về Phoenix nên chúng tôi phải thuê khách sạn tại SOMA (South of Market, gần Downtown), hoàn toàn không biết khu này ra sao, có an ninh hay không.
Khách sạn Minna nằm ngay trung tâm thành phố, với giá 85 đô-la một đêm, tương đối rẻ do tôi chộp được khuyến mãi này trước đó hơn 6 tháng. Tuy phải xài chung phòng tắm và nhà vệ sinh nhưng rất sạch sẽ, còn khá hơn nhiều nhà trọ Ba-Sao-Trở-Lên. Chúng tôi đi chơi cả ngày, chỉ tối về ngủ, đâu cần mướn khách sạn xịn mà giá đậu xe một ngày hơn 50 đô-la ?
Chính ra ở thành phố „Trăm-Quan-Tiên-Sáu-Cô“ (cents francs six … mademoiselles) này không cần có xe hơi. Chỉ tổ tốn tiền đậu xe mà kiếm chỗ đậu cũng mỏi mòn con mắt, nhất là buổi tối mà phải đọc bảng lưu thông, toàn chữ là chữ, chữ màu đỏ, màu xanh lục, màu xanh lam, thứ mấy từ mấy giờ tới mấy giờ cấm đậu vì cản trở xe quét đường, lúc nào được đậu, đậu tối đa bao nhiêu tiếng v.v. Đọc bảng giá để trả tiền đậu xe cũng đòi hỏi trí thông minh tối thiểu vì ở Mỹ tiếng Đức là một ngôn ngữ không hiện hữu và đồng hồ đậu xe không có mục „Xin vui lòng chọn ngôn ngữ bạn muốn xử dụng“.

Chúng tôi lưu lại San Francisco 3 ngày và phải giải một bài toán khó: Để-Xe-Mướn-Ở-Đâu-Đây-Hở-Trời ? Cạnh Civic Center có nhà đậu xe ngầm với giá 29 đô-la một ngày. Rẻ mạt rồi. Sau nhiều ngày vật lộn với những con số chúng tôi „chỉ“ tốn tổng cộng 62 đô-la tiền đậu xe.

Với vé 1 ngày (21 đô-la một người) chúng tôi dùng phương tiện giao thông công cộng thăm viếng gần hết các danh lam thắng cảnh của thành phố „dốc ngược“:

Xe cáp dây nổi tiếng thế giới:

Con đường uốn vòng „Lombard Street“ lạ lẫm, dễ thương với những giàn bông giấy, bông tú cầu đủ màu:

Leo đốc đường Lombard

Phố Tàu to nhất phương Tây:

Đường Union, Fillmore với cửa tiệm be bé, xinh xinh:

Buổi tối chạy ra khu Ghirardelli Square rực rỡ đèn hoa nhưng chỉ đứng ngoài ngó vô vì giờ đó mà vào thưởng thức ly kem „ngồi“ (tức là không cầm que kem vừa đứng vừa liếm kem), giá „trên trời“ thì … phí tiền quá !

Ăn đồ Ý, làm tươi ngay tại chỗ, rẻ mà lại ngon:

The Italian Homemade Company Restaurant, 1919 Union St, San Francisco

Chiếc xe hơi mướn đã đưa tôi đến những điểm không thể không xem qua của San Francisco:

Fisherman’s Wharf: ồn ào nhộp nhịp. Ăn ở tiệm Joe’s Crab Shack, không đắt lắm, chỉ tội mấy cô bồi bàn hơi chậm chạp và hình như bị bệnh lẫn cấp một.

Tiếc là không đi thăm nhà tù Alcatraz được vì vé đã bán sạch cho tới tận tháng sau rồi. Thôi đành tự an ủi là tiết kiệm 140 đô-la.

Và đương nhiên lái xe chạy đến ngắm biểu tượng của San francisco: cầu Golden Gate. Phải đi tham quan lúc sáng sớm mới mong kiếm được chỗ đậu xe.

Dừng chân ở Cliff-House nhâm nhi ly cà phê 4,50 đô-la, rẻ chán để được ngắm Thái Bình Dương vỗ sóng trắng xóa lên bãi cát vàng êm đềm, chợt một thoáng thấy lòng bình yên lạ.

Trở lại chuyện khách sạn Minna nằm ở phía nam đường Market Street, gần Civic Center, sát phía bắc khu Tenderloin. Ngay cả ban ngày cũng thấy nhiều người vô gia cư và người mắc bệnh tâm thần vừa đi vừa lẩm bẩm hay la lối um xùm ngoài đường. Phản ứng tự nhiên là chúng tôi bước thật nhanh, đi dính chùm với nhau và cố gắng né xa họ.
Từng ngày qua tôi quen dần với những hình ảnh không mấy đẹp của thành phố này, bớt cảm thấy sợ hãi và nghiệm ra một cách phòng thân mới: không cần bình xịt hơi cay bỏ túi hay súng dí điện, chỉ cần giả bộ như mình là người điên điên dại dại, lầu bầu hay la hét rùm beng ngoài đường là thiên hạ tự động tránh xa ba thước.
Một cách tự vệ tuyệt vời à la „Trăm-Quan-Tiền-Sáu-Cô“. Phi vũ khí. Còn có hiệu nghiệm hay không thì tôi không biết vì chưa có dịp làm thử. Tôi chỉ là du khách.

Selbstverteidigung à la San Francisco

Tiếng Việt

Wir waren vor genau 10 Jahren in San Francisco. Damals haben wir bei unserem Schwager in Alameda übernachtet, der inzwischen nach Phoenix umgezogen ist. So sind wir dieses Mal gezwungen. nach einer Unterkunft in San Franciso zu suchen, und zwar in SOMA (South of Market, nähe Downtown), ohne zu ahnen, was uns dort erwartete.

Das Minna-Hotel liegt relativ zentral und für ca. 85 US-Dollar die Nacht ein Superangebot, das wir vor mehr als 6 Monate zufällig entdeckt haben. Zwar musste man den Waschraum und die Toilette auf dem Gang mit anderen Hotelgästen teilen, dafür waren sie tip top, sogar sauberer als in manchen Mehr-Als-Zwei-Sternen-Hotels. Wir waren den ganzen Tag nur unterwegs, wozu überteuerte Unterkunft mit Parkgebühr von mindestens 50 USD am Tag?

Übrigens ist man in San Francisco ohne Auto am besten aufgehoben. Nicht nur wegen den Parkgebühren. Es war nervenberaubend, eine Lücke zum Abstellen seines Vehikels zu finden, besonders über Nacht, da man die Schilder genau lesen musste, um zu wissen, wann der Turnus für Strassenreinigung ist, ab wann es kostenpflichtig ist, und wie lange man seinen Wagen dort stehen lassen darf. Auch das Bezahlen an der Parkuhr erfortderte eine Mindesquote an Intelligenz und Menschensverstand. Deutsch ist in Amerika eine völlig unbekannte Sprache und an den Automaten gibt es partout keine Menüauswahl für die Ländersprache.

Wir waren 3 Nächte dort, d.h. wohin mit dem Mietwagen? Am Civic Center kostete es 29 USD am Tag, billiger gab es nicht. Wir haben mit Not und Mühe geschafft, für 3 Tage  insgesamt „nur“ 62 USD für das Parken auszugeben. Mit dem Day-Pass (21 USD pro Nase) haben wir an einem vollen Tag die Sehenswürdigkeiten von San Francisco abgeklappert:

Die weltberühmte „Cable Cars“:

Die weltberühmte Serpentine „Lombard Street“:

Lombard Street, walking uphill

Das größte Chinatown in der Westlichen Welt:

Die „Street Shops“ ( Union, Fillmore):

Am spät Abend ein Blitzbesuch bei Ghirardelli Square. Das Eis war uns zu teuer, um sich dort am Tisch zu verweilen. Unsere Tochter konnte zum Eis jedoch nicht Nein sagen.

Und vieles mehr, was das Essen betraf.

The Italian Homemade Company Restaurant, 1919 Union St, San Francisco

Alles andere waren Car-Tour All-Inclusive.

Fisherman’s Wharf: kunterbuntes Leben. Essen bei Joe’s Crab Shack war nicht überteuert und lecker, nur die Bedienung etwas langsam und vergeßlich.

Pier 39

Alcatraz musste leider ausfallen. Die Tour war ein Monat im voraus ausgebucht. Einziger Trost: 140 Dollars gespart.

Und natürlich das Wahrzeichen der Stadt: Die Golden Gate Brücke am früh Morgen wegen Parkmöglichkeit, versteht sich.
Anchließend Kaffee-Pause bei Cliff-House, eigentlich nur wegen der Aussicht, denn die Speisekarte war alles anderes als günstig.

Aussicht vom Cliff-House Bistro

Ach ja. Zurück zum Minna-Hotel. Das Hotel liegt etwas südlich der Market Street, in der Nähe des Civic Center, wo sich der Stadtteil Tenderloin nördlich davon befindet. Auch tagsüber sahen wir in der nähen Umgebung nicht nur Homeless Menschen, sondern geistig gestörten Obdachlosen, die ziellos und murmelnd oder schreiend durch die Strassen liefen. Wir machten immer einen großen Bogen, blieben dicht beieinander und gingen im Eilschritt. Nach und nach gewöhnten wir uns an dieses Stadtbild und endeckten eine neue Art der Selbtverteidigung: kein Pfefferspray oder Elektroschocker, es reicht anscheinend, wenn man so tut als ob man ein Irrer ist, vor sich hin Unsinn murmelt oder schreit um sich herum. So bleiben die anderen einfach mindesten fünf Meter von einem Weg. Zumindest taten wir so. Fünf Meter weg bleiben, meine ich.
Viva die Selbstverteidigung à la San Francisco. Waffenlos. Ob sie erfolgreich ist konnten wir leider nicht verifizieren. Wir waren nur als Touristen da.